Hình thành năng lực văn cho học sinh THCS - vấn đề
then chốt để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
MỤC LỤC
Mục lục
Trang
1
Danh sách bảng biểu
3
Báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
1. Lời giới thiệu
4
2. Tên sáng kiến
4
3. Tác giả sáng kiến
5
4. Chủ đầu tư sáng kiến
3. Đối tượng nghiên cứu
7
4. Phạm vi nghiên cứu
7
5. Cấu trúc của đề tài nghiên cứu
7
Phần II: NỘI DUNG
8
Chương 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
8
1.Cơ sở lý thuyết
8
2. Thực trạng học môn Ngữ văn trong nhà trường THCS hiện nay
9
1
9. Những điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến thu được do áp dụng sáng kiến theo
ý kiến tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến
lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có) theo các nội dung sau:
11. Danh sách những tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng thử
hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu.
2
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1:Điều tra mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Ngữ văn khi chưa
áp dụng sáng kiến.
Bảng 2: Khảo sát chất lượng dạy học trước khi áp dụng sáng kiến
Bảng 3: Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 8 đầu năm học 2014-2015
Bảng 4: Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 9 cuối học kỳ I năm học 20152016
Bảng 5: Điều tra mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Ngữ văn sau khi áp
dụng sáng kiến.
3
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu:
Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn là một môn học
thuộc nhóm khoa học xã hội, nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc hình
thành, giáo dục và phát triển nhân cách đạo đức cho học sinh, bồi dưỡng cho
các em những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp. “Văn học là nhân học” – học văn là
học để làm nguời. Hơn thế, các tác phẩm văn chương trong nhà trường luôn
giáo dục con người biết thông cảm, sẻ chia với những người xung quanh, biết
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
A. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
1. 1. Cơ sở lí luận.
Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn Ngữ văn có tầm quan
trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Học văn
là chú ý giáo dục cho các em những phẩm chất thẩm mĩ, biết rung cảm với
những tình cảm đạo đức cao thượng, trong sáng của con người, vì “văn học là
nhân học”, học văn là học để làm người. Ngoài ra, Ngữ văn cũng là môn học
thuộc nhóm công cụ, nó có mối quan hệ mật thiết với các môn học khác. Học tốt
môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác. Vì môn Ngữ văn rèn
cho học sinh cách lập luận chặt chẽ, trình bày vấn đề mạch lạc, sáng rõ, các em
sẽ vận dụng khả năng này khi giải quyết những vấn đề mà những môn học ấy
đặt ra. Ngược lại, các môn học khác cũng góp phần giúp học sinh hiểu biết sâu
rộng hơn về các vấn đề trong đời sống, để các em nâng cao khả năng tư duy của
mình.
Chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn do nhiều yếu tố chi phối,
quyết định: chương trình, sách giáo khoa, giáo án, phương pháp giảng dạy của
thầy, ý thức, thái độ học tập của trò. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học
đóng vai trò quan trọng. Thông qua các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực,
giáo viên hướng dẫn cho các em cách tiếp nhận văn học sao cho hiệu quả nhất,
nhằm hình thành và nâng cao nâng cao năng lực văn cho các em, đó là vấn đề
then chốt để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn.
1. 2. Cơ sở thực tiễn.
Thực tế hiện nay cho thấy, học sinh ở các cấp học phần lớn rất ngại học
văn, không “mặn mà” lắm với môn Ngữ văn, các em không có lòng yêu thích
văn chương, không có hứng thú khi học văn. Ở THCS, số em thích học văn và
có ý thức phấn đấu để học giỏi văn không nhiều. Một số em có năng khiếu văn
nhằm những mục đích sau:
Giúp cho học sinh thấy tầm quan trọng của môn học đối với sự phát triển
nhân cách của các em và góp phần thực hiện tốt mục tiêu của cấp học.
Góp phần xây dựng và hoàn thiện phương pháp giảng dạy Ngữ văn
THCS.
Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy Ngữ văn, giúp học
sinh có hứng thú học văn, hình thành những năng lực văn cần thiết để nâng cao
năng lực cảm thụ văn chương và có lòng yêu thích môn học.
6
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng học sinh trung học cơ sở.
4. Phạm vi nghiên cứu
Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THCS.
Giải pháp nâng cao năng lực văn cho học sinh.
5. Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài bao gồm 3 phần:
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần II: NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lí thuyết và thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2. Các giải pháp để hình thành và nâng cao năng lực văn cho học sinh
trung học cơ sở.
Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
PHẦN II
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lí thuyết
Hoạt động tư duy của học sinh trung học cơ sở có những biến đổi cơ bản.
Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc
điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên. Các em hiểu các dấu hiệu bản
chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu
hiệu đó trong mọi trường hợp. Khi nắm khái niệm, các em có khi thu hẹp hoặc
mở rộng khái niệm không đúng mức. Ở tuổi các em, tính phê phán của tư duy
cũng được phát triển, các em biết lập luận, giải quyết vấn đề một cách có căn cứ.
Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các em đã biết vận
dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh
nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức.
Như vậy có thể thấy, đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh THCS đã
được nâng lên rõ rệt so với bậc tiểu học. Nhất là khả năng tri giác, ghi nhớ, tư
duy đã được nâng cao hơn để các em có thể vận dụng những kiến thức mà thầy
cô cung cấp, vận dụng vào việc rèn những kỹ năng, hình thành những năng lực
học tập cần thiết cho bản thân. Đối với môn Ngữ văn, giáo viên có thể thông qua
giờ học, đặc biệt là giờ dạy tác phẩm văn học có thể hình thành cho học sinh
những năng lực văn cần thiết để các em tiếp thu kiến thức tốt hơn, đó cũng là
8
vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy học văn ở trường THCS, tạo tiền đề
cơ bản để các em có khả năng học tốt môn văn sau này.
2. Thực trạng học môn Ngữ văn trong nhà trường trung học cơ sở hiện nay
2.1. Thực trạng:
Những năm gần đây, việc đổi mới nội dung chương trình, phương pháp
dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá, chúng ta thấy chất lượng dạy và học
môn Ngữ văn trong nhà trường THCS đã có những thay đổi đáng kể. Hầu hết
học sinh đã có những nhận thức đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của môn
học. Các em hiểu được môn Ngữ văn là môn học công cụ, có mối quan hệ mật
thiết với những môn học khác nên cũng có sự đầu tư nhất định cho môn học.
Bình thường
Số
lượng
Tỉ
(%)
lệ Số
lượng
6(182 HS)
58
49,3%
43
7(205 HS)
86
42%
8( 178 HS)
41
23%
56%
lệ
(Bảng 1: Điều tra mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Ngữ văn)
Nhìn vào kết quả điều tra chúng ta thấy, tỉ lệ học sinh yêu thích và hứng
thú với môn học chưa cao. Điều này chắc chắn ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả
học tập của các em.
Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh khối 8 của
trường cuối năm học 2014-2015. Kết quả đạt được như sau:
Số
lượng
học
sinh
178
Học sinh
giỏi
Học sinh
khá
Học sinh
trung bình
Học sinh
yếu
(Bảng 2: Khảo sát chất lượng dạy học trước khi áp dụng đề tài nghiên cứu)
2.2. Nguyên nhân:
2.2.1. Về phía học sinh
Ở THCS, phần lớn các em chưa ý thức được mục đích và nhiệm vụ học
tập, các em quan niệm môn Ngữ văn là môn cần học để thi, học theo sự gò ép
của thầy cô nhiều hơn là do có lòng yêu thích thực sự với môn học, nên hiệu quả
tiếp nhận kiến thức môn học không cao, dẫn đến sự nhàm chán.
10
Bên cạnh đó, phải nói đến sự giảm sút về chất lượng nhân văn của học
sinh. Môn Ngữ văn là môn học bồi dưỡng cho con người những tình cảm nhân
văn sâu sắc như Chân, Thiện, Mĩ… thế nhưng thái độ lạnh lùng, thờ ơ của học
sinh trước những nỗi đau buồn của con người trong cuộc đời cũng như trong văn
chương là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ, trăn trở. Các em chưa thực sự thấy
đồng cảm với những nỗi đau của con người trong cuộc đời, còn vô cảm với nỗi
buồn đau của con người trong cuộc sống… Đây không phải là chuyện chữ nghĩa
văn chương, ngôn từ mà là vấn đề nhân văn, chất lượng phát triển tình cảm, tâm
hồn ở học sinh. Điều đáng lo ngại là sự sa sút về nhân văn không còn là hiện
tượng lẻ tẻ, thưa thớt mà đã trở thành một thứ tâm lí của không ít học sinh ngày
nay. Nhiều giáo viên phàn nàn là trước những hành vi cao thượng, xả thân vì
nghĩa lớn của những nhân vật anh hùng có học sinh đã không cảm phục mà còn
giễu cợt, nhạo báng.
Ngoài sự sút kém về nhân văn thì non yếu về năng lực văn, kĩ năng văn
của học sinh là điều mà ai cũng nhận thấy nhiều năm nay. Sự phân cực càng
mạnh, chuyện ngồi nhầm lớp càng nhiều, nạn bỏ học ngày càng tăng thì sự sút
kém về kiến thức, về kĩ năng không làm cho chúng ta ngạc nhiên.
2.2.2. Về phía giáo viên
có khi không phải là dốt văn mà là lười học văn bởi đã có những bài văn mẫu có
sẵn khiến các em thụ động trong suy nghĩ và chỉ sao chép nó một cách máy móc
mà không hiểu bản chất vấn đề.
Đồ dùng dạy học còn đơn điệu, chủ yếu là băng hình, tranh ảnh… còn ít
những trang thiết bị hiện đại hỗ trợ tốt cho việc giảng dạy môn Ngữ văn.
Sau khi điều tra khảo sát kết quả học tập của học sinh và tìm hiểu mức độ
hứng thú của học sinh đối với môn học, chúng tôi thấy, bên cạnh việc cần có
phương pháp dạy học phù hợp nhằm tạo ra hứng thú học tập cho các em thì việc
hình thành và nâng cao năng lực văn cho học sinh cũng là một trong những vấn
đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
Chương 2:
CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
VĂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1. Năng lực văn cần hình thành cho học sinh trung học cơ sở.
1.1. Năng lực văn là gì ?
Theo nhà nghiên cứu Phan Trọng Luận - người có nhiều năm nghiên cứu
về phương pháp giảng dạy văn chương trong nhà trường phổ thông, thì nói đến
năng lực văn là nói đến năng khiếu văn, hay tài năng văn của mỗi người..
Năng lực văn của học sinh trong nhà trường phổ thông cũng có một sự
phân chia khá rõ về nhiều phương diện hoạt động: năng lực văn cần cho việc
làm văn, cho việc sản sinh một văn bản (nghị luận văn học); năng lực văn cho
sáng tác thơ văn, năng lực văn cho hoạt động đọc, hoạt động chiếm lĩnh một văn
12
bản nghệ thuật, một sáng tác văn học, năng lực văn trong việc chiếm lĩnh một
văn bản nghị luận văn học, một bài viêt văn học sử hay lí luận văn học của sách
giáo khoa ...
Trong nhà trường phổ thông, năng lực cần yếu nhất là năng lực tiếp nhận
tác phẩm văn học. Có được năng lực này, nếu học sinh phát huy tốt sẽ góp phần
ngữ nghệ thuật tác phẩm văn học thì học sinh mới nhiều nhất là phát âm lên
được những con chữ rời rạc, vô hồn.
Một học sinh lớp 9 đã đọc câu thơ “Trời Hậu Giang tù và dậy rúc” thành
hai đoạn đứt mạch giữa “tù” và “dậy rúc”, từ “và” được hiểu như một liên từ.
Như vậy là học sinh đó làm một công việc phát âm máy móc nhưng chưa tri giác
được ngôn ngữ nghệ thuật của câu thơ.
Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu được, dưới các kí hiệu là
những biểu tượng, những chuỗi biểu tượng về các sự vật, hiện tượng đời sống,
thiên nhiên, con người mà nhà văn đã dựng lên qua ngôn ngữ. Học sinh tri giác
được điều đó nhanh hay chậm là dấu hiệu của năng lực văn. Giáo viên hướng
dẫn để các em đọc sáng rõ, đọc nhanh, đọc trôi chảy một văn bản nghệ thuật văn
học là rất tốt, nhưng đồng thời phải qua ngôn ngữ nghệ thuật học sinh “đọc”
được giọng điệu của nhà văn, các ý ngầm giữa các câu chữ. Người ta nói “đọc
giữa các dòng thơ” chứ không phải chỉ giữa các câu thơ là vì thế…
Có khi đọc sáng rõ câu thơ: “Anh dắt em vào cõi Bác xưa” (Tố Hữu)
nhưng chưa đọc được ý ngầm của tác giả. Chữ “cõi” trong câu thơ là tất cả cái
hồn của bài thơ. Nếu không đọc lên được cái hồn, cái từ đó thì vẫn chưa hiểu
được câu thơ giản dị mà huyền diệu này.
Hay đọc câu thơ: “Ánh trăng im phăng phắc - Đủ cho ta giật mình” (Ánh
trăng - Nguyễn Duy….) phải cho học sinh thấy: từ “im phăng phắc” là một phép
nhân hóa khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một
người bạn, một nhân chứng rất nghĩa tình nhưng vô cùng nghiêm khắc đang
nhắc nhở con người đừng quên đi quá khứ. Thái độ “im phăng phắc” ấy đủ làm
cho con người “giật mình”, nhận ra sự vô tình không đáng có, lãng quên, đáng
trách của mình. Qua đó, chúng ta thấy, tri giác ngôn ngữ nghệ thuật trong văn
bản văn học và nhất là trong câu thơ là một biểu hiện ban đầu của năng lực tiếp
nhận, tiếp cận, chiếm lĩnh tác phẩm văn học.
1.2.2. Năng lực tái hiện hình tượng
Nhà văn M. Gorki kể lại chuyện đọc sách thời thơ ấu của mình. Nằm vào
một góc nhà, quên cả ngày lễ Thánh, cậu bé say mê với từng trang sách và nhận
qua những chi tiết, những hình ảnh, những con người, những tâm trạng, học sinh
với vốn sống trực tiếp hoặc gián tiếp bắt gặp được ý, lời tâm tình của nhà văn.
Khi nhà thơ Phạm Tiến Duật viết: “ Không có kính không phải vì xe
không có kính. Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”, học sinh phải có được những
liên tưởng về tính chất khốc liệt của chiến tranh. Nhiệm vụ của giáo viên là làm
sao gợi ý được cho học sinh có sự liên tưởng, tưởng tượng để cho các em hiểu
thêm những gian khổ, hy sinh của nhân dân ta trong chiến tranh. Các em hiểu,
cảm nhận được điều kỳ diệu là những chiếc xe không còn nguyên vẹn ấy lại có
thể kiên cường vượt qua mọi bom đạn để ngày đêm thẳng tiến về miền Nam. Và
làm lên điều kì diệu ấy chính là những người lính lái xe, bằng tất cả tư thế ngang
tàng, tinh thần, ý chí và nghị lực của mình.
15
Nói tóm lại, liên tưởng là dấu hiệu của việc chuyển thế giới nghệ thuật
của tác phẩm vào thế giới tâm linh của người đọc và liên tưởng có định hướng là
dấu hiệu ban đầu của trình độ am hiểu tác phẩm. Học sinh có năng khiếu cũng là
học sinh tỏ ra nhạy bén và phong phú về liên tưởng.
1.2.4. Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận
Khi tiếp nhận một tác phẩm văn học, nếu không ý thức được sự khác biệt
giữa tự sự và trữ tình thì học sinh dễ lạc hướng và việc lĩnh hội một tác phẩm sẽ
không đạt được kết quả như mong muốn. Đối với bài thơ trữ tình, không thể coi
nhẹ, bỏ qua hình tượng cảm xúc, nhân vật trữ tình bởi qua đó, tư tưởng, tình cảm
và cảm xúc của nhà thơ hiện lên rõ nét nhất. Cũng như đối với tác phẩm tự sự,
yếu tố quan trọng là cốt truyện, nhân vật, các biện pháp xây dựng nhân vật, tình
huống truyện, vì đây là yếu tố để nhà văn nêu bật chủ đề, tư tưởng của tác
phẩm….
Chẳng hạn, trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân, thông qua
việc xây dựng tình huống truyện độc đáo và diễn biến tâm lí của ông Hai, nhà
văn đã thể hiện rất rõ nét cá tính của nhân vật, thể hiện sâu sắc tình cảm yêu
Cái kỳ diệu nhất của văn học chính là ở chỗ, với sức mạnh riêng của
mình, văn học thức tỉnh được lương tâm mỗi con người. Văn học giáo dục bằng
cách trò chuyện, tâm tình thông qua đối thoại ngầm giữa nhà văn và bạn đọc.
Nếu học văn mà chỉ để biết cốt truyện, để hiểu thêm, để biết thêm những câu
chuyện về cuộc đời con người thì chưa đủ. Văn học khác môn khoa học khác ở
chỗ nó làm lay động tâm hồn người đọc. Như trên đã nói, học văn mà chưa xúc
động thì chưa phải là học văn. Những cảm xúc, đặc biệt là xúc cảm thẩm mĩ
trong cảm thụ văn học bao giờ cũng nâng con người lên về tâm hồn, tình cảm và
thẩm mĩ.
Chẳng hạn, khi học Truyện Kiều, học học sinh hiểu ra nhiều chuyện
trong cuộc đời có khi các em chưa rõ, đồng thời biết cảm thương cho số phận
bất hạnh của nàng Kiều, biết căm ghét xã hội tàn bạo, bất công đã đẩy người phụ
nữ vào con đường đau khổ. Từ sự hiểu và cảm thương ấy đưa đến một sự tự
thanh lọc, một sự tự nhận thức, một sự thức tỉnh bên trong con người. Văn học
lúc ấy mới thực sự đến với con người và hiệu quả học văn như thế mới là hiệu
quả cần có. Học văn rồi tự nhận thức, tự trau dồi, tự thanh lọc…để tâm hồn
mình phong phú hơn, gần gũi với mọi người hơn. Đây là năng lực đặc thù của
tiếp nhận văn học mà ở nhà trường, nhất là nhà trường phổ thông cần quan tâm,
nuôi dưỡng và phát triển cho học sinh. Năng lực này cần phải được hình thành
trong từng giờ học để các em “thẩm thấu” dần, chứ không phải học xong một
bài học là học sinh có ngay năng lực ấy. Khi có được năng lực này là học sinh
đã “lớn” lên về nhận thức và tư tưởng.
1.2.7. Năng lực tự đánh giá
17
Là năng lực tự nhìn nhận, phát hiện giá trị của tác phẩm ở tầm khái quát,
vĩ mô trong nhiều quan hệ giữa tác phẩm và tác giả, với tác phẩm của các tác giả
khác, với đời sống xã hội phát sinh của tác phẩm, với đời sống xã hội ngày nay.
2.1. Tạo hứng thú học văn cho học sinh trong giờ học
18
Để học sinh tiếp thu và sáng tạo kiến thức có hiệu quả thì ở bất cứ môn
học nào giáo viên đều phải là người khơi gợi hứng thú cho học sinh, tạo cho các
em tâm thế học tập thoải mái, đồng thời phải định hướng học sinh tích cực, chủ
động trong việc tìm hiểu và tiếp thu kiến thức. Với thực trạng học sinh nhiều khi
còn thờ ơ, hờ hững với môn văn thì điều này lại càng quan trọng. Theo tôi, để
học sinh hứng thú hơn khi môn Ngữ văn, giáo viên là người có vai trò quan
trọng nhất.
Đầu tiên, giáo viên phải giúp học sinh hiểu vị trí và tầm quan trọng của
môn Ngữ văn. Môn học này có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu
chung của cấp học THCS là góp phần hình thành những con người có trình độ
học vấn THCS. Ngoài ra, nó còn là môn học công cụ, có quan hệ mật thiết với
những môn học khác. Môn Ngữ văn giáo dục nhiều phẩm chất tốt đẹp cho học
sinh: biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, yêu nước, hướng tới những
tình cảm tốt đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, lòng căm ghét cái
xấu, cái ác.
Trong giờ học, giáo viên phải tạo được bầu không khí văn chương, kích
thích hứng thú cho học sinh tìm hiểu, khám phá tác phẩm văn chương. Việc gây
hứng thú cho các em phụ thuộc vào tài năng sư phạm, lòng nhiệt tình của người
giáo viên, giáo viên có thể sử dụng những thao tác, biện pháp, phương pháp để
tạo hứng thú cho các em. Ví dụ như thao tác đọc diễn cảm tác phẩm văn chương
là một trong những thao tác quan trọng để tạo bầu không khí cho lớp học.
Tạo cho học sinh thói quen quan sát, ghi chép những kiến thức văn học,
những kiến thức cần nhớ, cần lưu tâm liên quan đến nội dung bài học; làm “Sổ
tay văn học” sưu tầm những bài thơ hay, những đoạn văn hay, những cách học
văn hiệu quả… để làm tư liệu trong quá trình học văn.
Hướng dẫn các em cách đọc sách, lựa chọn loại sách liên quan phù hợp
Trong quá trình tìm hiểu văn bản, giáo viên nên có hệ thống câu hỏi cho
học sinh theo từng cấp độ khác nhau phù hợp với từng đối tượng học sinh: câu
hỏi phát hiện, tái hiện, câu hỏi nhằm so sánh các sự vật, hiện tượng tương
đồng… để giúp học sinh hình thành các năng lực như trên người viết đã trình
bày.
2.2. Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực nhằm
nâng cao năng lực văn cho học sinh
Để hình thành và nâng cao năng lực văn cho học sinh là cả một quá trình,
thực hiện không thể vội vã, một sớm một chiều, đặc biệt không thể dạy học theo
kiểu nhồi nhét kiến thức mà cần có sự định hướng về nội dung, phương pháp
cho phù hợp, nên lựa chọn xem phương pháp nào đem lại hiệu quả cao, để rèn
luyện cho học sinh kỹ năng gì. Do đó, sử dụng phương pháp dạy học phù hợp là
khâu quan trọng để góp phần nâng cao năng lực văn cho học sinh, đặc biệt là
học sinh THCS.
20
Hiện nay, sau nhiều năm áp dụng đổi mới phương pháp dạy học, chúng ta
thấy có nhiều phương pháp dạy học tích cực được áp dụng nhằm phát huy tối đa
khả năng sáng tạo và tiếp nhận văn học của học sinh như: Dạy học theo quan
điểm tích hợp, phương pháp dạy học đọc - hiểu, phương pháp dạy học chủ động
tích cực, phương pháp dạy học nêu vấn đề… Các phương pháp này ở thời điểm
hiện nay đối với giáo viên và học sinh không còn là những phương pháp quá
mới mẻ, vấn đề là ở chỗ, nên sử dụng như thế nào để có thể phát huy được tốt
nhất việc nâng cao năng lực văn cho học sinh. Trong phạm vi đề tài này, chúng
tôi chỉ đi sâu nghiên cứu một vài giải pháp có nhiều ưu điểm trong việc hình
thành năng lực văn cho học sinh.
2.3. Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp
Chúng ta đều biết, nội dung chương trình môn Ngữ văn THCS được xây
Khi dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp vẫn phải lấy học sinh làm
trung tâm, tích cực hóa hoạt động của học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá
trình dạy học: tìm mọi cách phát huy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học
sinh.
Rèn năng lực văn cho học sinh, chúng ta cần chú ý đến việc tích hợp các
kiến thức sao cho có hiệu quả, vừa tiết kiệm được thời gian, công sức vừa cung
cấp được cho học sinh kiến thức của cả ba phân môn. Chúng ta biết, khi dạy học
theo phương pháp tích hợp chúng ta có thể sử dụng cả tích hợp ngang và tích
hợp dọc. Dù tích hợp theo cách nào thì người giáo viên cũng cần chú ý rèn cho
học sinh năng lực khái quát và năng lực tự nhận thức.
Chẳng hạn, để rèn cho học sinh khả năng khái quát hóa trong giờ dạy tác
phẩm văn học, người giáo viên cần chú ý điểm cơ bản sau:
Hướng dẫn để học sinh khai thác tối đa các yếu tố ngôn ngữ, thấy được
nghĩa, vài trò tác dụng của chúng trong việc biểu hiện nội dung của tác phẩm
văn học, tránh việc xa rời văn bản, chỉ phân tích những nội dung xã hội đơn
thuần. Tất nhiên, để tiếp nhận tốt các tác phẩm văn học thì cần phải huy động
nhiều nhiều kiến thức và kỹ năng văn học khác chứ không phải chỉ có yếu tố
ngôn ngữ. Đồng thời ở những giờ văn này, cùng với việc chỉ ra vẻ đẹp cụ thể
của những tác phẩm mẫu được học, giáo viên cần hết sức chú ý giúp các em biết
cách thức phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học theo một thể loại nhất định.
Làm như thế vừa nâng cao khả năng khái quát vừa tích hợp được nội dung
phương pháp dạy Tập làm văn, kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ bài thơ hay
một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
2.4. Vận dụng tích cực phương pháp dạy học đọc - hiểu văn bản
Giáo sư Trần Đình Sử trong bài viết: “Con đường đổi mới căn bản
phương pháp dạy học văn”, đã khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ văn là
dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh
không học các văn bản ấy, không hiểu được văn bản thì coi như mọi yêu cầu,
mục tiêu cao đẹp của môn văn chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì tới tình
yêu văn học”. Ông còn nhấn mạnh thêm rằng: “Trong giờ học, học sinh phải tự
sinh cách đọc có phương pháp, phát huy năng lực cảm thụ thẩm mĩ trực tiếp,
khêu gợi tưởng tượng tái hiện và liên tưởng, bồi dưỡng năng lực cảm thụ tinh tế,
nhanh nhạy, phát triển năng lực tư duy, cắt nghĩa, khái quát, tránh suy diễn máy
móc, tùy tiện, xuyên tạc dung tục mô phỏng sáo mòn, hời hợt, thiếu màu sắc chủ
quan, cá tính sáng tạo. Do vậy, có thể nói hình thành cho học sinh cách đọc văn
cũng chính là góp phần nâng cao năng lực văn học cho học sinh.
23
Khi áp dụng phương pháp này, để đạt hiệu quả cao, giáo viên cần chú ý một số
điểm sau:
Thứ nhất, cần phân biệt sự khác nhau giữa dạy học đọc hiểu và giảng
văn:
Giảng văn
* Nghiêng về công việc của thầy.
Đọc - hiểu văn bản
* Tổ chức cho trò thực hiện.
* Thầy nói cái hay mà thầy cảm nhận * Trò tự khám phá ra cái hay, cái đẹp
cho học sinh nghe.
của văn bản theo ý mình.
* Nghiêng về khai thác nội dung tư * Tập trung khai thác vẻ đẹp nội dung
tưởng của văn bản.
qua hình thức của văn bản.
* Ít chú ý ngôn từ và các hình thức * Bám sát câu chữ của văn bản để chỉ
nghệ thuật cụ thể.
ra nội dung tư tưởng.
* Nhiều khi không cần đọc văn bản.
b. Câu hỏi hướng vào các yếu tố của văn bản.
- Câu hỏi đọc lướt, đọc thông (Tìm bố cục của văn bản, nêu nội dung mỗi đoạn,
lập dàn ý cho bài văn, thuật lại cốt truyện, thống kê nhân vật, nêu cảm nhận
chung).
- Câu hỏi đọc sâu, cảm nhận ngôn từ (nhằm hình thành năng lực tri giác ngôn
ngữ cho học sinh).
+ Tên văn bản, từ khóa, câu then chốt, giải nghĩa từ khó, câu văn, câu thơ, chi
tiết, hình ảnh...
+ Hiểu các biểu trưng, biểu tượng (hình thành năng lực tái hiện tưởng tượng,
năng lực tri giác ngôn ngữ).
+ Nắm các điểm nhìn, không gian, thời gian.
+ Hỏi về giọng điệu.
- Câu hỏi đọc hiểu:
+ Chỉ ra tư tưởng khái quát của văn bản.
+ Nhận định, đánh giá chung về nội dung nghệ thuật.( Rèn năng lực khái quát).
c. Hỏi về yếu tố ngoài văn bản.
- Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ( hoàn cảnh xã hội chung, hoàn cảnh cụ thể.)
- Câu hỏi về tác giả ( quê hương, gia đình, bản thân tác giả).
d. Hỏi về vai trò của người tiếp nhận.
- Khai thác vốn sống, kinh nghiệm của gia đình, quê hương.
- Khai thác năng lực, trí tuệ phha hóa khác nhau của học sinh.
Như vậy, chúng ta có thể thấy ngay trong hệ thống câu hỏi đọc - hiểu,
người giáo viên nếu hướng dẫn tốt cho học sinh thì có thể kết hợp cho các em
những kĩ năng cơ bản khi tiếp nhận tác phẩm văn học một cách hiệu quả.
2.5. Sử dụng linh hoạt các kỹ thuật và hình thức dạy học phù hợp
25