Vai trò của nho giáo dưới triều đại lê thánh tông - Pdf 34

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÀN

TRẦN VIỆT THẮNG

VAI TRÒ CỦA NHO GIÁO
DƯỚI TRIỀU ĐẠI LÊ THÁNH TÔNG


Chuyên ngành : Triết học
Mã sô

: 60.22.80

LUẬN VẢN THẠC Sĩ KHOA HỌC TRIÊT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. LÊ VĂN QUÁN

HÀ NỘI - 2009


MỤC LỤC
Trang

PHẨN MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tà i............................................................................................... 1
2. Tinh hình nghiên cứu đề t à i ....................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận v ă n ........................................................................ 6
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c ứ u ..............................................................6
5. Đối tượns và phạm vi nghiên cứ u ............................................................................. 6

tầng xã hội, một hình thái ý thức xã hội, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt,
nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sốne xã hội và con người Việt Nam, đóng vai trò
nhất định đến quá trình hình thành, phát triển của xã hội và chế độ phong kiến
Việt Nam. Bởi vậy mà, như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, Nho giáo là
một bộ phận cốt lõi của di sản truyền thống dân tộc.
Hơn một nửa thập kỷ trở lại đây, trước những biến động hết sức phức tạp
của đời sống xã hội, không chỉ ở nước ngoài, trong giới nghiên cứu Việt Nam
đã có xu hướng đặt lại, nghiên cứu trở lại vấn đề Nho giáo trên tinh thần phê
phán, gạn lọc, tiếp thu những nhân tố hợp lý, những giá trị chung của Nho giáo.
Đã có nhiều ý kiến, kết luận trong nhiều bài viết, chuyên luận và công trình
nghiên cứu về ảnh hưởng, vai trò của Nho giáo đối với xã hội và con người Việt
Nam trong lịch sử và hiện nay. Có người cho rằng, những hiện tượng tiêu cực
của xã hội; đạo đức nhân luân bị xuống cấp, bị xói mòn; kỷ cương, nề nếp từ
trong gia đình đến ngoài xã hội không được tôn trọng...là do đã có một thời
chúng ta phê phán, bài xích Nho giáo. Cũng có người cho rằng, để thúc đẩy xã
hội Việt Nam phát triển cần phải áp dụng triệt để công thức: kỹ thuật, công
nghệ phương Tây với Nho giáo như mô hình quản lý xã hội ở những nước phát
triển có truyền thống Nho giáo.

1


Rõ ràng, việc nhìn nhận, đánh giá về ánh hưởng, vai trò của Nho giáo Việt
Nam trong lịch sử và hiện nay là vấn để có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay. Bởi vì, có
như vậy mới góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa truyền
thống và hiện đại- nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam ngày nay.
Để thực hiện nhiệm vụ hết sức phức tạp và khó khăn này, theo chúng tôi, một
vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận là phải có thái độ biện chứng khách quan,
toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc nghiên cứu Nho giáo, cũng


Trước hết phải kể đến cuốn Khổng học ââỉií> của Phan Bội Châu và Nho
giáo của Trần Trọng Kim. Trong hai cuốn sách này, thông qua việc trình bày,
phân tích một số phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình
thành, phát triển của nó, hai ông đã nhìn nhận Nho giáo không chỉ chủ yếu là
một học thuyết chính tri- xã hội, học thuyết đạo đức mà còn là học thuyết triết
học. Cả hai ông đều đặc biệt đề cao những yếu tố, nhân tố tích cực của Nho
giáo, coi đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện đạo
đức con người và ổn định trật tự, kỷ cương xã hội.
Sau hai cuốn sách trên, Đào Duy Anh viết Khổní> í>iáo phê bình tiểu luận.
Theo ông, để nhận thức được bản chất Nho giáo, cần phải có thái độ khách quan,
toàn diện, khoa học. Từ lập trường này, ông phản đối thái độ của một số tri thức
Trung Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ là coi Khổng học chỉ là vô dụng, là di hại,
không phù hợp với thời đại khoa học và dân chủ. Đặc biệt từ lập trường mác xít,
ông đã nghiên cứu, mổ xẻ, tổng hợp những nội dung cơ ản của Nho giáo, để từ
đó đi đến kết luận rằng, Nho giáo “dẫu nó không thích hợp nữa ở đời này, mà
công dụng nó, sự nghiệp nó, vẫn trọn vẹn trong lịch sử, không ai có thể chối cãi
hay xoa bỏ đi được” [ 1, tr. 150]
Thứ hai : Là những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng và vai trò của
Nho giáo trong nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống con người và xã hội Việt
Nam thời phong kiến mà trong đó ít nhiều đề cập đến vai trò của Nho giáo dưới
triều đại Lê Thánh Tông. Đây là loại hình được rất nhiều tác giả và các nhà
nghiên cứu quan tâm với hàng loạt các công trình, bài viết đáng ghi nhận, như
của các tác giả: Vũ Khiêu, Trần Văn Giàu, Phan Ngọc, Trần Đình Hượu, Nguyễn
Tài Thư, Lê Sỹ Thắng, Lê Vãn Quán, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Nguyên
Việt, Nguyễn Thanh Bình,v.v.

3




giáo. Một điểm đáng chú ý là, khi đề cập tới anh hưởng của Nho giáo trong
lĩnh vực chính trị- xã hội, tác giả cho rằng, “trong tư tưởng yêu nước của các
nhà vêu nước Việt Nam có dấu vết của ba đạo” [50, tr. 63]
Đặc biệt, liên quan đến nội dung luận văn phải kê đến những công trình
nghiên cứu, những tác phẩm, bài viết có giá trị trong từng lĩnh vực cụ thê của đời
sống xã hội như: chính trị, đạo đức, pháp luật, giáo dục- khoa cử...Cụ thể như
công trình nghiên cứu “Lê Thánh Tông (Ỉ442-Ỉ497) con người và sự nghiệp’' của
tập thể các nhà khoa học trong và ngoài trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó các nhà khoa học thuộc những
lĩnh vực khác nhau như: sử học, văn học, văn hoá học, triết học, luật học, kinh tế
học, chính tri học, quân sự h ọ c... đã trình bày khá đầy đủ, toàn diện về con người
và sự nghiệp của Lê Thánh Tông. Hay tác phẩm “Lí5 Thánh Tông vị vua anh
minh - nhà canh tân xuất sắc ” của tác giả Lê Đức Tiết. Đây là công trình có
nghiên cứu những cách tân về hành chính, pháp lý, kinh tế, quân sự của vua Lê
Thánh Tông, trong đó tác giả đã xâu chuỗi lại những chủ trương, chính sách, sự
kiện và những kết quả đạt được của từng lĩnh vực cách tân nhằm giúp người
nghiên cứu nhìn nhận, đánh giá sự nghiệp của Lê Thánh Tông có tính toàn diện,
khách quan hơn. Ngoài ra còn nhiều những công trình nghiên cứu, bài viết khác
như: “HoàníỊ đ ế Lê Thánh Tôiĩíị nhà chính trị tài năiiíỊ, nhà văn hoú lồi lạc, nhà
thơ lớ ìỉ\ “Lê Thánh Tông - về tác gia và tác phẩm'",...
Nhìn chung, những công trình trên cho chúng ta nhìn nhận rõ hơn về ảnh
hưởng, vai trò của Nho giáo tại Việt Nam qua các giai đoạn phát triển của xã hội
phong kiến. Tuy nhiên, vấn đề trên do được đặt trong toàn bộ các hệ vấn để
nghiên cứu về lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học, lịch sử dân tộc; được tiếp cận từ
những góc độ nghiên cứu khác nhau với những mục đích khác nhau, cho nên vấn
đề mà đề tài luận văn nghiên cứu chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống và
vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm, nhận định khác nhau.

5



6. Đóng góp của luận văn
Tiếp cận Nho giáo từ góc độ triết học, luận văn trình bày một cách khách
quan và có hệ thống vai trò của Nho giáo trong một giai đoạn lịch sử toàn thịnh
nhất của chế độ phong kiến Việt Nam - thời Lê Thánh Tông trị vì.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần làm sáng tỏ những đóng góp và hạn chế của Nho giáo trong
quá trình phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam thời Lê Thánh Tông.
- Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy Nho giáo Việt
Nam nói riêng và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung.

8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung
luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
Chương 1: Nlĩữììg điều kiện, tiền đ ề cho sự phát triển Nho giáo dưới triêu
đại Lê Thánh Tô 11ạ ( 3 tiết ).
Chương 2: Một s ố biểu hiện nổi bật về vai trò của Nho ỹ á o dưới triều đại
Lê Thánh Tông ( 3 tiết ).

7


PHÄN NỘI DUNG
Chưưng 1
NHỮNG ĐIỂU KIỆN, TIỂN ĐỂ CHO s ự PHÁT TRIEN
NHO GIÁO DƯỚI TRIỂU ĐẠI LÊ THÁNH TÔNG
1.1 Điều kiện kinh tê
Sau khi giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc, Lê Lợi thủ lĩnh

củng cố và phát triển quyền lực của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
thì chế độ lộc điền và quân điền mới được hoàn thiện, bằng việc xây dựng một
quy chế rõ ràng, cụ thể.
Thực hiện chế độ lộc điền và quân điền, giai cấp phong kiến thống trị
thời Lê sơ đã xoá bỏ được tình trạng điền trang, thái ấp độc lập, đồng thời xoá
bỏ được tình trạng quyền lực bị phân tán giống như ở thời Lý - Trần. Trên cơ
sở đó, chế độ này đã góp phần tập trung được quyền lực vào bộ máy nhà nước,
vào giai cấp thống trị và củng cố quyển lợi, lợi ích của tầng lớp quý tộc, quan
liêu cao cấp. Đồng thời, nó cũng góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế
nồng nghiệp, củng cổ kinh tế tiểu nông và tạo điều kiện, tiền đề cho nền kinh
tế hàng hoá phát triển.
Đây chính là điểm tiến bộ căn bản trong chính sách ruộng đất của nhà
nước phong kiến thời Lê sơ, vì nó đã giải quyết đúng những mâu thuẫn chính
trong cuộc khủng hoảng cuối thời Trần và đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của sự
phát triển xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Tuy nhiên, bản thân chế độ lộc điền và chế độ quân điển cũng có những
hạn chế nhất định của nó.
Nhìn nhận ở khía cạnh khác thì, chế độ lộc điền còn có nghĩa là nhà
nước tranh giành lại ruộng đất của nông dân đã chiếm giữ được trong thời
chiến tranh, giao cho các quý tộc quan lại cao cấp, quay lại bóc lột nông dân.

9


Vì thực chấl của chế độ lộc điền là việc chia nhau quyền lợi kinh tế giữa tầng
lớp trên của giai cấp thống trị khi đã dựa vào nhân dân để chiến thắng quân
Minh. Trong điều kiện ấy, chế độ lộc điền chủ yếu là nhằm củng cố quyền lợi
của tẩng lớp quý tộc, quan liêu cao cấp, củng cố bộ máy quan liêu và phát
triển giai cấp địa chủ. Trừ một phần ruộng đất thế nghiệp, lộc điền trên
nguyên tắc vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhưng đã giao cho tư nhân

kẻ nào bỏ nghề nghiệp sẽ bị tội nặng. Nhà nước còn xuống chiếu cấm tư nhân
không được lập thêm trang trại mới để thu nạp dân lưu vong và xử phạt những ai
vi phạm quy định này. Ngay trong phép quân điền thời Lê sơ cũng quy định,
trường hợp ở xã nào mà ruộng nhiều người ít đều phải đem chia cho dân thiếu
ruộng xã bên cạnh cầy cấy, cấm không được chấp chiếm bỏ hoang. Điều luật
349 ban hành thời Thuận Thiên cũng cấm không được phép để ruộng đất hoang
vu. Năm 1485, Lê Thánh Tông lại ra sắc chỉ cho các phủ rằng, nếu có ruộng bỏ
hoang chưa khai khẩn hết thì phải khám xét và đôn đốc nhân dân canh tác. Với
những chính sách tích cực này, cho nên, trong một thời gian ngắn, ruộng đất bỏ
hoang được khai thác hết và nền sản xuất nông nghiệp về căn bản đã được phục
hồi. Song song với việc khôi phục lại diện tích canh tác nông nghiệp cũ, các ông
vua nhà Lê còn chú ý tới việc mở rộng thêm diện tích canh tác mới bằng những
công cuộc khẩn hoang của nhà nước và tư nhân.
Lập đồn điền là chính sách khẩn hoang tương đối quy mô của nhà nước
phong kiến Lê sơ. Lê Lợi đã xác định mục đích lập đồn điền là để “khai thác
hết sức nông nghiệp, mở rộng nguồn súc tích cho nước nhà” nghĩa là để mở
rộng thêm diện tích sản xuất và nguồn cung cấp tô thuế cho nhà nước. Năm
1462, Tham tri Tây Đạo là Hoàng Thanh dâng sớ trình bày 7 điều, trong đó
điều thứ 7 là “ Lập đồn điền để tích luỹ đầy đủ chốn biên phòng” hay như năm
1467, Thám nghị Hoá Châu là Đặng Thiểm cũng dâng sớ trình bày 5 điều
“hưng tiện", trong đó có 1 điều là “Chiêu tập những kẻ đào vong khai khẩn
ruộng hoang'’. Tất cả những điều ấy chứng tỏ chính sách khẩn hoang, lập đồn
điền đã được nhà nước phong kiến Lê sơ rất chú trọng. Kết quả là, như Thiên
Nam (lư hạ tập đã ghi nhận: Đến năm 1481, trong nước đã có tới 43 sở đồn

11


đicn nằm rái rác ở khắp nơi như: Bắc Bộ có Vĩnh Hưng, Thịnh Quang, Dịch
Vọng ; Thanh Hoá có Đồn Điển sở, Du Vịnh Sở, An Lãng Sở, Cảo Sở; Nghệ

Tóm lại, tất cả những chính sách khai hoang, lập đồn điền này đã có tác
dụng tích cực tới việc mở rộng diện tích canh tác cho nông nghiệp, tập trung
được dân lưu tán tham gia vào sản xuất, tạo điều kiện ổn định cuộc sống của
nhân dân và ổn định xã hội. Kết quả là, có hàng ngàn làng mới đã ra đời trên
cơ sở trại ấp. Phải nhắc lại rằng, vào đầu thời Lê Thái Tổ, 10 hộ mới được
thành lập một xã nhỏ thì tới thời Lê Thánh Tông phải trên 100 hộ mới được
tách ra làm một xã nhỏ. Điều đó đủ cho thấy, chủ trương của nhà nước có tác
dụng to lớn như thế nào đối với việc khôi phục các tụ điểm dân cư, lập làng xã
mới, ổn định cho đời sống của nông dân đồng thời cũng tạo ra động lực quan
trọng cho sự phát triển sức sản xuất nông nghiệp ở thời Lê sơ. Ngoài ra, để
phát triển sản xuất nông nghiệp, nhà nước phong kiến thời Lê sơ còn thực hiện
nhiều chính sách nhằm bảo vệ sức lao động trong nông nghiệp. Công việc
đồng áng của người nông dãn hàng năm thường tập trung nhiều nhất vào mấy
tháng mùa màng. Vì vậy trong những tháng mùa màng ấy, nhà nước cho đình
hoãn mọi công việc xây dựng, bồi đắp và mọi việc phu phen, tạp dịch để tập
trung sức lao động và sản xuất.
Năm 1435, triều đình ra lệnh cho các lộ, huyện, trấn hễ công việc gì
có hại đến nghề nông thì không được làm khinh động đến sức dân. Nhưng có
đôi nơi các quan lại không theo đúng nguyên tắc ấy, như Tri huyện Thư Trì
(Nam Định) Trần Như Vĩ tâu với vua rằng: “Các xứ trong thiên hạ, điền đã
cao thấp không giống nhau, thời thong thả của ruộng mùa hạ, mùa thu có
khác nhau: R uộng m ùa thu thì tháng 2, tháng 3 cấy cầy, ruộng mùa hạ thì
tháng 11 và tháng 12 cấy cầy. Vậy thì ruộng mùa hạ cần kíp vào cuối mùa
đông cho là (lúc bấy giờ) nghề nông thong thả. Vậy thì chỉ tiện cho dân làm
ruộng cuối m ùa thu, mà dân làm vụ mùa hạ có hại, Cúi xin từ nay các công
việc xây đắp, hai ty tra khám xứ nào ruộng mùa thu thì hưng công vào mùa
đông, ruộng m ùa hạ thì khởi công vào tháng mùa xuân, để cho dân được sự
tiện nghi” [44, tr. 169].

13

14


Ngay lừ năm 1427, khi đang bao vây Đông Đô, Lê Lợi đã hứa với toàn thê
quân sỹ là hiện nay có 35 vạn quân binh, chờ khi nào phá xong Đông Đô sẽ cho
25 vạn quân binh về làm ruộng, chỉ giữ lại 10 vạn để phòng vệ. Nguyện vọng tha
thiết nhất của người nông dân là được yên ổn có ruộng đất để cấy, cầy, họ khởi
nghĩa đuổi quân Minh cũng xuất phát từ nguyện vọng ấy. Lời hứa trên của Lê
Lợi cũng một phần xuất phát từ quyền lợi sâu xa ấy của binh lính - những người
nông dân mặc áo lính. Và lời hứa đó sau này đã thành hiện thực. Sau khi cuộc
chiến tranh giải phóng thành công, năm 1429, Lê Lợi đã chia binh làm năm
phiên, cứ lần lượt thay nhau một phiên lưu ban và bốn phiên được về làm ruộng.
Chính sách “ngụ binh ư nông” xuất phát từ chính sách trọng nông và một phần
cũng xuất phát từ chính sách tài chính của nhà nước phong kiến, vì quân lính
chia phiên về làm ruộng sẽ tăng cường thêm nhân công nông nghiệp và đồng
thời cũng đỡ tốn kém cho ngân quỹ quốc gia. Năm 1446 Thái bộc tự thiếu khanh
Lê Đình Tuấn thấy “nghề nông là gốc của thiên hạ, thời tiết không thể sai lạc
được” nên tâu xin vào dịp mùa màng cho công tượng các cục Bách tác, lính nuôi
voi, ngựa cũng được chia đội một nửa ở lại ứng dịch và một nửa về làm ruộng.
Như vậy là trong thời Lê sơ, chính sách chia phiên về làm ruộng đã dần dần
được mở rộng cho từ quân lính đến các hạng người phục dịch ở kinh đô. Với
chính sách “ngụ binh ư nông” triệt để ấy đã có tác dụng bảo đảm nhân công
nông nghiệp, tập trung sức lao động của nhân dân vào sản xuất nông nghiệp
trong thời gian cần thiết nhất. Bên cạnh việc bảo vệ sức lao động để phát triển
nền sản xuất nông nghiệp, nhà nước phong kiến thời Lê sơ còn quan tâm tới kỹ
thuật sản xuất. Nhưng những tài liệu về kỹ thuật sản xuất nông nghiệp thời Lê sơ
hầu như không có, tuy nhiên, chúng ta có thể tìm hiểu trình độ sản xuất đương
thời qua những tài liệu gián tiếp khác, v ề công cụ sản xuất chủ yếu, thời Lê sơ
cũng không có gì ngoài chiếc cầy gỗ với lưỡi cầy bằng kim loại do trâu, bò kéo.
Trong nền sản xuất nông nghiệp của nước ta thời kỳ này, ngoài công cụ sản xuất

Ninh Bình gồm con đê đá từ cửa Thần Phù và con đê đất ở xã Côi Trì huyện Yên
Mô, xã Bồng Hải, huyện Yên Khánh vẫn còn dấu vết của con đê này. Trong thời
Lê sơ, công việc bảo vệ, tu sửa đê điều, đôn đốc nhân dân bồi đắp bờ ruộng

16


chống lụt, chống hạn được nhà nước phong kiến chú ý thường xuyên, cứ hàng
năm khi công việc đồng áng đã xong là các quan phủ, huyện và quan Hà đê,
khuyến nông phải đôn đốc nhân dân tu bổ đê điều.
Năm 1487, Lê Thánh Tông có sắc chỉ quy định rõ thời gian tu bổ đê điều như
ruộng mùa hạ thì công việc đắp đê, đường, khai kênh phải khởi công vào trung
tuần tháng 2 và hoàn thành vào hạ tuần tháng 3. Khi nước lụt rút, các quan cũng
phải đi kiểm tra đê điều, mùa màng, để tuỳ tình hình thiệt hại nặng nhẹ mà giảm
tô, thuế, mà lo tu bổ đê điều. Chính sách bảo vệ đê điều và các công trình thuỷ
lợi của nhà nước Lê sơ khá tích cực và chặt chẽ. Khi công việc đắp đê điều cần
thiết, nhà nước huy động cả nhân dân và quân lính cho đến cả học sinh Quốc Tử
Giám. Học sinh Quốc Tử Giám là “sinh viên Đại học” của chế độ phong kiến,
phần lớn là con em nhà quý tộc, quan lại chỉ phải huy động trong hai trường hợp
quan trọng nhất là khi có giặc uy hiếp và việc đê điều cần thiết. Vào năm 1466,
nhà nước còn quy định những hình phạt nghiêm khắc đối với những quan lại tu
bổ đê điều không cẩn thận: “Quan phủ huyện 12 xứ Thừa tuyên [đôn đốc] đắp bờ
đê, nếu để đê vỡ bờ, nước ngập mùa màng thì quan thừa ty bị tội đồ, quan phủ
huyện bị tội lưu và phải bồi thường tổn hại”[44, tr. 172]. Thậm chí ngay đến việc
đắp bờ ruộng giữ nước, nếu đôn đốc không chu đáo để cho bờ rỉ nước, ruộng khô
cạn, quan phủ, huyện và xã thôn trưởng đều bị phạt 80 trượng... Những năm có
thiên tai mất mùa, triều đình thường phái người đi kiểm tra tình hình nông
nghiệp ở các địa phương, khám xứ nào mà ty Khuyến nông, Hà đê để mùa màng
hư hỏng hay ruộng đất hoang phế đều bị trị tội.
Ngoài những chính sách, chủ trương trên, để thúc đẩy nền sản xuất nông


sử dụng trong gia đình và trao đổi trong các vùng nhỏ hẹp ở địa

phương. Ngoài nghề phụ gia đình, thời Lê sơ đã xuất hiện những thợ thủ công
với những làng nghề tương đối phát triển. Theo D ư địa chí của Nguyễn Trãi cho
biết, thời kỳ đó có nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng như: nghể trồng dâu, đay,
gai ở Bát Bạt (Sơn Tây), nghề gốm ở Bát Tràng, nghề vôi ở Yên Thế, nghề dệt
lụa ở Thanh Oai.
Tại một số thị trấn, thị tứ đã hình thành nên những phường chuyên môn.
Thăng Long trong thời Lê sơ có 36 phường, như phường “Tàng Kiếm làm kiệu,

18


đồ, đài, mâm, áo giáp, võng, gấm, dù, lọng, phường Yên Thái làm giấy, phường
Thuỵ Chương và phường Nghi Tàm dệt vài nhỏ và lụa, phường Hà Tân nung đá
vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều. Tổng cộng trong cả nước có 83 phường” [45.
tr. 124]. Các phường hội này chính là tổ chức nghề nghiệp của thợ thủ công (và
của thương nhân) mang nặng tính chất phong kiến, nhưng nó cũng phản ánh một
trình độ phát triển và chuyên mồn hoá của thủ công nghiệp. Góp phần vào sự
phát triển của thủ công nghiệp còn có các công xưởng của nhà nước với tên gọi
chung là cục Bách tác. Cục này chuyên đúc tên, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, làm
các đồ dùng cho vua quan như mũ, áo, giầy,... thậm chí ngay cả nhà vua cũng có
một khu dệt vải, lụa do các cung nữ phụ trách. Thợ thủ công nhà nước (công
tượng) ban đầu là những người có tay nghề giỏi được tuyển chọn, về sau là thợ
“tài hoa” được tuyển chọn theo chế độ lao dịch. Hàng năm, triều đình thường
phái người về các nơi, hoặc giao cho các quan phủ, huyện bắt thợ thủ công có tài
đem nộp cho triều đình. Chế độ công tượng là một chế độ lao dịch, cưỡng bức
với tổ chức đội ngũ như quân lính. Từ năm 1466, công tượng cũng chia làm hai,
một nửa ở lại làm việc và một nửa về quê làm ruộng. Trong thời gian làm việc

quan lại, cường hào.
ức chế thương nghiệp là một chính sách truyền thống của giai cấp phong
kiến. Chính sách ấy bắt nguồn từ cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến, từ quyền
lợi của giai cấp phong kiến muốn củng cố nông nghiệp, trói buộc người nông
dân vào ruộng đất để bóc lột. Chính quyền nhà nước phong kiến thời Lê sơ hạn
chế và hẩu như cấm chỉ không cho nông dân rời bỏ quê hương, ruộng đất đi buôn
bán, làm ăn tập trung ở các thị trấn. Vì vậy, quá trình tách rời nông nghiệp và
thủ công nghiệp, quá trình hình thành phát triển các thành thị rất khó khăn.
Thời bấy giờ, Thăng Long là thị trấn, là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả
nước, đã tập trung được một số lớn thợ thủ công và thương nhân. Nhưng năm
1481, triểu đình ra lệnh đuổi tất cả những người “tạp cư” ở kinh đô, kể cả những
người có cửa hàng cửa hiệu và vào sổ thuế rời về nguyên quán, ra khỏi đô thành.
Hành động quá khích này đã khiến cho Phó đô ngự sử Quách Đình Bảo phải
dâng sớ để can ngăn:

20


“ (Như thế thần), thiết sợ rằng, đất kinh sử việc buôn bán sẽ giảm sút,
không giữ được về phồn thịnh, không những kẻ hành hương buôn bán phần
nhiều sẽ thất nghiệp mà chợ búa phố xá sợ rồi sẽ vắng vẻ; thuế ngạch sẽ
thiếu thốn, thật là bất tiện. Vì thế (thần) xin trẩn tâu: trừ kẻ tạp cư vô loại
nên đuổi đi, còn những người vốn có phố xá, cửa hàng trước đã vào ngạch
thuế rồi, thì nên cho cư trú, mua bán kinh dinh, cho nhập vào bản phường
nạp th u ế như lệ” [40, tr. 277].
Bên cạnh chính sách “ức thương” ấy, bọn quan lại, cường hào lại hay cậy
quyền cậy thế ức hiếp, mua rẻ, bán đắt, gây nhiều khó khăn cho kinh tế hàng
hoá. Chính vì vậy mà Nhà nước buộc phải hạn chế tình trạng trên bằng cách, như
vào tháng giêng năm 1497, Lê Thánh Tông ra lệnh nghiêm cấm người trong các
cung, người nhà trong các phủ của vương hầu, công chúa và các nhà đại thần

tưởng “trọng nông, ức thương” được “thể chế hoá” và được thực hiện triệt để
thông qua các chính sách và biện pháp cụ thể của nhà nước. Cũng từ đây hình
thành quan điểm phân tầng xã hội làm tứ dân: Sỹ - nông - công -- thương tạo cơ
sở vững chắc cho Nho giáo phát triển mạnh.
Tuy nhiên, những chính sách, pháp luật của nhà nước chỉ có thể hạn chế,
kìm hãm chứ không thể thủ tiêu hoàn toàn xu thế phát triển kinh tế của xã hội.
Do sự phát triển kinh tế hàng hoá, nên những hiện tượng buôn bán lén lút với
nước ngoài vẫn thường xuyên xảy ra, mà chính bọn quan lại, sứ thần là những kẻ
tham gia tích cực nhất.
Nói tóm lại, chính sách phát triển kinh tế mà chủ yếu là nền kinh tế nông
nghiệp của nhà nước phong kiến thời Lê sơ là tương đối tích cực hơn so với các
triều đại phong kiến khác. Mặt tích cực ấy của chính sách trọng nông đã góp
phần quan trọng vào việc khôi phục và phát triển nền kinh tế nông nghiệp đương
thời. Trong suốt gần một thế kỷ, thời Lê sơ tuy cũng có nhiều thiên tai dồn dập,
cũng có năm mất mùa, đói kém và trộm cướp rục rịch nổi lên ở một vài nơi,
nhưng nhìn chung, kinh tế nông nghiệp vẫn giữ được sự phồn thịnh tương đối
của nó. Tuy nhiên, nhìn chung toàn bộ nền kinh tế thì ngay trong bản thân chính
sách trọng nông là một chính sách kinh tế của nhà nước phong kiến, xuất phát từ

22


quycn lợi của nhà nước phong kiến, của giai cấp địa chu nhằm đảm bảo hiệu suất
bóc lột địa tô của nhà nước và của giai cấp địa chủ. Do vậy, “trọng nông” theo
đúng ý nghĩa phong kiến của nó là “độc tồn” nông nghiệp, đề cao nông nghiệp
thành “nghé gốc”, khinh rẻ và kiềm chế các nghề khác vì cho đó là “nghề ngọn”.
Bàng chính sách này, nhà nước phong kiến muốn tập trung tất cả nhân lực vào
nông nghiệp, trói buộc mãi mãi người nông dân vào ruộng đất để bóc lột và ức
chế công thương nghiệp. Do đó, trong thời Lê sơ, nông nghiệp có nhiều biểu
hiện phồn thịnh, nhưng kinh tế hàng hoá vẫn bị kìm hãm, người nông dân đi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status