Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT C Nghĩa Hưng – Nam Định trong giai đoạn hiện nay - Pdf 34

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPTC NGHĨA HƯNG
------------------------------------

SÁNG KIẾN DỰ THI CẤP TỈNH
TÊN SÁNG KIẾN:

“Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT C
Nghĩa Hưng – Nam Định trong giai đoạn hiện nay ”

Tác giả: Nguyễn Thị Mến
Trình độ chuyên môn: Cử nhân sư phạm
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THPT C Nghĩa Hưng
Nam Định

NGHĨA HƯNG, THÁNG 5 NĂM 2015

1


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPTC
Nghĩa Hưng – Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
2. Lĩnh vực áp dung sáng kiến: Đổi mới quản lý công tác giáo dục đạo đức học
sinh THPT
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2013 -2014.
4. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Mến
Năm sinh: 1973
Nơi thường trú: Khu Đông Bình – Thị trấn Rạng Đông – Nghĩa Hưng

xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên,
đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong điều kiện cuộc sống hiện nay, xã hội đang có sự chuyển biến mạnh
mẽ về mọi mặt. Mặt trái của cơ chế thị trường, sự khủng hoảng kinh tế, tốc độ đô
thị hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin… đang ảnh hưởng và tác động rất
mạnh đến tư tưởng, lối sống, hoài bão của một bộ phận không nhỏ thanh thiếu
niên. Các tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào học đường, bạo lực học đường đang
có dấu hiệu gia tăng, nhận thức về đạo đức của một bộ phận học sinh có phần lệch
lạc. Vấn đề tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị sống, giáo dục kỹ năng
sống, giáo dục những giá trị nhân văn lòng nhân ái cho thế hệ trẻ ngày nay vì thế
đang được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm.
Thực tế ở trường THPT C Nghĩa Hưng – Nam Định công tác giáo dục đạo
đức học sinh những năm gần đây luôn được nhà trường xác định là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Với những cố gắng trong quản lý chỉ đạo
của BGH và sự nỗ lực của CBGV- HS, trong những năm qua nhà trường đã duy
trì và giữ vững được nề nếp, tỷ lệ hạnh kiểm khá tốt hàng năm của nhà trường đạt
kết quả cao và năm sau luôn cao hơn năm trước. Song công tác quản lý giáo dục
đạo đức của nhà trường vẫn còn có những mặt chưa khoa học. Các biện pháp mà
trước nay nhà trường áp dụng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực tế, chưa theo kịp
những đổi thay của xã hội hiện nay, hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa có sự
phối hợp đồng bộ giữa các đoàn thể, các tổ chức xã hội, cha mẹ học sinh và các
thành viên trong nhà trường, chế độ động viên khen thưởng còn hạn chế, công tác
3


xã hội hóa chưa tốt. Do đó việc đánh giá thực trạng và tìm ra được các biện pháp
quản lý để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức học sinh là một vấn
đề cấp bách, cần thiết.
Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan nêu trên, với cương vị là
phó hiệu trưởng quản lý công tác đức dục của nhà trường, tôi mạnh dạn đưa ra



B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm phạm trù đạo đức
* Khái niệm giáo dục:
Đó là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch do các cơ quan giáo
dục tiến hành nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo theo yêu cầu của xã hội và sự hoàn
thiện nhân cách của từng cá nhân.
* Khái niệm đạo đức:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, tuy nhiên có thể hiểu khái
niệm đạo đức dưới hai góc độ:
+ Góc độ xã hội:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, được phản ánh dưới dạng
những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh, hoặc chi phối hành vi của con
người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã
hội, giữa con người với nhau và với chính bản thân mình.
+ Góc độ cá nhân:
Đạo đức là những phẩm chất, nhân cách con người phản ánh ý thức, tình
cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên, với xã hội, với người khác và với chính bản thân mình.
Quá trình hình thành và phát triển, đạo đức của con người là quá trình tác
động qua lại giữa xã hội và cá nhân để chuyển hoá những nguyên tắc, yêu cầu,
chuẩn mực, giá trị đạo đức - xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm
cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức, công dân và đáp ứng yêu cầu của xã
hội.
2. Quá trình giáo dục đạo đức:
Là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến những
nhu cầu chuẩn mực, giá trị đạo đức theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm
chất, giá trị của cá nhân, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và

c. Nhiệm vụ của quá trình giáo dục đạo đức:
Phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân; hình thành và phát triển ý thức đạo
đức; rèn luyện ý tí, hành vi, thói quen và cách ứng xử đạo đức; phát triển các giá
trị đạo đức cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và
thời đại.
Những chức năng, nhiệm vụ trên không chỉ định hướng cho các hoạt động
giáo dục đạo đức mà còn định hướng cho hoạt động dạy học nói chung, dạy môn
đạo đức (môn GDCD) nói riêng.
Với tư cách là người quản lý, trước hết cần phải hiểu biết một cách sâu sắc
những vấn đề chung của quá trình giáo dục đạo đức. Từ đó mới có những định
hướng, mục tiêu sát thực, xây dựng được những chương trình kế hoạch khả thi và
có những biện pháp tổ chức, chỉ đạo thích hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả
của quản lý quá trình giáo dục nói chung, quá trình giáo dục đạo đức nói riêng.
4. Những đặc điểm của quá trình giáo dục đạo đức:
Quá trình giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng có những đặc
điểm nổi bật sau đây:
6


- Có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình dạy học trên lớp và hoạt động giáo
dục ngoài giờ.
- Có định hướng thống nhất các yêu cầu, mục đích giáo dục giữa các tổ
chức giáo dục trong và ngoài nhà trường.
- Tính biện chứng, phức tạp trong quá trình phát triển, biến đổi về nhân
cách của học sinh về mặt đức dục.
- Tính lâu dài của quá trình hình thành, phát triển các phẩm chất đạo đức.
- Tính đột biến và khả năng biến đổi.
- Phát triển thông qua hoạt động và giao lưu tập thể.
- Tính cá thể hóa cao.
- Chứa nhiều mâu thuẫn.

thành với lý tưởng CNXH và CNCS; yêu nước XHCN theo tinh thần quốc tế vô
sản; yêu hòa bình, tự hào dân tộc; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc; biết ơn các bậc tiên
liệt có công dựng nước và giữ nước; tin yêu Đảng CSVN và kính yêu Bác Hồ.
- Quan hệ cá nhân với lao động, đó là phẩm chất yêu lao động, chăm chỉ
học tập, say mê khoa học. quý trọng người lao động, thành quả lao động và các di
sản văn hóa…
- Quan hệ cá nhân với bản thân, đó là phẩm chất tự trọng, thật thà, giản dị,
khiêm tốn, kiên trì, dũng cảm, lạc quan…
- Quan hệ cá nhân với những người ruột thịt, bạn bè, đồng chí đó là các
phẩm chất thương yêu, quý trọng, cảm thông đoàn kết, tương trợ…
- Giáo dục đạo đức gia đình: gia đình là tế bào của xã hội, là nơi sinh ra và
lớn lên của con người, là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân. Quan hệ gia
đình là quan hệ huyết thống có sự gắn bó bền vững. vì vậy phẩm chất cần có là sự
tôn kính, lễ độ, khiêm tốn, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cảm thông nhường nhịn,
chia sẻ giúp đỡ vị tha.
- Giáo dục tình bạn, tình yêu chân chính lành mạnh, giúp nhau cùng tiến bộ
và có cùng mục đích lý tưởng.
II. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT
C Nghĩa Hưng (từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014– 2015).
1. Khái quát về tình hình nhà trường.
Trường THPT C Nghĩa Hưng nằm ở khu Đông Bình – Thị trấn Rạng Đông
– Huyện Nghĩa Hưng – Tỉnh Nam Định. Khu vực trường đóng chân là một thị
trấn nhỏ sát biển, an ninh địa bàn tương đối ổn định, điều kiện kinh tế của nhân
dân vẫn còn nhiều khó khăn, người dân địa phương chủ yếu sống bằng nghề trồng
lúa, làm muối, một số khai thác thủy hải sản.
Trường được thành lập năm 1978 theo quyết định số 602-TC/QĐ ngày 12
tháng 8 năm 1978 của UBND tỉnh Hà Nam Ninh với tên gọi là trường THPT vừa
học vừa làm Nghĩa Hưng. Mô hình của trường là trường vừa học vừa làm gắn với
một Nông trường quốc doanh. Năm học đầu tiên (1978 – 1979) trường có 3 lớp
10 với 198 học sinh (nhờ trường THPT B Nghĩa Hưng tuyển giúp) có tổng số

nhà trường đã đạt kết quả năm học sau luôn cao hơn năm học trước, thường đạt
hoặc vượt chỉ tiêu đăng kí từ đầu năm học. Do nắm được đặc điểm, tình hình của
học sinh khu vực, những tác động tiêu cực của xã hội hiện đại đến tuổi trẻ học
đường, Chi bộ và Ban giám hiệu đã chú trọng chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức
cho học sinh.
Nhà trường đã thành lập ban chỉ đạo đức dục, đồng chí Hiệu trưởng làm
trưởng ban, đồng chí phó hiệu trưởng phụ trách công tác đức dục làm phó ban
thường trực, đồng chí bí thư Đoàn trường làm phó ban, các đồng chí trong thường
vụ Đoàn trường, khối trưởng khối chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm và trưởng ban
ban đại diện CMHS làm ủy viên.
9


Hàng năm Ban đức dục đã chỉ đạo và tổ chức cho cán bộ giáo viên, công
nhân viên và học sinh học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tổ chức các cuộc thi thi tìm hiểu về Đảng, Bác,
anh bộ đội cụ Hồ, phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội… do các cấp các
ngành phát động. Kết hợp với công an huyện nói chuyện về ATGT, phòng chống
tệ nạn xã hội và tổ chức viết cam kết thực hiện ATGT và nói không với ma túy.
Nhân dịp kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 nhà trường tổ chức nói chuyện
về truyền thống “tôn sư trọng đạo”. “tiên học lễ hậu học văn”. Nhà trường mời
ban dân số KHHGĐ của huyện nói chuyện về sức khỏe sinh sản vị thành niên…
Thông qua các hoạt động đó, chất lượng giáo dục đạo đức ngày càng có
chuyển biến, tỷ lệ học sinh bị kỷ luật và xếp loại hạnh kiểm trung bình yếu giảm.
Bảng: Tổng hợp kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh trường THPTC
Nghĩa Hưng (từ năm học 2010 -2011 đến năm học 2014-2015):

TT Năm học

TS

1196

Kết quả xếp loại hanh kiểm
Tốt
Khá
TB
Yếu
976
76,6%
1075
71,5%
1005
74,4%
966
76,8%
1042
87,1%

229
18%
337
22,4%
245
18,1%
240
19,1%
124
10,4%

52

1,0%
5
0,4%

HS bỏ
học
8
0,6%
10
0,7%
9
0,7%
5
0,4%
4
0,3%

Bảng số liệu trên cho thấy công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà
trường trong năm năm gần đây đã có sự tiến bộ, học sinh có hạnh hiểm khá tốt
tăng theo mỗi năm, số học sinh sau khi vi phạm khuyết điểm phải kỷ luật được
giáo dục đã có sự tiến bộ rõ rệt ở học kỳ II hàng năm, đặc biệt hai năm học 2013 2014 và 2014 - 2015, chứng tỏ công tác quản lý chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường
đã có sự chú trọng và sát thực, đồng thời cũng nói lên trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, năng lực quản lý giáo dục học sinh của đội ngũ CBGV của nhà trường đã khá
vững vàng.
10


Tuy nhiên, vẫn còn những học sinh xếp hạnh kiểm trung bình, yếu và bị kỷ
luật; số lượng học sinh thực sự chăm ngoan, sống có lý tưởng, ước mơ hoài bão
cao đẹp có tính lan tỏa chưa nhiều; tỷ lệ học sinh bỏ học còn cao.Trong những

dục của nhà trường, do đó đối với HS đa số các em đều có động cơ học tập đúng
đắn , có chí hướng, tích cực tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh được thống nhất từ Ban chỉ đạo
đức dục nhà trường đến đội ngũ GVCN và đến trực tiếp giáo viên giảng dạy nhân
11


viên nhà trường, được công khai và lên lịch chi tiết hàng tuần, hàng tháng, hàng
kỳ và có sự điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường.
Nhà trường hiện có được đội ngũ GVCN giỏi về chuyên môn nghiệp vụ,
nhiệt tình, tâm huyết và có trách nhiệm cao; có đội ngũ GV trẻ làm công tác Đoàn
năng động, nhiệt huyết, sáng tạo, xung kích đi đầu trong công tác quản lý nề nếp
học sinh.
Nhà trường có quy chế đánh giá, xếp loại thi đua về thực hiện nề nếp, kỷ
cương đối với các tập thể khối lớp, đối với GVCN, được thực hiện chặt chẽ công
khai hàng ngày, hàng tuần. Quy định các buổi phải lên lớp đầu giờ và thời gian
sinh hoạt lớp của GVCN. Tất cả đều được quy về điểm số để tính đánh giá nên rất
rõ ràng và chính xác. Cuối kỳ, cuối năm có sơ kết khen thưởng, tạo được động lực
phấn đấu vươn lên của các tập thể và cá nhân trong toàn trường.
Nhà trường thường xuyên tổ chức các hội thảo về công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh và công tác GVCN, để GV có dịp bày tỏ, trao đổi với nhau
những trăn trở cũng như những kinh nghiệm của mình.
BGH thường xuyên thăm lớp, dự giờ sinh hoạt lớp, giờ ngoại khóa, kiểm
tra kế hoạch và giáo án sinh hoạt lớp, trao đổi góp ý giúp giáo viên chủ nhiệm
nâng cao hiệu quả các giờ sinh hoạt lớp. Nhà trường tạo đủ điều kiện về cơ sở vật
chất như: Phòng học, phòng hội thảo, thiết bị và đồ dùng cho các buổi hội thảo,
các buổi sinh hoạt tập thể, các hoạt động ngoài giờ lên lớp hay ngoại khóa của
HS, GV.
Nhà trường thường xuyên phối kết hợp với Ban đại diện CMHS để trao đổi
kịp thời tình hình học sinh của nhà trường, kết hợp với hội khuyến học của nhà

- Sự phối hợp giữa các đoàn thể, lực lượng giáo dục trong nhà trường chưa
được thường xuyên, mang tính thời điểm nhiều.
- Sự kết hợp giữa ba môi trường giáo dục: nhà trường - gia đình - xã hội
chưa thường xuyên và chưa thực sự hiệu quả.
- Tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm vẫn còn ở mức cao. Vẫn còn những học
sinh bị kỷ luật.
- Công tác khen thưởng trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh còn
hạn chế.
* Nguyên nhân hạn chế:
- Nguyên nhân từ phía gia đình:
Vấn đề “cơm áo gạo tiền” là một trong các nguyên nhân làm ảnh hưởng sâu
sắc đến việc GDĐĐ con cái của các bậc cha mẹ. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh
tế, việc mưu sinh kiếm sống đặc biệt ở vùng nông thôn gặp không ít khó khăn,
nhiều cha mẹ phải bôn ba lo cuộc sống nên sao nhãng việc giáo dục con cái.
Ảnh hưởng của cơ chế thị trường, nhiều gia đình mải làm kinh tế, kinh
doanh buôn bán làm giàu… đồng nghĩa với việc cha mẹ ít có thời gian quan tâm
đến việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng của con cái. Có những gia đình coi trọng
làm ra của cái vật chất nên coi nhẹ việc học của con em.
Sự khó khăn suy thoái về kinh tế nói chung, nhiều công ty xí nghiệp phải
giải thể, sáp nhập dẫn tới nhiều sinh viên ra trường khó khăn trong tìm việc làm
đã ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư cho việc học hành của con cái của không ít cha
mẹ học sinh.
13


Có những gia đình chưa có sự quan tâm đúng mức tới con cái, thả nổi con
cái để chúng chơi và học tự do, khoán trắng việc giáo dục con cái cho nhà trường.
Một số PHHS có nhận thức phiến diện, lệch lạc hoặc thiếu kiến thức,
phương pháp nuôi dạy con cái. Đặc biệt nhà trường lại đóng trên địa bàn thuần
nông xa trung tâm, mặt bằng dân trí còn thấp, tỷ lệ người dân theo đạo Thiên chúa

biện pháp hành chính, lạm dụng quyền lực, chưa lắng nghe các em trình bày
14


nguyện vọng, hoàn cảnh, lý do… chưa tìm hiểu kỹ hoàn cảnh, tính cách, cá tính
từng học sinh. Đôi khi dùng ngôn ngữ thiếu tế nhị, xúc phạm đến nhân cách của
học sinh. Thiếu tình thương và cảm thông với học sinh nhất là với những em có
hoàn cảnh éo le, thiếu tình cảm gia đình.
Một vài giáo viên còn thiếu gương mẫu, chưa mô phạm trong quan hệ giáo
dục. Đôi khi việc đánh giá của giáo viên còn thiếu công bằng, thiếu khách quan
thiên vị hoặc định kiến.
Đội ngũ giáo viên của nhà trường chưa đều tay trong quản lý giáo dục học
sinh, nhiều GV trẻ nhiệt tình nhưng thiếu kinh nghiệm quản lý, đôi khi không
nắm vững đặc điểm tâm lý và điều kiện sống của học sinh vùng nông thôn; nhân
sự của nhà trường thường xuyên biến động (do chuyển công tác, nghỉ thai sản)
nên việc phải thay GVCN trong khoá học gây không ít khó khăn trong công tác
giáo dục đạo đức.
Địa điểm trường nằm gần chợ, gần bến xe, gần khu sinh thái biển, gần các
tụ điểm quán xá, nhà nghỉ nên hệ thống “dịch vụ ăn theo” như hàng quán, hiệu
cầm đồ, quán chát, lô đề… cũng thường xuyên lôi kéo học sinh, làm cho các em
chểnh mảng việc học tập rèn luyện trong cả giờ học chính khoá lẫn tự học.
Sự kết hợp giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình, giáo dục ngoài xã hội
chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều lúc nhà trường còn ở thế cô độc.
- Nguyên nhân từ phía ngành giáo dục:
Giáo dục chưa gắn với thực tiễn nhiều, nhiều môn học còn mang tính hàn
lâm, nặng về kiến thức cao siêu mà ít thấy gắn với thực tế cuộc sống hàng ngày.
Đào tạo chưa gắn với sử dụng. Sự thay đổi thi cử liên tục gây bất ổn tâm lý, lo
lắng cho PHHS và học sinh; tuyển sinh ồ ạt, nhiều hệ, sự tư vấn chiêu sinh rầm rộ
và quảng bá quá lên của nhiều trường ĐH, CĐ tại các trường THPT trước mỗi
mùa thi làm loãng và hoang mang trong sự lựa chọn nghề nghiệp của HS, niềm

đường.
Vùng đất ven biển huyện Nghĩa Hưng - nơi trường đóng chân đang trong
giai đoạn giải phóng mặt bằng để chuẩn bị xây dựng khu công nghiệp rộng lớn
theo phê duyệt của Chính phủ, đang có ảnh hưởng đến suy nghĩ dễ có cơ hội làm
giàu mà không nhất thiết phải đi học của nhân dân và học sinh.
Đánh giá thực trạng giáo dục nói chung, thực trạng đạo đức học sinh nói
riêng là một công việc quan trọng, là điều kiện tiên quyết để xác định đúng mục
tiêu, chiến lược và các giải pháp khả thi. Nhưng đó là một việc khó khăn và phức
tạp, bởi lẽ sản phẩm của giáo dục là nhân cách được hình thành trong một quá
trình lâu dài, qua nhiều giai đoạn, chịu sự chi phối của nhiều nhân tố bên trong và
bên ngoài hệ thống giáo dục. Do đó, không thể thể dễ dàng thấy được, đo lường
được như sản phẩm của các quy trình sản xuất vật chất khác. Do vậy việc thực thi
các chủ trương, chính sách về giáo dục và kết quả mang lại của nó phụ thuộc rất
nhiều vào việc giải quyết một cách đúng đắn hợp quy luật của các mối quan hệ
đấy.
III. Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho
học sinh ở trường THPTC Nghĩa Hưng.

16


Trước những thực trạng và nguyên nhân trên, để nâng cao chất lượng công
tác giáo dục đạo đức học sinh giúp cho học sinh trở thành công dân tốt, với vai trò
là phó hiệu trưởng nhà trường trực tiếp phụ trách công tác đức dục, tôi xin đề xuất
một số giải pháp trong quản lý chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
trong giai đoạn hiện nay như sau:
1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ giáo viên, học sinh và
cha mẹ học sinh đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Việc giáo dục đạo đức nhân cách cho thế hệ trẻ là một quá trình lâu dài liên
tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan

biện pháp, con đường giáo dục phù hợp với những đối tượng cụ thể. Từ đó làm
cho mỗi phụ huynh học sinh tự ý thức được vai trò định hướng được giáo dục
hàng ngày của gia đình và sự cần thiết của việc phối hợp chặt chẽ giữa gia đình –
nhà trường trong công tác GDĐĐ cho học sinh.
- Thông qua các buổi chào cờ, ngoại khóa, các ngày lễ, ngày kỷ niệm, lồng
ghép linh hoạt và sinh động nội dung GDĐĐ cho học sinh.
- Kịp thời nhắc nhở, uốn nắn những cán bộ, giáo viên, học sinh có nhiều
biểu hiện coi thường, vi phạm các nguyên tắc GDĐĐ, đi lệch, ngược với mục tiêu
GDĐĐ của nhà trường và xã hội.
- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, hội thảo về GDĐĐ và quản lý GDĐĐ cho
học sinh trong nhà trường dưới nhiều hình thức, nội dung cụ thể như: “ Lựa chon
mục tiêu giáo dục đạo đức thời hội nhập toàn cầu”, “ Cách thức tố chức các hoạt
động GDĐĐ cho học sinh”, “ Kinh nghiệm giáo dục học sinh cá biệt”, “ Xây
dựng kế hoạch GDĐĐ cho lớp tự quản tốt”, “ Vai trò của GVCN trong công tác
GDĐĐ”, “ Biện pháp phối hợp hiệu quả với cha mẹ HS trong GDĐĐ”…
- Chỉ đạo Đoàn thanh niên, GVCN tổ chức tư vấn cho học sinh về các quan
niệm đạo đức, phẩm chất đạo đức cần có ở học sinh phổ thông ngày nay; những
con đường tu dưỡng rèn luyện đạo đức, nhiệm vụ thực hiện các quy định theo
điều lệ trường học, nội quy học sinh; cần có thái độ và cách phòng chống các tệ
nạn xã hội; cách ứng xử và giải quyết các tình huống khó xử trong cuộc sống.
2. Xây dựng kế hoạch công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Hàng năm BGH nhà trường rà soát, khảo sát, đánh giá đúng đặc điểm tình
hình của địa phương vùng trường tuyển sinh, của nhà trường; dự báo những biến
động của đời sống xã hội trong khu vực và địa phương trường đóng chân và diễn
biến của tình hình đạo đức học sinh, GDĐĐ cho học sinh của nhà trường, dự kiến
về những tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan, tích cực và tiêu cực,
thuận lợi và khó khăn của công tác GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ. Từ đó
xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh nằm trong chương trình giáo dục tổng thể
của nhà trường, đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, cụ thể, thiết thực và khả thi.
Trước khi đưa ra kế hoạch cần tham khảo ý kiến của các tổ chức có liên

- Ủy viên:
Ông (bà) Trưởng ban Đại diện CMHS trường;
Các đồng chí GV CN thuộc khối trưởng khối 12, 11, 10;
Các đồng chí ban thường vụ ĐTN;
Các đồng chí giáo viên chủ nhiệm;
Nhiệm vụ Ban chỉ đạo: Triển khai kế hoạch chỉ đạo của cấp trên, lựa chọn
mục tiêu, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch Giáo dục đạo đức cho
học sinh của nhà trường. Phân công, phân nhiệm, định ra chế độ sinh hoạt để việc
chỉ đạo kịp thời, đạt hiệu quả cao, cụ thể như sau:
- Trưởng ban : Phụ trách chung, xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác Giáo
dục đạo đức cho học sinh và nề nếp học sinh, phân công nhiệm vụ cho các thành
viên Ban chỉ đạo.
- Phó ban thường trực: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác đức dục có tính
chiến lược ba năm và cả năm học. Hàng tháng xây dựng chương trình, đánh giá
19


việc thực hiện các hoạt động và báo cáo với Hiệu trưởng. Tổ chức họp giao ban
hàng tuần và họp đột xuất. Tiếp PHHS.
- Phó ban: Tổ chức thực hiện các chương trình Giáo dục đạo đức và nề nếp
học sinh hàng tháng, hàng tuần phụ trách trực cổng, an ninh, trong và ngoài
trường.
- Thư ký: Tổng hợp kết quả kiểm tra, đánh giá công tác GDĐĐ, biên bản
khen thưởng, kỷ luật học sinh, tập thể học sinh.
- Ủy viên là Khối trưởng chủ nhiệm: Thống nhất nội dung giáo dục đạo đức
và nề nếp của khối mình phụ trách.
- Ủy viên là thường vụ Đoàn trường: Phụ trách kiểm tra giám sát các khu
vực trong và ngoài trường khi hàng ngày đặc biệt trước và sau các buổi học, các
buổi sinh hoạt tập thể; kiểm tra sự tiến bộ của các em học sinh sau khi nhận các
hình thức kỷ luật.

4.1. Lựa chọn đội ngũ GVCN
Giáo viên chủ nhiệm là một lực lượng nòng cốt trong công tác giáo dục HS,
GVCN lớp trực tiếp quản lý học sinh, gần gũi, gắn bó với lớp, nắm được tâm tư
nguyện vọng và hoàn cảnh của các em, là người mà các em thấy thân thiết như
cha mẹ, như người thân để thổ lộ, giãi bày. Lựa chọn được đội ngũ GVCN có
năng lực và phẩm chất là việc quan trọng hàng đầu đối với người Hiệu trưởng.
Trước khi bước vào năm học mới, BGH nhà trường lên kế hoạch lựa chọn
GVCN, xây dựng được các tiêu chuẩn lựa chon GVCN phù hợp với chức năng,
yêu cầu, nhiệm vụ của công việc, đối tượng khối lớp học sinh và tình hình cụ thể
của nhà trường.
Các GVCN thường phải là người có năng lực chuyên môn vững vàng, có
nhân cách hoàn thiện, có khả năng tổ chức các hoạt động tập thể, có năng lực giáo
dục, thuyết phục học sinh, nhiệt tình, thương yêu học sinh và được học sinh tin
yêu, kính trọng.
- Hiệu trưởng phân công GVCN lớp hợp lý, bồi dưỡng nâng cao nhận thức
cho GVCN về các nguyên tắc, phương pháp xây dựng tập thể HS, tạo điều kiện
tốt nhất cho GVCN làm việc. Đội ngũ GVCN được sự chỉ đạo trực tiếp của BGH
về mục tiêu, nội dung, kế hoạch công tác.
Căn cứ vào thực trạng GVCN của nhà trường và những yêu cầu, đòi hỏi đặt
ra đối với GVCN trong thời gian trước mắt và lâu dài, Phó hiệu trưởng phụ trách
đức dục và nề nếp cùng tổ trưởng tổ chủ nhiệm lên kế hoạch cho công tác chủ
nhiệm; chỉ đạo và hướng dẫn GVCN xây dựng kế hoạch chủ nhiệm cho lớp mình.
Kế hoạch này phải chú ý nhiều tới đặc điểm của đội ngũ GVCN và mục tiêu bồi
dưỡng cho từng nhóm đối tượng khác nhau, trong những thời gian, giai đoạn khác
nhau.
BGH nhà trường quán triệt mục đích yêu cầu, nội dung công tác cho
GVCN; phân công nhiệm vụ và xác định rõ trách nhiệm cho từng bộ phân, từng
cá nhân trong quá trình thực hiện.
4.2. Bồi dưỡng đội ngũ GVCN và chỉ đạo thực hiện
Hiệu trưởng chỉ đạo và phối hợp với phó hiệu trưởng phụ trách đạo đức và

phải thường xuyên chú ý khơi dậy và kích thích lòng tự trọng, lương tâm và danh
dự nghề nghiệp của mỗi GVCN, để biến quá trình bồi dưỡng thành quá trình tự
bồi dưỡng có sức bền lâu và sức mạnh từ bên trong. Từ đó tạo nên động lực để
GV phấn đấu vượt lên chính mình, tạo nên sự chuyển biến tốt đẹp của công tác
chủ nhiệm, nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh.
Chỉ đạo GVCN làm tốt những công việc sau:
- Đầu mỗi năm học, BGH chỉ đạo GVCN lập phiếu điều tra cơ bản về cha
mẹ, hoàn cảnh gia đình, sở trường, sở đoản, ước mơ, kết quả học tập đức dục, trí
dục của HS ở THCS để từ đó phân loại, phân tổ, chỗ ngồi và đề ra kế hoạch, biện
22


pháp giáo dục phù hợp, hướng các em tiếp tục rèn luyện học tập và phấn đấu
trong môi trường giáo dục mới.
- Lập danh sách cha (mẹ) học sinh cùng số điện thoại liên lạc kẹp cùng sơ
đồ chỗ ngồi niêm yết trên bàn giáo viên để toàn thể GV toàn trường cùng tham gia
với GVCN trong việc phối hợp cùng cha mẹ học sinh.
- GVCN là người thay mặt hiệu trưởng đảm nhiệm vai trò chủ đạo trong
công tác tổ chức giáo dục HS của lớp. Quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của
GVCN đã được xác định rõ trong điều lệ trường trung học: tìm hiểu và nắm vững
học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng,
nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp. Cộng tác chặt chẽ với CMHS, chủ động phối
hợp với các GV bộ môn, Đoàn TN, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt
động giảng dạy và giáo dục HS, nhận xét, đánh giá và xếp loại HS. Báo cáo
thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với hiệu trưởng. Xây dựng lớp trở
thành một tập thể phát triển toàn diện, tự quản để trở thành phương tiện GD
- Giáo dục cho các em động cơ học tập đúng đắn: Chăm chỉ, say mê học
tập, biết trân trọng những kiến thức được tiếp thu, không ỷ vào khó khăn, có nghị
lực vượt qua khó khăn, thái độ học tập phải trung thực; đức khiêm tốn, tinh thần
tập thể, tính tương trợ, tình đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Để học tập tốt,

cụ thể của nhà trường. Tổ chức cho các chi đoàn (lớp) xây dựng kế hoạch năm
học, đăng ký thi đua xây dựng tập thể tự quản tốt và các danh hiệu thi đua: Tập
thể lớp xuất sắc, tập thể lớp tiên tiến, tập thể kiểu mẫu …
BCH Đoàn trường tổ chức đợt thi đua theo dõi chủ đề, thi đua dài hạn, ngắn
hạn. Thành lập các Đội TN xung kích để theo dõi, giám sát, đôn đốc việc thi đua,
thực hiện nội quy, nề nếp học tập, rèn luyện của HS. Hàng ngày thông tin tình
hình nề nếp học sinh, đặc biệt hiện tượng những học sinh vi phạm nội quy nhà
trường hoặc có những hành vi đạo đức cần uốn nắn công khai tại bảng theo dõi nề
nếp trong phòng hội đồng. Hàng tuần có tổng hợp đánh giá, xếp loại thi đua và
công bố trước cờ sáng thứ hai hàng tuần hoặc thông tin trên bảng tin.
Phải đưa đoàn viên TN vào các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại
khóa để các em có một sân chơi lành mạnh, tố chức các sân chơi hữu ích cấp
trường như: Rung chuông vàng, Cắm hoa nghệ thuật, Thời trang, Học sinh thanh
lịch, Giao lưu bóng đá…; phối hợp với các tổ chức lực lượng ngoài trường như:
Mít tinh diễu hành hưởng ứng các đợt ra quân cao điểm về an toàn giao thông,
bảo vệ môi trường; làm các công trình thanh niên, hội diễn văn nghệ…để nâng
cao hoạt động tự rèn luyện tu dưỡng của học sinh, sự gắn bó, đoàn kết yêu thương
giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và cuộc sống. Từ đó các em có ý thức tự quản cao.
Và thực tế một số em hư được tập thể giúp đỡ đã điều chỉnh được nhiều hành vi
xấu của mình.
Đoàn cùng với Hội chữ thập đỏ của trường tổ chức cho ĐVTN tham gia tích
cực các hoạt động XH từ thiện, nhân đạo, tình nghĩa như: nhân dịp ngày 27/7 tổ
chức làm vệ sinh, thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ, thăm hỏi các gia đình thương
binh liệt sỹ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tổ chức tốt các đợt quyên góp ủng hộ
đồng bào lũ lụt, hoạn nạn, đóng góp xây nhà tình nghĩa và giúp đỡ HS nghèo vượt
khó. Thông qua các hoạt động nhân đạo, từ thiện đó mà giáo dục cho những
ĐVTN biết yêu thương mọi người, biết “ Uống nước nhớ nguồn”, biết trân trọng
những con người đã hy sinh vì Tổ quốc, biết chia sẻ, giúp đỡ khi người khác gặp
khó khăn… giáo dục truyền thông nhân ái, trọng nhân nghĩa của dân tộc ta.
24

giá trị và tìm ra những hành vi, biện pháp hợp lý trong đời sống đạo đức của
mình.
- Giáo dục đạo đức thông qua môn Giáo dục công dân. Đây là một môn học
đóng vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức HS. Môn học này giúp cho HS
những tri thức, những hiểu biết về phạm trù cơ bản của giáo dục đạo đức như: lẽ
sống, lý tưởng, tình yêu, tình bạn, tình đồng chí, nghĩa vụ đạo đức, bổn phận phải
làm… Từ đó HS có nền tảng đúng đắn và nhận thức được cái đạo đức và cái vô
đạo đức cực kỳ đa dạng xung quanh mình, giúp các em định hướng được những
hiện tượng đó và nắm được chuẩn mực hành vi đạo đức trong các hoạt động, các
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status