SKKN: Nâng cao chất lượng dạy bộ môn vật lý lớp 9 ở trường THCS - Pdf 23

I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thế giới trong những năm đầu thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh mẽ, sâu
sắc trong rất nhiều lĩnh vực. Sự phát triển mạnh mẽ trên vừa tạo ra những tiền đề,
những khả năng để nhân loại vững tin bước vào tương lai, nhưng đồng thời nhân
loại cũng đã và đang gặp phải những thách thức mới trong các vấn đề kinh tế, xã
hội …
Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước mở cửa để hội nhập với
cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt đòi hỏi công tác giáo dục
nước ta phải có sự đổi mới sâu sắc và toàn diện nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành
những người vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa giữ gìn và phát
huy được bản sắc dân tộc, vừa có khả năng sáng tạo, có tình cảm và thái độ của
con người mới xã hội chủ nghĩa.
Thời đại cách mạng khoa học công nghệ ngày nay đang làm thay đổi nhanh
chóng và sâu sắc đến đời sống kinh tế và tinh thần của xã hội. Khoa học trở thành
một lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế, xã
hội. Vì vậy, giáo dục và đào tạo trở thành nhân tố quyết định vị thế của mỗi quốc
gia trên trường quốc tế và sự thành đạt của mỗi con người trong cuộc sống.
Vật Lý là môn khoa học thực nghiệm. Mọi vấn đề đều bắt nguồn từ cái có
thực nên mọi tư duy đều xây dựng trên thực tế và khái quát ở mức độ cao hơn.
Chính vì vậy mà vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để mọi tiết học, mỗi kiến thức
Vật Lý mới đều được các em tiếp nhận một cách tự nhiên, hứng thú và sáng tạo?
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học đối với
việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo lớp công dân Việt Nam trong xã hội
Trang 1
A. MỞ ĐẦU
hiện đại và qua gần bốn năm áp dụng phương pháp mới trong dạy học Vật lý 9, tôi
mạnh dạn đưa ra những suy nghĩ và hiểu biết của mình để viết giải pháp “Nâng
cao chất lượng bộ môn Vật Lý lớp 9 ở trường THCS Bến Củi”.
II/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình thực hiện giải pháp này, tôi tập trung nghiên cứu việc tổ
chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Giải pháp được

lên”.
Dựa vào chủ trương của Đảng và nhà nước về giáo dục: xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực.
Dựa vào lí luận kiểu dạy học “Hướng tập trung vào học sinh trên cơ sở hoạt
động của học sinh”. Những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS theo tư tưởng tích
cực hóa hoạt động học tập của học sinh đã đặt ra những yêu cầu bức thiết về đổi
mới phương pháp dạy học.
II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Vật lý là một môn học còn rất mới đối với học sinh cấp 2. Những kiến thức
Vật lý có nhiều ứng dụng trong thực tế đời sống, kĩ thuật, gần gũi với kinh nghiệm
hiểu biết của học sinh. Tuy nhiên, do học sinh chưa quen với lối tự làm việc, tự
học, nên các em thường tìm hiểu nội dung bài học một cách qua loa, sơ sài, chưa
có phương pháp học một cách khoa học, tích cực.
Nội dung chương trình Vật lý 9 tương đối nặng. Ở lớp 6 và 7 mức độ kiến
thức chỉ là khảo sát định tính các sự vật hiện tượng, chương trình vật lý 9 đòi hỏi
khả năng tư duy của học sinh cao hơn, tạo điều kiện phát triển các năng lực lên một
mức cao hơn và đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với học sinh.
Căn cứù vào mục tiêu, nhiệm vụ dạy học bộ môn, căn cứ vào nội dung
chương trình Vật lý 9 và chất lượng thực tế của học sinh ở trường THCS Bến Củi,
Trang 4
tôi thấy việc tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng bộ môn là yêu cầu cần
thiết.
III/ NỘI DUNG VẤN ĐỀ:
1. Thực trạng bộ môn :
Năm học 2008 – 2009 tôi được phân công giảng day môn Vật lý lớp 9A, 9B.
Qua việc tìm hiểu giáo viên bộ môn đã dạy lớp 8, giáo viên chủ nhiệm và kết
quả kháo sát chất lượng đầu năm, tôi nhận thấy:
Lớp TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém
9A 26 1 2 13 8 2
9B 26 2 3 14 6 1

3. Các giải pháp thực hiện :
a/ Tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập, rèn luyện
tư duy sáng tạo cho học sinh :
Aùp dụng phương pháp dạy học tích cực và khai thác các khía cạnh của các
phương pháp dạy học truyền thống nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập, nâng cao được chất lượng dạy
học.Tuy nhiên vấn đề cốt lõi là làm thế nào để tăng cường được tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập? Điều quan trọng trong dạy
học là tùy thuộc vào nội dung và điều kiện dạy học, giáo viên cần áp dụng những
phương pháp và kĩ thuật dạy học thích hợp để làm chuyển biến học sinh từ trạng
thái thụ động trong học tập sang trạng thái chủ động tích cực trong học tập.
Bằng nghệ thuật sư phạm của mình, giáo viên cần tạo ra các nhu cầu về tâm
lí và xã hội đối với việc học cho học sinh, cần liên hệ các nội dung học tại lớp với
những hoạt động hàng ngày để học sinh cảm thấy cần thiết và có hứng thú tham
gia tích cực vào quá trình tìm tòi, lĩnh hội kiến thức và vận dụng vào thực tế.
Trang 6
Vật lý là môn học có nhiều ứng dụng trong sản xuất, đời sống và là thành
tựu của ngành công nghệ thông tin nên giáo viên có nhiều cơ hội để gây hứng thú
cho học sinh trong quá trình tìm hiểu, khám phá ra những điều mới mẻ xung
quanh, tạo ra nhu cầu và hứng thú học tập cho học sinh.
Ví dụ:
 Khi dạy các bài tìm hiểu về sự phụ thuộc của điện trở vào dây dẫn, thay vì
giáo viên thông báo cho học sinh nghe về điện trở phụ thuộc vào chiều dài, tiết
diện và vật liệu làm dây dẫn rồi ghi chép thụ động, thì ta cho học sinh thử nêu dự
đoán và dự kiến cách làm thí nghiệm kiểm tra. Thông qua các thí nghiệm, học sinh
sẽ rút ra sự phụ thuộc đó và có hiểu biết tại sao người ta thường dùng dây đồng
làm lõi dây dẫn điện, hoặc ở các đường dây chính phải dùng dây có tiết diện đủ lớn

 Ở bài “Biến trở – Điện trở dùng trong kĩ thuật”: giáo viên cho học sinh
quan sát vật thật để nêu cấu tạo và hoạt động của biến trở; quan sát mạch điện ở

cực học tập của học sinh .
Ví dụ:
 Ở bài “Sự phụ thuộc của cường độ dòng điện vào hiệu điện thế giữa hai
đầu dây dẫn”, giáo viên đặt câu hỏi mở “Từ kết quả thí nghiệm, hãy xét mối quan
hệ giữa cường độ dòng điện chạy qua đoạn mạch và hiệu điện thế đặt vào hai đầu
đoạn mạch đó?”. Ở câu hỏi này, đòi hỏi học sinh tư duy tìm ra sự phụ thuộc tỉ lệ
thuận và có khả năng bộc lộ sai sót cho rằng U phụ thuộc vào I. Thông qua đó giáo
viên phân tích điều chỉnh nhận xét của học sinh giúp các em hiểu đúng bản chất
của sự phụ thuộc đó.
 Ở bài “Điện trở của dây dẫn – Định luật Ôm” : “Nếu sử dụng cùng một
hiệu điện thế đặt vào hai đầu các dây dẫn khác nhau thì cường độ dòng điện qua
Trang 8
chúng có như nhau không?”. Qua việc phân tích kết quả thí nghiệm, học sinh biết
được khái niệm và ý nghĩa điện trở của dây dẫn.
 Ở bài “Đoạn mạch song song”, học sinh được chia thành nhóm để làm thí
nghiệm kiểm tra công thức tính điện trở tương đương của đoạn mạch. Qua đó tạo
hứng thú học tập bộ môn và khắc sâu kiến thức cho học sinh.
 Ở bài “Sử dụng an toàn và tiết kiệm điện”, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
“Theo em, chúng ta có thể dùng những biện pháp nào để sử dụng tiết kiệm điện
năng tiêu thụ trong gia đình?”. Như vậy, trước hết là gợi lên cho các em một vấn
đề quan trọng là phải tiết kiệm điện năng trong gia đình. Từ đó mỗi học sinh đều
phải suy nghĩ, liên hệ lại những biện pháp mà gia đình thường áp dụng để tiết kiệm
điện năng, và cũng có thể ở gia đình chưa hề đề cập đến vấn đề này thì các em phải
suy nghĩ để tìm ra các giải pháp. Các em sẽ trả lời theo những ý tưởng khác nhau,
sau đó sẽ chờ đợi giáo viên giải đáp tổng kết để rõ được những kiến thức mới quan
trọng và rất cần thiết trong cuộc sống hằng ngày. Như vậy sẽ kích thích được tính
tích cực và sự hứng thú của học sinh trong học tập.
b. Rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh :
Chương trình vật lý mới đòi hỏi mỗi học sinh có một thái độ học tập đúng
đắn và một phương pháp học tập khoa học thì hiệu quả tiết học càng cao.

cụ điện? học sinh soạn các câu trả lời vào vở bài tập dựa vào các câu
hỏi C có trong SGK
 Để chuẩn bị bài “Điện năng – Công của dòng điện”, sau khi dặn học sinh
các nội dung cần học ở bài trước, làm bài tập củng cố, áp dụng, phần chuẩn bị bài
mới gồm:
Trang 10
+ Tìm 3 đồ dùng điện mà khi hoạt động thì dòng điện đã thực hiện công, 3
đồ dùng điện khi hoạt động dòng điện cung cấp nhiệt lượng. Những biểu hiện của
mỗi dụng cụ đó ?
+ Ôn tập công thức tính hiệu suất, công thức tính công suất đã học ở lớp 8.
+ Số đếm công tơ điện ở nhà em đo đại lượng điện nào? Trong tháng 10 gia
đình em sử dụng bao nhiêu số đếm (theo hóa đơn tiền điện)?
c. Rèn kĩ năng giải bài tập Vật lý cho học sinh :
Bài tập chương “Điện học” rất đa dạng, nhiều thể loại nên phương pháp giải
cũng rất phong phú. Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách
khoa học, đảm bảo kết quả chính xác là một việc rất cần thiết. Nó không những
giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng suy luận lôgic, làm
việc khoa học có kế hoạch.Do đó ngay từ bài học đầu tiên giáo viên cần hướng dẫn
học sinh biết các bước cơ bản khi làm bài tập, tập cho các em cách lập luận có căn
cứ, sử dụng đúng ngôn từ vật lý.
 Dạng bài tập định tính hay bài tập câu hỏi: Việc luyện tập, đào sâu kiến
thức và mở rộng kiến thức của học sinh về một vấn đề nào đó cần được bắt đầu từ
bài tập định tính. Đây là loại bài tập có khả năng trau dồi kiến thức và tạo hứng thú
học tập cho học sinh. Để giải quyết được bài tập định tính đòi hỏi học sinh phải
phân tích được bản chất của hiện tượng vật lý.
Bài tập định tính đơn giản, thường dùng để củng cố, khắc sâu khái niệm, định
luật… Ví dụ:
 Với 3 dây dẫn có chiều dài như nhau, tiết diện như nhau, ở cùng điều
kiện. Dây thứ nhất bằng bạc có điện trở R
1

Đối với bài tập định tính phức tạp thì việc giải bài tập này là giải một chuỗi
các câu hỏi định tính. Những câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải dựa vào việc vận
dụng một định luật vật lý , một tính chất vật lý nào đó.Ví dụ:
 Có hai dây dẫn một bằng đồng một bằng nhôm cùng chiều dài, cùng tiết
diện. Nếu mắc hai dây đó nối tiếp vào mạch điện thì khi có dòng điện đi qua, nhiệt
lượng tỏa ra ở dây nào lớn hơn?
-> Giáo viên cần đưa ra một số câu hỏi gợi ý phân tích giúp các em yếu,
trung bình có thể tìm ra cách giải , sau đó giáo viên đưa ra câu hỏi tổng hợp (Cùng
l,s  R phụ thuộc
ρ
. Do
ρ
nhôm
>
ρ
đồng
nên R
nhôm
> R
đồng
; mắc nối tiếp thì I qua
hai dây như nhau; vận dụng công thức Q = I
2
Rt  cùng I, t nên Q tỏa ra ở dây
nhôm lớn hơn).
 Dạng bài tập tính toán:
Để làm tốt loại bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề, tìm
hiểu ý nghĩa thuật ngữ mới (nếu có), nắm vững các dữ kiện đâu là ẩn số phải tìm;
phân tích bắt đầu bằng việc tìm một định luật, qui tắc diễn đạt bằng một công thức
có chứa đại lượng cần tìm và một đại lượng khác chưa biết, tìm mối liên hệ giữa

giáo viên sẽ nói ít mà chú ý lắng nghe ý kiến của học sinh để có sự hướng dẫn và
điều chỉnh kịp thời. Bởi vậy trong giáo án nên ghi những dự kiến tình huống, dự
kiến về suy nghĩ, hành động của học sinh.
Trang 13
Để tổ chức cho học sinh làm việc trên lớp một cách chủ động, tích cực, đúng
hướng, giáo viên cần xây dựng một hệ thống câu hỏi, hướng dẫn học sinh quan sát
hiện tượng, phân tích kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có liên quan….để
đi đến tri thức mới. Vai trò tổ chức của giáo viên thể hiện chủ yếu qua hệ thống
câu hỏi này. Các câu hỏi được sắp xếp thành hệ thống khái quát đến cụ thể, từ khó
đến dễ. Cách làm như vậy nhằm phát huy năng lực của mọi đối tượng học sinh:
Học sinh khá, giỏi trả lời các câu hỏi chung, khái quát; học sinh trung bình, yếu trả
lời các câu hỏi cụ thể, chi tiết. Các câu hỏi phải được chuẩn bị trước, kể cả hệ
thống câu hỏi gợi ý chi tiết. Câu hỏi phải được diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn.
Sử dụng các câu hỏi phù hợp với trình độ học sinh. Một trong những biện
pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là đặt câu hỏi mở (nhiều phương
án trả lời). Câu hỏi mở phù hợp với trình độ học sinh thường làm không khí lớp
học sôi động và gây nhiều tình huống bất ngờ đối với giáo viên. Xử lí các tình
huống dạy học trên lớp thể hiện trình độ và nghệ thuật của giáo viên. Thực tế sử
dụng câu hỏi mở cho thấy các phương án học sinh đưa ra có thể ngoài dự kiến của
giáo viên. Do đó, khi thiết kế bài dạy, giáo viên nên dự kiến trước các phương án
trả lời của học sinh và cách xử lí các tình huống đó để hướng học sinh đến điều đã
dự kiến, trên cơ sở đó chỉnh lại câu hỏi cho phù hợp với trình độ thực tế của học
sinh lớp mình dạy. Nếu học sinh không nghĩ ra được câu trả lời thì cần chuẩn bị
những câu hỏi phụ dễ hơn dẫn dắt học sinh đi đến câu trả lời cần thiết. Những câu
trả lời ngoài dự kiến, giáo viên nên ghi lại để làm tư liệu giảng dạy cho lần sau.
Trong quá trình xử lí thông tin, giáo viên cần tạo điều kiện để nhiều học sinh
được trình bày những điều mình làm, mình quan sát , thường xuyên gọi học sinh
yếu, qua đó tập các em mạnh dạn đề xuất ý kiến, không ỷ lại vào bạn bè và chú ý
vào công việc hơn. Để tiết kiệm thời gian cần đặt câu hỏi rõ ràng, không nhắc lại
những điều học sinh đã nói, yêu cầu học sinh nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn.

Kết quả cụ thể:
Thời
điểm
Lớp TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém
Giữa
HKI
9A 26 2 (7,7%) 3(11,5%) 13(50,0%) 7(26,9%) 1(3,8%)
9B 26 3(11,5%) 4(15,4%) 14(53,9%) 5(19,2%) 0
HKI 9A 26 3(11,5%) 6(23,1%) 11(42,3%) 6(23,1%) 0
9B 26 5(19,2%) 9(34,6%) 8(30,8%) 4(15,4%) 0
1. Bài học kinh nghiệm :
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu cấp thiết để góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục. Song một chủ trương dù tiến bộ đến đâu thì khi đi vào
thực tế cũng vấp phải những khó khăn. Không ai phủ nhận tính tích cực của yêu
cầu đổi mới, nhưng biến nó thành hiện thực thì không phải là chuyện dễ hoàn
thành trong một sớm một chiều.
Trước những khó khăn của thực tiễn giáo dục, chúng ta phải đổi mới phương
pháp dạy học dần dần, phải chấp nhận một giải pháp quá độ mang tính cải tiến với
Trang 16
C. KẾT LUẬN
phương châm đổi mới là dạy học tạo điều kiện để học sinh “suy nghĩ nhiều hơn,
làm việc nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn”. Và nhân tố quyết định trong công việc
đổi mới này là đội ngũ giáo viên chúng ta.
Mỗi giáo viên phải có kế hoạch đổi mới, chịu khó tìm tòi học tập, mạnh dạn
thực hiện đổi mới từ những kinh nghiệm tốt của bản thân và đồng nghiệp, đổi mới
từ một bài đến nhiều bài, khó một năm để dễ dàng trong nhiều năm sau.
Qua nhiều năm thực hiện giảng dạy theo phương pháp mới, nhờ sự nổ lực của
bản thân giáo viên, nhiều học sinh học tập tốt hơn, và có kết quả cao hơn. Giải
pháp nói chung có tính chất khả thi. Tuy vậy, còn một số khó khăn khi giảng dạy
như sau:

NGUYỄN THỊ DIỄM THÚY
Trang 18
Trang 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status