Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, thành phần hóa học tình dầu của một số loài trong chi riềng (alpinia roxb ) và sa nhân (tt) - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

.....................................

LÊ THỊ HƢƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, THÀNH PHẦN
HÓA HỌC TINH DẦU CỦA MỘT SỐ LOÀI TRONG
CHI RIỀNG (ALPINIA Roxb.) VÀ SA NHÂN (AMOMUM Roxb.)
THUỘC HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE Lindl.) Ở BẮC TRUNG BỘ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 62.42.01.11

HÀ NỘI, 2016


Luận án được hoàn thành tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Trần Thế Bách
2. PGS. TS. Trần Đình Thắng

Người phản biện 1: PGS. TS. Trần Huy Thái
Người phản biện 2: GS. TSKH. Trần Văn Sung

đàn (Cupressaceae), Sim (Myrtaceae), Gừng (Zingiberaceae),.... Trong họ Gừng thì
chi Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.) là 2 chi có hầu hết các loài cho
tinh dầu với những giá trị sử dụng như làm thuốc, làm gia vị, làm hương liệu…. Nhiều
loài trong hai chi này đã trở thành hàng hóa có giá trị và được buôn bán với số lượng
tương đối lớn ở trong nước cũng như trên thế giới.
Khu vực Bắc Trung Bộ được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng
sinh học của Việt Nam, với 5 VQG là Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha - Kẻ
Bàng, Bạch Mã và nhiều khu BTTN như Xuân Liên, Pù Luông, Pù Hu, Pù Huống,
Pù Hoạt, Kẻ Gỗ, Bắc Hướng Hoá, Phong Điền,… Tuy nhiên, hiện nay, công tác
nghiên cứu đa dạng tài nguyên thực vật nói chung và 2 chi trong họ Gừng nói riêng
ở đây chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. Vì vậy, việc thu thập
các dữ liệu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và tinh dầu của các loài trong chi


2

Riềng (Alpinia Roxb.) và chi Sa nhân (Amomum Roxb.) của họ Gừng
(Zingiberaceae Lindl.) nhằm tìm hiểu khả năng ứng dụng chúng là công việc có ý
nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn. Xuất phát từ những vấn đề trên tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, thành phần hóa học tinh dầu của một
số loài trong chi Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.) thuộc họ
Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở Bắc Trung Bộ”.
2. Mục tiêu
Mô tả được đặc điểm sinh học, sinh thái và xác định được hàm lượng tinh dầu,
thành phần và hàm lượng các cấu tử tinh dầu một số loài trong 2 chi Riềng (Alpinia
Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở Bắc
Trung Bộ góp phần công tác điều tra nghiên cứu cơ bản, đánh giá tiềm năng nguồn tài
nguyên thực vật ở các tỉnh phía Bắc Trung Bộ.
3. Ý nghĩa của đề tài luận án
Các kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp vào số liệu điều tra tính đa dạng

1.1. Nghiên cứu về họ Gừng (Zingiberaceae)
1.1.1. Trên thế giới
C. Linnaeus (1753) là người đầu tiên nghiên cứu về họ Gừng dựa trên các mẫu
vật của Engelbert Kaempfer, ông đã mô tả và đặt tên 2 loài thuộc họ Gừng
(Zingiberaceae) là Kaempferia galanga và Kaempferia rotunda. Sau này có các công
trình của J. G. Koenig (1783), W. Roxburgh (1815), C. L. Blume (1823), Lindley
(1835), G. Bentham & J. D. Hooker (1883), J. G. Baker (1892), R. E. Holttum (1950),
T. L. Wu & S. J. Chen (1981, 2000).
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công trình đầu tiên đề cập đến các taxon họ Gừng là của Loureio J.
(1793), tác giả đã mô tả 3 chi với 13 loài có ở Miền Nam Việt Nam. Những nghiên
cứu về họ Gừng ở Việt Nam đáng kể nhất phải kế đến công trình nghiên cứu của
Gagnepain (1908), Lê Khả Kế và cs (1975), Phạm Hoàng Hộ (1972), Phạm Hoàng
Hộ (1993, 2000), Theilade & Mood J. (1999), Larsen K. & Newman M.F. (2001),
Rehse T. & Kress J. (2003). Nghiên cứu đầy đủ và có tính hệ thống nhất về họ Gừng


4

ở Việt Nam có công trình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Bình (2011), tác giả đã công
bố ở Việt Nam có 19 chi với 144 loài và thứ.
1.2. Nghiên cứu về chi Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.)
1.2.1. Nghiên cứu chi Riềng (Alpinia Roxb.)
Chi riềng (Alpinia) là chi lớn nhất của họ gừng (Zingiberaceae) với khoảng 250
loài, được mô tả đầu tiên bởi W. Roxburgh vào năm 1810, các loài trong chi này chủ
yếu phân bố ở rừng mưa nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á, Australia và một số đảo
Thái Bình Dương. Các công trình nghiên cứu điển hình là Ridley (1924), Wu và
Larsen (2000), Saensouk et al., (2003), Phạm Hoàng Hộ (1993, 2000). Công trình đầy
đủ và tương đối hoàn thiên về họ Gừng (Zingiberaceae) nói chung và chi Riềng
(Alpinia) rói riêng của tác giả Nguyễn Quốc Bình. Tác giả đưa ra hệ thống phân loại

Phần này nêu lên vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, đặc điểm khí hậu, đặc điểm
kinh tế xã hội, đặc điểm hệ thực vật của khu vực nghiên cứu.
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các loài trong 2 chi Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa nhân
(Amomum Roxb.) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) phân bố ở Bắc Trung Bộ.
Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu là các Vườn Quốc Gia (Bến En, Pù Mát, Vũ Quang,
Phong Nha - Kẻ Bàng, Bạch Mã) và các Khu bảo tồn thiên nhiên (Xuân Liên, Pù
Luông, Pù Hoạt, Pù Huống, Kẻ Gỗ) ở Bắc Trung Bộ. Ngoài ra còn thu mẫu ở một số
địa điểm của các huyện: Nghi Lộc, Thanh Chương, Kỳ Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong
(Nghệ An), Hương Sơn, Thạch Hà (Hà Tĩnh), Nam Đông, Phú Lộc (Thừa Thiên Huế).
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tính đa dạng thực vật của 2 chi Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa nhân
(Amomum Roxb.) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) phân bố ở Bắc Trung Bộ.
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài trong 2 chi Riềng
(Alpinia Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.)
ở Bắc Trung Bộ.
- Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài nói trên.


6

- Xác định hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong 2 chi
Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.) của họ Gừng (Zingiberaceae
Lindl.) ở Bắc Trung Bộ.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu sinh học
2.3.1.1. Phƣơng pháp kế thừa số liệu
Các số liệu về điều kiện tự nhiên, xã hội ở khu vực nghiên cứu, các mẫu vật lưu ở

cứu có thể giữ được thời gian lâu mà không bị thối nát, cấu trúc, hình dạng và màu
sắc của hoa không bị thay đổi nên dễ dàng phân tích hơn. Ngoải ra còn chụp ảnh tổng
thể và chi tiết từng bộ phận của cây bằng máy ảnh kĩ thuật số Canon.
Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng mẫu
thực vật của trường Đại học Vinh.
Phương pháp dùng để nghiên cứu phân loại là phương pháp hình thái so sánh. Đây
là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng vẫn là phương pháp thông dụng được
sử dụng hiện nay. Trong phương pháp này chúng tôi dựa trên các đặc điểm của cơ
quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản để nghiên cứu trong đó chủ yếu dựa vào cơ quan
sinh sản như vị trí cụm hoa, cấu tạo của hoa, đặc điểm của lá bắc, đài hoa, đặc biệt là
đặc điểm của cánh môi, cấu tạo của nhị và nhị lép bên. Bởi vì đây là những đặc điểm ít
thay đổi dưới tác động của điều kiện sống.
Tổng số mẫu thu được là hơn 1.000 mẫu, số mẫu đã phân tích và xác định tên khoa
học là 600 mẫu. Mẫu hiện được lưu trữ ở phòng mẫu Thực vật, khoa Sinh học.
Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu mẫu là: Nguyễn Quốc
Bình (2011), Phân loại Họ Gừng ở Việt Nam; Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt
Nam, Quyển III; H. W. Li (1982), Flora of China; T. Wu và L. K. Larsen (2000), Flora
of China, Vol. 24, Zingiberaceae.
2.3.1.4. Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài trong chi Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa
nhân (Amomum Roxb.) ở Bắc Trung Bộ
Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài trong 2 chi qua các tài liệu đã công bố trong
và ngoài nước về các loài nghiên cứu để bổ sung vào giá trị sử dụng tài nguyên của 2 chi
này trong họ Gừng: Võ Văn Chi (2012), Đỗ Tất Lợi (1995), Lê Trần Đức (1997), Triệu
Văn Hùng và cs (2007), Đỗ Huy Bích và cs (2004), Tushar B.S. et al., (2010). Hanh N.P
et al., (2015), Wongsatit C. (2003) và thông qua phỏng vấn người dân.
2.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu
2.3.2.1. Thu mẫu và chƣng cất tinh dầu
Mẫu để chưng cất tinh dầu là các bộ phận riêng biệt của cây (lá, thân giả, thân rễ,
hoa, quả). Mỗi mẫu thu từ 0,5-3 kg tươi. Mẫu được ghi số hiệu (số hiệu này trùng với
số hiệu mẫu để định loại) và ngày tháng thu. Sau khi thu hái, mẫu được cắt nhỏ và

2.3.2.3. Phƣơng pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Chuẩn bị mẫu phân tích cho sắc ký khí : Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm
khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký.
Sắc ký khí (GC) với đầu dò FID: Được thực hiện trên máy Agilent Technologies
HP 6890N Plus với detectơ FID, cột mao quản HP-5MS chiều dài 30 m, đường kính
trong (ID) = 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25m với khí mang là hydro. Nhiệt độ buồng
bơm mẫu là 250oC. Nhiệt độ Detectơ là 260oC. Chương trình nhiệt độ 60oC (2 min), tăng
4oC/phút cho đến 220oC, dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút.
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS): Được thực hiện trên hệ thống thiết bị sắc ký khí khối
phổ liên hợp Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD với cột tách và các điều
kiện vận hành sắc ký như nêu ở trên và với Heli làm khí mang.
Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện bằng các
phương pháp sau:
- Dựa trên giá trị của chỉ số lưu giữ (Retention Index), xác định với một dãy các
đồng đẳng n-alkan trong cùng một điều kiện sắc ký.


9

- Dựa trên sắc ký nội chuẩn (co-injection) với các chất chuẩn thương mại (của hãng
Sigma-Aldrich, St. Louis, MO, USA) hoặc với các thành phần tinh dầu đã biết.
- Dựa trên phổ khối lượng, so sánh với phổ khối lượng tìm thấy trong các ngân
hàng dữ liệu (NIST 08 và Wiley 9th Version) hoặc so sánh với các dữ liệu của các tài
liệu tham khảo.
Tỉ lệ % các thành phần trong tinh dầu được tính toán dựa trên diện tích hoặc chiều
cao của pic sắc ký (detector FID) mà không sử dụng các yếu tố điều chỉnh.
2.4. Phƣơng pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí trên phần mềm Microsoft Office Excel 2007.
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

menghaiensis) hoặc chùm kép (hình chùy) (cụm hoa phân nhánh: A. breviligulata, A.
macroura, A. oblongifolia, A. polyantha,…). Hoa thường có cuống ngắn. Lá bắc chính
sớm rụng, hình trứng hoặc hình trứng rộng. Lá bắc con dạng ống, mở đến gốc (A.
menghaiensis, A. macroura, A. malaccensis) hay không (A. conchigera). Đài hoa dạng
ống (A. breviligulata, A. galanga) hay dạng phễu (A. mutica); các cánh hoa thường có
màu trắng; cánh môi có kích thước to hơn các cánh bên, hình trứng ngược (A.
conchigera), hình trái xoan (A. menghaiensis, A. macroura), hình chữ nhật (A.
galanga); có màu sắc sặc sỡ như màu vàng, hồng; chia thùy ở phía trên đầu (A.
menghaiensis, A. polyantha,…). Nhị có bao phấn kéo dài thành mào (A. oblongifolia,
A. intermedia, A. tonkinensis, A. latilabris, A. maclurei) hay không (A. globosa, A.
officinarum, A. mutica).
+ Quả: kích thước từ 0,5 - 3 cm, hình cầu hay bầu dục, đặc biệt quả loài Riềng nếp (A.
galanga) có hình bầu dục nhưng thắt eo ở giữa, đây là đặc điểm để nhận biết loài này;
quả khô không mở; có nhiều hạt, hạt thường có góc cạnh và được bao bởi lớp áo hạt
màu trắng.
* Chi Sa nhân (Amomum Roxb.)
+Thân: Là thân giả, do các bẹ lá ôm nhau tạo thành. Cao từ 0,5-4 m. Thân cây có
mùi thơm.
+ Lá: có cấu tạo gồm phiến lá, cuống lá, lưỡi lá và bẹ lá.
- Phiến lá: Dạng thuôn dài (A. aromaticum), dạng bầu dục (A. maximum, A. repoense),
dạng mũi mác (A. gagnepainii, A. muricarpum, A. villosum), kích thước rất thay đổi,
phiến lá nhẵn (A. gagnepaininii, Amomum sp., A. muricarpum,…) hoặc có lông mặt
dưới (A. maximum, A. repoense).


11

- Cuống lá: Lá có thể không cuống (A. aromaticum, A. xanthioides), có cuống ngắn
dưới 1 cm (A. aculeatum, A. longiligulare, A. muricarpum, A. ovoideum), cuống dài
đến 5 cm (A. gagnepainii, Amomum sp., A. truncatum) thậm chí dài đến 20 cm (A.


12

hainanensis), Riềng quảng tây (Alpinia kwangsiensis), Ré (Alpinia latilabris), Riềng
maclure (Alpinia maclurei), Riềng đuôi nhọn (Alpinia macroura), Riềng malacca
(Alpinia malaccensis), Riềng meng hai (Alpinia menghaiensis), Riềng không mũi
(Alpinia mutica), Riềng (Alpinia napoensis), Riềng thuốc (Alpinia officinarum),
Riềng nhiều hoa (Alpinia polyantha), Riềng lá nhăn (Alpinia rugosa), Ré bắc bộ
(Alpinia tonkinensis). Một số loài phân bố ở cả đai thấp và đai cao như: Riềng dài lông
mép (Alpinia blepharocalyx), Riềng rừng (Alpinia conchigera), Riềng nếp (Alpinia
galanga), Riềng (Alpinia intermedia), Lương khương (Alpinia oblongifolia), Riềng
pinna (Alpinia pinnanensis). Riềng bông tròn (Alpinia strobiliformis) mới chỉ gặp phân
bố ở đai cao (trên 900 m).
- Mùa ra hoa, mùa quả: Tùy vào từng loài mà có mùa ra hoa, mùa quả khác nhau
nhưng chủ yếu ra hoa từ tháng 2 đến tháng 5 hoặc tháng 6 như: Riềng ấm (Alpinia
gagnepainii), Riềng quảng tây (Alpinia kwangsiensis), Riềng bông tròn (Alpinia
strobiliformis).
Hầu như các loài đều ra hoa từ tháng 3 đến tháng 6, có quả từ tháng 5 đến tháng
9, điển hình như: Riềng dài lông mép (Alpinia blepharocalyx), Sẹ (Alpinia globosa),
Riềng hải nam (Alpinia hainanensis), Riềng maclure (Alpinia maclurei), Riềng meng
hai (Alpinia menghaiensis), Lương khương (Alpinia oblongifolia), Ích trí (Alpinia
oxyphylla), Riềng lá nhăn (Alpinia rugosa). Một số loài ra hoa từ tháng 4 đến tháng 6,
có quả tháng 6 đến tháng 8(9) như Riềng (Alpinia intermedia), Ré (Alpinia latilabris),
Riềng malacca (Alpinia malaccensis), Riềng thuốc (Alpinia officinarum), Riềng nhiều
hoa (Alpinia polyantha).
Một số loài ra hoa từ tháng 4(5-6) đến tháng 7(8), có quả từ tháng 7 đến tháng
11(12) như Riềng lưỡi ngắn (Alpinia breviligulata), Riềng rừng (Alpinia conchigera),
Riềng (Alpinia napoensis), Riềng nếp (Alpinia galanga), Ré bắc bộ (Alpinia
tonkinensis), Riềng pinna (Alpinia pinnanensis).
Các loài ra hoa tháng từ tháng 8 đến tháng 12 hoặc từ tháng 12 đến tháng 1

loài được kế thừa từ các công bố của các tác giả trước). Trong đó chi Riềng (Alpinia) với
26 loài và chi Sa nhân (Amomum) với 14 loài (bảng 3.1).
Bảng 3.1. Danh lục các loài thuộc 2 chi Riềng (Alpinia) và Sa nhân (Amomum)
TT

Tên khoa học

Tên Việt Nam

GTSD

1

Alpinia blepharocalyx K. Schum.*

2

Alpinia breviligulata (Gagnep.) Gagnep. Riềng lưỡi ngắn

THU,CTD

3

Alpinia conchigera Griff.

THU,CTD,

Riềng dài lông mép THU,CTD
Riềng rừng


Alpinia globosa (Lour.) Horan

Sẹ

THU,CTD

7

Alpinia hainanensis K. Schum.

Riềng hải nam

THU,CTD

8

Alpinia intermedia Gagnep.

Riềng

9

Alpinia kwangsiensis T. L. Wu

Riềng quảng tây

CTD
THU,CTD,
ANĐ



14

Alpinia menghaiensis S.Q. Tong & Y.M. Riềng meng hai
Xia*

THU,CTD
THU,CTD,
ANĐ

15

Alpinia mutica Roxb.

Riềng không mũi

THU,CTD

16

Alpinia napoensis H.Dong & G.J.Xu

Riềng

THU,CTD

17

Alpinia oblongifolia Hayata



Chen
21

Alpinia polyantha D. Fang**

Riềng nhiều hoa

THU,CTD

22

Alpinia rugosa S. J. Chen & Z. Y.

Riềng lá nhăn

THU,CTD

Chen**
23

Alpinia siamensis K. Schum.KT

Riềng xiêm

THU

24

Alpinia strobiliformis T. L. Wu & S.J.


27

Amomum aculeatum Roxb.KT

Sa nhân cựa

CTD,ANĐ

28

Amomum aromaticum Roxb.*

Sa nhân thơm

THU,CTD,
CGV

29

Amomum gagnepainii T. L. Wu, K. K.

Riềng ấm

THU,CTD,

Larsen &Turland
30

CGV


Amomum ovoideum Pierre ex

Sa nhân trứng

THU,CTD,

Gagnep.KT

CGV

35

Amomum repoense Pierre ex Gagnep. Sa nhân mien

THU,CTD

36

Amomum sp.

Sa nhân

CTD

37

Amomum truncatum Gagnep.

Riềng cụt

thực vật Việt Nam; KT: Kế thừa từ các tài liệu; Giá trị sử dung (GTSD): THU: Cây làm
thuốc, ANĐ: Cây ăn được; CTD: cây tinh dầu, CGV: cây làm gia vị
Để thấy được tính đa dạng 2 chi của họ Gừng (Zingiberaceae) ở Bắc Trung Bộ,
kết quả được so sánh với Việt Nam (bảng 3.2).
Bảng 3.2. So sánh số loài trong các chi được nghiên cứu với Việt Nam
TT
1

Chi
Alpinia

Số loài

Việt

Tỷ lệ % giữa

nghiên cứu (1)

Nam (2)

(1) và (2)

26

31

83,87



Loài Riềng đuôi nhọn (Alpinia macroura K. Schum.), Riềng meng hai (Alpinia
menghaiensis S.Q. Tong & Y.M. Xia), Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) và Sa
nhân quả có mỏ (Amomum muricarpum Elmer) trước đây chủ yếu phân bố ở miền
Bắc (Nguyễn Quốc Bình, 2011); các loài Riềng dài lông mép (Alpinia blepharocalyx
K. Schum.), Riềng malacca (Alpinia malaccensis (Burm.f.) Rosc.) có phân bố cả
Miền Bắc và Miền Nam. Đặc biệt, có 2 loài mới ghi nhận phân bố ở miền Trung
trước đây chỉ có ở Trung Quốc là Riềng lá nhăn (Alpinia rugosa S. J. Chen & Z. Y.
Chen) và Riềng nhiều hoa (Alpinia polyantha D. Fang). Điều này chứng tỏ Bắc Trung
Bộ một khu vực có độ đa dạng sinh học cao với sự có mặt của các loài có khu phân
bố tương đối hẹp và chỉ phân bố trong một số môi trường sống nhất định như rừng
nguyên sinh, rừng thứ sinh, ven suối.
3.1.5. Đa dạng về giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của các loài thực vật trong chi Riềng (Alpinia) và Sa nhân
(Amomum) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) được xác định dựa theo các tài liệu trong


17

và ngoài nước. Trong số 40 loài được ghi nhận có mặt ở Bắc Trung Bộ thì có 38 loài
cho giá trị sử dụng chiếm 95,0% tổng số loài, thuộc 4 nhóm giá trị sử dụng khác
nhau. Nhóm cây cho tinh dầu chiếm tỷ lệ lớn nhất với 36 loài chiếm 90,0%; tiếp theo
là nhóm làm thuốc với 30 loài (75,0%) so với tổng số loài nghiên cứu; nhóm cây làm
gia vị với 11 loài (27,5%); nhóm cây ăn được với 6 loài (15,0%).
- Nhóm cây cho tinh dầu
Hầu như tất cả các loài trong họ Gừng (Zingiberaceae) nói chung và chi Riềng
(Alpinia), Sa nhân (Amomum) nói riêng đều có chứa tinh dầu. Tuy nhiên, tùy vào
từng loài, từng chi mà sự tích lũy hàm lượng tinh dầu khác nhau. Tinh dầu của các
loài trong 2 chi này có giá trị cao nên được ứng dụng làm mỹ phẩm, dược phẩm, y
học,... [25]. Với 36 loài thuộc 2 chi được nghiên cứu cho tinh dầu chiếm 90,0% tổng
số loài được nghiên cứu. Hiện nay, đã chưng cất được 98 mẫu tinh dầu và phân tích

3.1.6. Đặc điểm của các loài trong 2 chi Riềng (Alpinia Roxb.) và Sa nhân
(Amomum Roxb.) phân bố ở Bắc Trung Bộ
Trong số 40 loài của 2 chi có chứa tinh dầu, có 12 loài đã được nghiên cứu thành phần
hóa học của tinh dầu. Phần này giới thiệu một số đặc điểm nhận biết, sinh thái, phân bố,
giá trị và chỉ rõ mẫu nghiên cứu, định loại và phân tích thành phần hóa học của tinh dầu.
3.2. Thành phần hóa học tinh dầu của một số loài thuộc 2 chi Riềng (Alpinia
Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.) ở Bắc Trung Bộ
3.2.1. Chi Riềng (Alpinia Roxb.)
Kết quả phân tích 29 mẫu tinh dầu ở các bộ phận lá, thân giả, thân rễ, quả thuộc 7
loài trong chi Riềng (Alpinia) được tổng hợp qua bảng 3.11. Hàm lượng tinh dầu biến
động từ 0,1%-0,4% trọng lượng tươi. Tinh dầu đều có màu vàng nhạt, nhẹ hơn nước và
có mùi thơm dễ chịu. Các thành phần hóa học được xác định chiếm từ 89,1%-99,0%
tổng lượng tinh dầu. Trong tinh dầu chủ yếu là các monotecpen và các sesquitecpen.
Bảng 3.11. Các thành phần chính trong tinh dầu ở các bộ phận khác nhau của một số
loài thuộc chi Riềng (Alpinia Roxb.) ở Bắc Trung Bộ
TT

1

Loài

Alpinia
latilabris

Hàm
Số hợp
Bộ
lƣợng chất xác
phận
(%) định đƣợc


19

TT

2

3

4

5

Loài

Alpinia
maclurei

Alpinia
malaccensis

Alpinia
menghaiensis

Alpinia
mutica

Hàm
Số hợp
Bộ

giả

0,19

40

Thân
rễ

0,32

38

Quả

0,25

54



0,2

36

Thân
gỉa

0,18


và limonen (4%)
β-pinen (47,1%), α-pinen (5,7%), βcaryophyllen (5,5%), caryophyllen
oxid (5,7%)
β-pinen (22,1%), fenchyl axeat
(6,7%), α-pinen (4,1%) và benzyl
benzoat (3,7%)
β-pinen (56,0%) và α-pinen (10,3%)
β-pinen (46,0%), β-phellandren
(12,1%), α-pinen (9,8%) và αphellandren (5,7%),
β-pinen (31,7%), β-phellandren
(12,9%), α-pinen (6,3%) và αselina-6-en-4-ol (5,5%)
methyl cinnamat (27,8%), βpinen (18,5%) và β-phellandren
(12,9%)
β-pinen (62,4%), α-pinen
(15,8%), benzyl benzoat (4,0%)
và limonen (3,8%)
β-pinen (46,40%), α-pinen
(12,7%), o-cymen (5,4%),
limonene (5,1%) và αphellandren (4,8%)
β-pinen (41,8%), α-pinen (11,1%),
α-phellandren (5,4%), o-cymen
(4,6%) và limonen (4,8%)
β-pinen (40,4%), α-pinen (11,3%), αterpinen (4,7) và 1,8-cineol (8,2%)
β-pinen (21,3%), 1,8-cineol
(20,9%), α-pinen (12,5%) và
camphen (7,1%)
1,8-cineol (19,9%), β-pinen


20

(18,6%), α-pinen (12,8%) và
rễ
fenchyl acetat (7,0%)
β-caryophyllen (22,6%), α-cadinol
Quả 0,17
50
(8,9%) và camphor (7,8%)
1,8-cineol (20,5%), α-phellandren

0,4
55
(10,8%), 4-phenyl-2-butanol (19,5%)
Thân
1,8 cineol (10%), β-elemen (8,7%),
0,1
56
giả
α-gurjunen (7,6%) và farnesol (5%)
Thân
farnesol
(8,4%),
α-gurjunen
0,15
54
rễ
(6,2%), camphen (5,6%)
β-caryophyllen (11,4%), farnesol
Quả
0,2
29

(10,6%), -agarofuran (10,3%)
giả
và globulol (8,8%)
β-cubeben (12,6%), fenchyl
Thân
0,25
41
acetat (10,8%), -maalien
rễ
(9,0%), aristolen (8,8%) và α-


21

TT

Loài

Hàm
Số hợp
Bộ
lƣợng chất xác
phận
(%) định đƣợc

Quả

0,23

61



22

Bảng 3.17. Các thành phần chủ yếu trong tinh dầu ở các bộ phận khác nhau của một
số loài thuộc chi Sa nhân (Amomum) ở Bắc Trung Bộ
TT

Loài

1

Amomum
gagnepainii

2

3

4

5

Amomum
maximum

Amomum
muricarpum

Amomum

0,25

53

Thân
rễ

0,34

44

0,25

47

0,23

55

farnesyl axetat (18,5%), zerumbon
(16,4%), β-caryophyllen (10,5%)
β-pinen (40,8%), α-pinen (9,7%),
β-elemen (10,9%), β-caryophyllen
(8,3%)
β-pinen (20,4%), β-elemen (12,8%)
và β-caryophyllen (10,3%)
β-pinen (28,0%), α-pinen (15,0%);
β-phellandren (11,6%), camphen
(5,4%)
α-pinen (31,9%) và β-pinen (16,2%)

0,10

36

α-pinen (24,1%) và β-pinen (14,1%)
α-pinen (29,3), β-pinen (17,9)
β-pinen (6,6%) và α-pinen (22,0%)
β-pinen (48,1%) và α-pinen (16,%)

0,18

42

β-pinen (34,7%) và α-pinen (11,6%)

0,13

31

0,17

43

0,15

34


Thân
giả


23

TT

Loài

Hàm
Số hợp
Bộ
lƣợng chất xác
phận
(%) định đƣợc
Thân
giả
Thân
rễ

0,1

25

0,17

41

Tỷ lệ % một số thành phần
chính của tinh dầu
(9,4%) và δ-cadinen (9,0%)
spathoulenol (21,8%), β-elemen



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status