kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Vệ Sinh Môi Trường Đông Khê - Pdf 34

1

LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ngày một phát triển, đặc biệt trong xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội thuận lợi để hội
nhập với nền kinh tế thế giới nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với không ít
những khó khăn do nền kinh tế thị trường mang lại mà khó khăn lớn nhất có lẽ là
sự cạnh tranh gay gắt không những của các doanh nghiệp trong nước mà còn của
cả các doanh nghiệp nước ngoài. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
bền vững cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ
việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm, phải biết
tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn. Để có
được điều đó, một trong những biện pháp là mỗi doanh nghiệp đều không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ; cải tiến mẫu mã và hạ giá thành.
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
là hai chỉ tiêu vô cùng quan trọng, được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm vì nó
có chức năng giám sát, phản ánh trung thực, kịp thời các thông tin về chi phí sản
xuất phát sinh trong thời gian nhất định. Thông tin về chi phí và giá thành sẽ
giúp cho nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp phân tích đánh giá tình hình sử
dụng vật tư, lao động, tiền vốn có hiệu quả hay không, tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành như thế nào… từ đó đưa ra được các phương án thích hợp về sản
xuất kinh doanh, đề ra các biện pháp hữu hiệu hạ thấp chi phí sản xuất, giảm giá
thành sản phẩm và ra các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh
doanh mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp…Nó là căn cứ để đánh giá kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh
doanh....Chính vì vậy, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm có ý nghĩa vô cùng to lớn; là khâu quan trọng nhất trong toàn bộ công


2


tính lý thuyết và thời gian thực tập chưa nhiều nên đề tài của em không thể tránh
khỏi thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô
giáo, và những người quan tâm để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


4

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1
1.1.1

Lý luận chung về chi phí sản xuất
Khái niêm, bản chất, nội dung của chi phí sản xuất
Để tiến hành hoạt động sản xuất,doanh nghiệp phải có 3 yếu tố cơ bản là: Tư
liệu lao động, đối tượng lao động và lao động của con người. Sự tham gia các
yếu tố này vào quá trình sản xuất có khác nhau dẫn tới sự hình thành các hao phí
tương ứng: Hao phí về khấu hao tư liệu lao động và hao phí đối tượng lao động
hình thành lên hao phí lao động vật hóa; Hao phí về tiền lương phải trả cho
người lao động và các khoản khác có tính chất tương tự lương hình thành lên lao
động sống. Trong nền sản xuất hàng hóa, các hao phí trên được biểu hiện bằng
tiền gọi là chi phí sản xuất. Vậy:
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ về hao phí lao động sống, lao
động vật hóa và các chi phí cầ thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành
hoạt đông sản xuất, chế tạo sản phẩm, hay thực hiện lao vụ dịch vụ, trong một
thời kỳ nhất định.
Thực chất chi phí sản xuất là sự dịch chuyển vốn-chuyển dịch giá trị các yếu
tố sản xuất vào giá thành sản phẩm. Do đó, chi phí sản xuất chỉ tính bao gồm


kỳ của tất cả TSCĐ dùng trong sản xuất sản phẩm.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền mà DN đã trả, phải trả để
mua các dịch vụ từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền thuê sửa chữa,…

-

phục vụ cho sản xuất trong kỳ.
Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ các chi phí khác bằng tiền ngoài các
chi phí kể trên dùng vào hoạt động sản xuất.
Phân loại CPSX theo tiêu thức này có tác dụng lớn trong quản lý chi phí sản
xuất ,cho biết tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích ,đánh giá
tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất ,làm cơ sở cho việc lập bảng thuyết

minh báo cáo tài chính và lập kế hoạch cung ứng vật tư ,kế hoạch quỹ lương.
1.1.2.2 Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích, công dụng của CPSX để chi ra
thành các khoản mục chi phí khác nhau mà không căn cứ vào nội dung kinh tế
của nó. Toàn bộ các CPSX trong kỳ phân thành các khoản mục như sau:


6

-

Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trưc tiếp: Bao gồm chi phí về nguyên vật liệu
chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào quá trình sản

-


Định phí : Là những chi phí mà tổng số không có sự thay đổi khi có sự thay đổi
về mức độ hoạt động. nếu xét tổng chi phí thì CPCĐ không đổi nhưng nếu xét
CPCĐ cho một đơn vị khối lượng hoạt động thì tỷ lệ nghịch với khối lượng hoạt

-

động.
Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố của định phí
và biến phí.


7

Cách phân loại này có tác dụng lớn đối với quản trị kinh doanh, phân tích
điểm hòa vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý cần thiết để hạ giá
thành sản phẩm tăng hiệu quả kinh doanh .
1.1.2.4 Phân
-

loại chi phí theo mối quan hệ và khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng chịu

chi phí
Chi phí trực tiếp: chi phí liên quan trực tiếp đến một đối tượng chịu chi phí
Chi phí gián tiếp: Chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí vì vậy phải
tiến hành phân bổ các chi phí đó cho các đối tượng chịu chi phí bằng các phương
pháp gián tiếp thông qua các tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này có ý nghĩa đối với việc xác định
phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách
đúng đắn ,hợp lý.


xem là mục tiêu phấn đấu, là cơ sở để đánh giá, phân tích tình hình thực hiện kế

-

hoạch giá thành của doanh nghiệp.
Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi
phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Việc tính giá thành định mức
được tiến hành trước khi sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức là
thước đo chính xác kết quả kinh doanh các loại tài sản, vật tư, tiền vốn trong
doanh nghiệp. Đó là căn cứ quản lý quan trọng, tạo cơ sở cho việc đánh giá tính

-

hợp lý, hiệu quả của giải pháp kinh tế kỹ thuật đã áp dụng.
Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất
thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ với số lượng thực tế sản xuất được.
Khác với 2 loại giá thành trên, Giá thành thực tế chỉ được tính toán sau khi quá
trình sản xuất đã hoàn thành.
Như vậy, giá thành kế hoạch và giá thành định mức được lập trước khi quá
trình sản xuất được tiến hành, còn giá thành thực tế chỉ được xác định khi quá
trình sản xuất sản phẩm đã hoàn thành.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác
định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán, từ
đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp.

1.2.2.2 Phân

loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành trong giá thành




-

Giá thành theo biến phí của sản phẩm tiêu thụ: là loại giá thành sản phẩm trong
đó bao gồm toàn bộ biến phí (biến phí sản xuất, biến phí bán hàng_Bpbh, biến
phí quản lý doanh nghiệp_Bpqldn) tính cho sản phẩm tiêu thụ.
Ztb = Zsxtb + Bpbh + Bpqldn
1.2.3

Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm


10

Giữa CPSX và GTSP có mối quan hệ quan hệ chặt chẽ với nhau với nhau
trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm; Chi phí biểu hiện mặt hao phí còn giá
thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất.Đây là 2 mặt của một quá
trình, vì vậy cũng giống nhau về chất; Cả chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
đều bao gồm những chi phí về lao động sống,lao động vật hóa mà doanh nghiệp
đã bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Song xét về mặt lượng, CPSX luôn
gắn với thời kỳ nhất định, còn GTSP luôn gắn liền với một loại sản phẩm, lao
vụ,dịch vụ cụ thể.
Giá thành sản phẩm bao gồm một phần chi phí của kỳ trước chuyển sang ,một
phần chi phí thực tế đã phát sinh và một phần chi phí đã phát sinh ở kỳ sau
nhưng ghi nhận là chi phí của kỳ này. Còn CPSX không những được chuyển
dịch vào các sản phẩm hoàn thành trong kỳ mà còn tồn tại trong các sản phẩm dở
chuyến sang kỳ sau.
Do đó trong công tác quản trị sản xuất, phải quản lý chi phí và giá hành một
cách chặt chẽ. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá
thành sản phẩm. Ngược lại GTSP là thước đo chi phí sản xuất đã bỏ ra để hoàn

Cũng như khi xác định đối tượng kế toán chi phí ,việc xác định đối tượng tính
giá thành cần phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất quy trình công nghệ sản
xuất và tính chất sản xuất ,cung cấp sử dụng của sản phẩm dịch vụ và yêu cầu

-

quản lý của doanh nghiệp trong từng thời kỳ cụ thể:
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tính giá thành là từng

-

sản phẩm.
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng laoij sản phẩm là đối

-

tượng tính giá thành
Đối với quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành là

-

sản phẩm hoàn thành cuối cùng cua quy trình công nghệ
Đối với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất và chế biến phức tạp kiểu
liên tục hay kiểu song song thì đối tượng tính giá thành có thể là nửa thành
phẩm ở từng giai đoạn và sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng
và cũng có thể là từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp

1.3.3

hoàn thành.

Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên
quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác địh và
công tác hạch toán ghi chép ban đầu cho phép quy nạp trực tiếp các chi phí vào
đối tượng kế toán tập hợp chi phí có liên quan.

1.4.2

Phương pháp phân bổ gián tiếp
Áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng kế
toán chi phí, mà không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng cho từng đối tượng.
Trong trường hợp đó phải tập hợp chung cho nhiều đối tượng. Sau đó lựa chọn
tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng
kế toán chi phí. Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ


13

H

=

C

Bước 2: Xác định chi phí phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí
Ci = Ti × H
Trong đó:
H: hệ số phân bổ
C: tổng chi phí cần phân bổ


TK 627 :chi phí sản xuất chung .Tài khoản này dùng để tập hợp toàn bộ
các chi phí mang tính chất chung liên quan đến việc phục vụ sản xuất ,quản lý
sản xuất …trong các phân xưởng ,bộ phận .

-

TK 154 :chi phí sản xuất kinh doanh dở dang .Tài khoản này dùng để tập
hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm
đối với kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên .Đối với
kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ ,TK 154 dùng để phản
ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ và đầu kỳ .
- TK 631 :Giá thành sản xuất.Tài khoản này dùng đề tập hợp chi phí sản
xuất trong doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê
định kỳ .

1.5.3

phương pháp tập hợp một số chi phí chủ yếu
1.5.3.1 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp .
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về các loại nguyên liệu
chính ,vật liệu phụ ,nhiên liệu …dùng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản
phẩm .
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tính toán căn cứ vào số nguyên liệu
xuất kho dùng cho sản xuất sản phẩm đối với từng đối tượng của kế toán vật
liệu
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan trực tiếp tới đối tượng tập hợp
chi phí .Tổ chức tập hợp theo phương pháp ghi trực tiếp ,nghĩa là các chứng từ



trực tiếp

Trị giá NVL
=

xuất đưa vào

Trị giá NVL còn lại
-

Trị giá phế liệu

cuối kỳ

-

phế liệu thu

hồi
trong kỳ

sử dụng

chưa sử dụng

SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP
TK 152 (hay TK 611)

TK 621


phụ cấp ,tiền trích bảo hiểm xã hội ,bảo hiểm y tế ,kinh phí công đoàn …phải
trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm .Về nguyên tắc ,chi phí nhân
công trực tiếp tập hợp giấng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp .Cụ thể :Đối
với tiền lương ,bảo hiểm xã hội ,bảo hiểm y tế ,kinh phí công đoàn của công
nhân trực tiếp sản xuất được tập hợp như sau :
- Đối với tiền lương của công nhân có quan hệ trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp

chi phí sản xuất thì kế toán sử dụng phương pháp trực tiếp để tập hợp cho từng
đối tượng.
-

Đối với tiền lương của công nhân sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng
tập hợp chi phí sản xuất thì kế toán sử dụng phương pháp phân bổ gián tiấp cho
từng đối tượng .Tiêu thức phân bổ là :Chi phí tiền công định mức ,khối lượng
sản xuất sản phẩm .
Kế toán căn cứ vào tiền lương công nhân sản xuất đã tập hợp được cho từng
đối tượng và tỷ lệ tính bảo hiểm xã hội ,bảo hiểm y tế ,kinh phí công đoàn quy
định để xác định những chi phí này cho đối tượng .
Cuối kỳ tiến hành phân bổ ,kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào các
đối tượng liên quan kế toán tập hợp ,phân bổ chi phí nhân công tập trung qua
sơ đồ sau


17

SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP
TK 334

TK 622


18

- Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng, như
vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định (TSCĐ) thuộc phân xưởng
quản lý, sử dụng, vật liệu dùng cho nhu cầu văn phòng phân xưởng...
- Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về công cụ dụng cụ sản xuất dùng
cho phân xưởng sản xuất như khuôn mẫu, gá lắp, dung cụ cầm tay...
- Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định sử
dụng ở phân xưởng sản xuất như khấu hao của máy móc thiết bị, khấu hao của
nhà xưởng, phương tiện vận tải.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài được phục
vụ cho các hoạt động của phân xưởng như chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí điện,
nước, điện thoại...
- Chi phí khác bằng tiền: phản ánh những chi phí bằng tiền ngoài những khoản
chi phí kể trên, phuc vụ cho hoạt động của phân xưởng như chi phí tiếp khách,
hội nghị... ở phân xưởng.
Chi phí sản xuất chung được tổ chức tập hợp theo từng phân xưởng, đội sản
xuất, quản lý chi tiết theo từng yếu tố chi phí, mặt khác chi phí sản xuất chung
còn phải được tổng hợp theo chi phí cố định và chi phí biến đổi. Cuối kỳ sau khi
đã tập hợp được chi phí sản xuất chung theo từng phân xưởng, kế toán tính toán
phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong
phân xưởng theo những tiêu chuẩn phân bổ hợp lý. Việc tính toán xác định chi
phí sản xuất chung tính vào chi phí chế biến còn phải căn cứ vào mức công suất
hoạt động thực tế của phân xưởng


19

Chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất.

631)
Chi phí nhân công
TK 152,153(631)

Kết chuyển chi phí sản xuất chung

Chi phí vật liệu,công cụ,dụng cụ

đã tập hợp được phân bổ cho các
đối tượng có liên quan

TK 214
Chi phí khấu hao tài sản cố định

TK 632

TK 331,111,112
Chi phí dịch vụ mua ngoài

CPSXC không được phân bổ

TK 133
TK 111,112,141
Chi phí khác bằng tiền

1.5.4 Tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp .
Chi phí sản xuất sau khi đã tập hợp riêng từng khoản mục :Chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp ,chi phí nhân công trực tiếp ,chi phí sản xuất chung cần được




Bồi thường phải thu

nhân công trực tiếp

do sản phẩm hỏng
TK 155

TK 627
Kết chuyển chi phí

Giá thành sản xuất
thành phẩm nhập kho

sản xuất chung

TK 632
Giá thành sản xuất thành phẩm
bán không qua kho
TK 157
Giá thành sản xuất
thành phẩm gửi bán


22

SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TOÀN DOANH NGHIỆP
(Theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
TK 154


TK 632
Giá thành sản xuất của sản phẩm
hoàn thành trong kỳ

1.6
1.6.1

Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang
Sản phẩm làm dở ( sản phẩm dở dang) là sản phẩm, công việc còn đang trong
quá trình sản xuất, gia công, chế biến trên các giai đoạn của quy trình công nghệ,
hoặc đã hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng vẫn còn phải gia công chế
biến mới trở thành thành phẩm.


23

Để tính giá thành được chính xác thì nhất thiết phải thực hiện tốt việc đánh giá
sản phẩm làm dở cuối kỳ. Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán xác định phần
chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu.
Việc đánh giá sản phẩm làm dở được tiến hành trên cả hai mặt: Hiện vật và giá
trị.
- Về mặt hiện vật: Doanh nghiệp phải biết được khối lượng sản phẩm làm dở
tại thời điểm đánh giá, biết được mức độ hoàn thành của sản phẩm.
- Về mặt giá trị: Đánh giá sản phẩm làm dở là xác định lượng hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá đã tạo nên giá trị sản phẩm làm dở. Việc xác định
hao phí này do kế toán thực hiện và phải tuân theo những phương pháp nhất
định.
1.6.2 Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
1.6.2.1 Xác định sản phẩm dở dang theo nguyên vật liệu trực

1.6.2.2 Xác định sản phẩm dở dang theo sản lượng tương đương
Sản phẩm hoàn thành tương đương là sản phẩm được quy đổi từ sản phẩm dở
dang cuối kỳ tính theo mức độ chế biến hoàn thành của chúng ở từng giai đoạn.
Theo phương pháp này, căn cứ vào sản lượng sản phẩm làm dở kiểm kê cuối
kỳ và mức độ hoàn thành của chúng để tính đổi ra sản lượng sản phẩm hoàn
thành tương đương, trên cơ sở sản phẩm hoàn thành tương đương để tính chi phí
sản xuất sản phẩm dở.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý, kiểm soát chi phí, doanh nghiệp có thể đánh giá
theo phương pháp nhập trước xuất trước hoặc phương pháp bình quân gia quyền.
Phương pháp này kết quả tính toán được chính xác và khoa học hơn nhưng
tính toán phức tạp, khối lượng tính toán nhiều. Vì vậy phương pháp này được áp
dụng đối với doanh nghiệp có chi phí vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng không lớn
trong tổng chi phí sản xuất, khối lượng sản phẩm dở dang lớn và không ổn định
giữa các kỳ, đánh giá được mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang.

1.7
1.7.1

Kế toán tập hợp chi phí ,tính giá thành sản phẩm
Kế toán CPSX và tính GTSP theo đơn đặt hàng


25

Phương pháp tính giá thành theo công việc áp dụng thích hợp với những sản
phẩm có quy trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục ,kiểu song song ; tổ chúc sản
xuất đơn chiếc, hàng loạt nhỏ có giá trị cao, theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất
dài và riêng rẽ.
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là từng phân xưởng và từng đơn
đặt hàng của từng phân xưởng. Đối tượng tính giá thành là thành phẩm của đơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status