ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN MINH PHƯƠNG
TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN – KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH
Hà Nội, 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa hoc, Khoa Sau đại học Trường Đại
học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các thầy cô giáo đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy Nguyễn
Đức Thành, đã chu đáo, tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban giám đốc, các bạn đồng
nghiệp đang công tác làm việc tại Vụ Quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã cung cấp số liệu, tạo điều kiện cho tôi được nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, song
chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
2.2. Thực trạng tự do hóa các giao dịch vốn ở Việt Nam......................................34
2.2.1. Đánh giá hiện trạng tự do hóa giao dịch vốn theo phương pháp chấm
điểm HEATMAP..............................................................................................34
2.2.2. Chính sách tự do hóa giao dịch vốn tại Việt Nam..................................44
2.2.3. Mức độ và quy mô các luồng vốn nước ngoài vào, ra Việt Nam............52
2.2.4. Đánh giá tác động của luồng vốn vào, ra:.............................................61
2.3. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới..........................................................64
2.3.1. Kinh nghiệm của một số nước chuyển đổi..............................................64
2.3.2. Kinh nghiệm của một số nước Châu Á...................................................70
2.3.3. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam...................................................75
CHƯƠNG 3 LỘ TRÌNH TỰ DO HÓA CÁC GIAO DỊCH VỐN TẠI VIỆT NAM...79
3.1. Các định hướng và mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
đến năm 2020..........................................................................................................79
3.2. Quan điểm và định hướng tự do hóa các giao dịch vốn đến năm 2020.........82
3.3. Khuôn khổ chính sách và lộ trình thực hiện tự do hóa các giao dịch vốn tại
Việt Nam đến năm 2020.........................................................................................83
3.3.1. Một số đề xuất chính sách......................................................................83
3.3.2. Lộ trình thực hiện..................................................................................86
3.4. Phương thức thực hiện việc tự do hóa các giao dịch vốn...............................90
3.4.1. Đối với luồng vốn vào...........................................................................90
3.4.2. Đối với luồng vốn ra..............................................................................93
KẾT LUẬN.................................................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................100
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
BOE
Ngân hàng trung ương Anh
BRICS
Tổ chức các nền kinh tế mới nổi
CSTT
Chính sách tiền tệ
CSTK
Chính sách tài khóa
CPI
Chỉ số giá tiêu dùng
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
FED
Tổng sản phẩm quốc nội
17
ICOR
Hệ số đầu tư tăng trưởng
18
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
19
NĐT
Nhà đầu tư
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTW
ROA
Lợi nhuận trên tổng tài sản
26
TCTD
Tổ chức tín dụng
27
TTCK
Thị trường chứng khoán
UBCKNN
Ủy ban chứng khoán Nhà nước
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
1
Số hiệu
Bảng 1.1
35
c a Capital flow freedom Index 2012
Dư nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh
57
nghiệp giai đoạn 2007-2012
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy
59
phép thời kỳ 1989 – 2012
Quy mô và tỷ trọng đầu tư gián tiếp ròng/GDP
61
giai đoạn 2005-2011
Tăng trưởng GDP thực giai đoạn 2000 – 2012
62
Lộ trình tự do hóa giao dịch vốn của Việt Nam
85
giai đoạn 2015-2020
Bảng 1.1: Các rủi ro tài chính......................................................................................14
Bảng 2.1: Các mức độ mở cửa tương ứng với thang điểm của.....................................35
Bảng 2.2: Dư nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp (2007-2012).................58
Bảng 2.3: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1989 – 2012.....60
Bảng 2.4: Quy mô và tỷ trọng đầu tư gián tiếp ròng/GDP giai đoạn 2005-2011..........62
Bảng 2.5: Tăng trưởng GDP thực giai đoạn 2003 – 2012............................................63
Bảng 3.1: Lộ trình tự do hóa giao dịch vốn của Việt Nam giai đoạn 2015-2020..........86
iii
DANH MỤC HÌNH VẼ
STT
54
58
60
2011)
Hình 2.5
VN-Index giai đoạn 2000 – 2011
62
5
Hình 2.1: Mối tương quan giữa vốn thực hiện/vốn đăng ký giai đoạn 2008 – 2012.....53
Hình 2.2: Xuất khẩu của khu vực FDI giai đoạn 2008 – 2013.....................................54
Hình 2.3: Chỉ số nợ nước ngoài/GDP của Việt Nam (%).............................................59
Hình 2.4: Luồng vốn vào và chỉ số CPI theo quý giai đoạn 1999 – 2011.....................61
Hình 2.5: VN-Index giai đoạn 2000 – 2011.................................................................63
iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới, tự do hóa và toàn cầu hóa
tài chính cũng trở thành xu hướng lớn thế giới. Làn sóng tự do hóa bắt đầu tư sau
Chiến tranh thế giới lần thứ II, rộ lên cao trào vào những năm 1990 và bước sang
những năm đầu thế kỷ 21, thế giới đã tiếp tục chứng kiến làn sóng di chuyển vốn
gia tăng mạng mẽ. Luồng vốn quốc tế ngày càng luân chuyển mạnh hơn, nhanh hơn
đã trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế thế giới. Sự vận động
xuyên quốc gia của các luồng vốn này mang lại nhiều lợi ích cho các nền kinh tế
nhưng cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt đối với sự ổn định khu vực tài chính
quốc gia.
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế
trọng trong quá trình tự do hóa tiếp theo trước mức độ mở hiện nay của nền kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Xung quanh chủ đề về tự do hóa tài khoản vốn đã có khá nhiều công trình đề
cập đến, trong đó có một số công trình sau đây:
- Nguyễn Thị Nhung (2007), “Tự do hóa các giao dịch vốn trong quá trình tự
do hóa tài chính ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức”, Kỷ yếu các công trình nghiên
cứu khoa học, Quyển 7, Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Nguyễn Toàn Thắng (2010) “Lý luận và thực tiễn về tự do hoá các giao
dịch vốn và sự ổn định khu vực tài chính Việt Nam: Khuôn khổ chính sách đến năm
2020”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Ngân hàng Nhà nước.
- Tô Ánh Dương (2007), “Kiểm soát luồng vốn ra trong bối cảnh tự do hóa
tài khoản vốn” Tự do hóa tài chính: Xu thế và giải pháp chính sách, Nxb Văn hóa –
Thông tin.
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2007), ” Tự do hóa tài chính: Xu thế và
giải pháp chính sách”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Văn hóa – Thông tin.
Ngoài ra còn hàng loạt các sách tham khảo, giáo trình, các bài viết đăng tải trên
các tạp chí chuyên ngành. Đây là các công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo rất tốt
về lý luận và thực tiễn.
2
Nhìn chung, các bài viết đều cho thấy những rủi ro có thể gây ra trong lĩnh
vực tài chính và cũng có thể tác động đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế của tự
do hóa các giao dịch vốn. Tuy nhiên, ít có bài viết, bài nghiên cứu phân tích, đánh
giá về mức độ mở cửa của hệ thống tài khoản vốn trên cơ sở rà soát các quy định
hiện hành để qua đó theo dõi tiến trình tự do hóa tài khoản vốn và xác định mục tiêu
trong mốc kế hoạch chi tiết về lộ trình tự do hóa.
3. Mục đích nghiên cứu
- So sánh kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong quá trình tự do
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ DO HÓA
CÁC GIAO DỊCH VỐN
1.1. Khái niệm, phân loại các giao dịch vốn
1.1.1. Khái niệm giao dịch vốn
Giao dịch vốn là những giao dịch liên quan đến chuyển dịch vốn giữa người
cư trú và người không cư trú của một quốc gia. Toàn bộ các giao dịch này được
phản ánh trên cán cân vốn và cán cân tài chính trong bảng cán cân thanh toán quốc
tế của quốc gia đó.
1.1.2. Phân loại các giao dịch vốn
1.1.2.1. Phân loại theo chức năng đầu tư
Theo bản chất kinh tế, các giao dịch vốn được phân thành chuyển giao vốn
một chiều, giao dịch về tài sản phi tài chính, phi sản xuất và các giao dịch về tài sản
có và tài sản nợ tài chính. Tuy nhiên, khi đánh giá các giao dịch vốn, người ta
thường phân loại theo chức năng đầu tư. Theo hướng dẫn của IMF, các giao dịch
vốn gồm:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign
direct Investment ): là hình thức đầu tư quốc tế mà một đơn vị cư trú của một nền
kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) có lợi ích lâu dài ở một nền kinh tế khác (đơn vị được
đầu tư trực tiếp) thông qua việc sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền bỏ
phiếu của đơn vị được đầu tư trực tiếp. Trong trường hợp này nhà đầu tư trực tiếp
được hưởng một khoản cổ tức phụ thuộc vào tình trạng kinh doanh của doanh
nghiệp. Theo Luật đầu tư của Việt Nam thì đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do
nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Với khái niệm này,
đầu tư trực tiếp được nhấn mạnh ở việc có tham gia vào quản lý hoạt động đầu tư
chứ không quy định cụ thể tỷ lệ vốn góp như hướng dẫn của IMF.
chiều” nhanh chóng và do vậy việc tự do hóa dòng vốn này đòi hỏi phải chuẩn bị tốt
để nhằm giảm thiểu tới mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra.
- Đầu tư khác: bao gồm các khoản vay nợ nước ngoài ngắn, trung, dài hạn; tín
dụng thương mại; các khoản đầu tư dưới dạng tiền hay tiền gửi và các tài sản có và
tài sản nợ nước ngoài khác. Trong đầu tư khác ở các nước đang phát triển, vay nợ
nước ngoài thường chiếm tỷ trọng chủ yếu (mà chủ yếu là vay qua hệ thống ngân
hàng thương mại, trung gian tài chính) và tín dụng thương mại (thông qua hình thức
L/C trả chậm) tuy nhiên hình thức này vẫn đòi hỏi phải có sự bảo lãnh của ngân
6
hàng nên có thể nói đây là hình thức vay nợ nước ngoài “ẩn” qua hệ thống ngân
hàng. Chính vì vậy, dòng vốn này có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống ngân hàng, và
ngược lại, “sức khỏe” của ngân hàng cũng ảnh hưởng nhiều đến tính ổn định của
luồng vốn này.
Tóm lại, mỗi loại hình đầu tư có chức năng riêng, đặc trưng riêng, đòi hỏi
phương thức quản lý và các chính sách điều chỉnh đi kèm cũng rất khác nhau và do
vậy, xu thế tác động của từng giao dịch vốn này cũng rất khác nhau tới sự ổn định
tài chính quốc gia.
1.1.2.2. Phân loại theo chiều dịch chuyển của luồng vốn
Theo tiêu chí này, các giao dịch vốn được phân thành: luồng vốn vào nền kinh
tế trong nước (inflow – bao gồm vốn mới nhận đầu tư và các khoản thu hồi vốn gốc
đã đầu tư trước đây từ nước ngoài về) và luồng vốn ra khỏi nền kinh tế trong nước
(outflow – bao gồm vốn đầu tư mới ra nước ngoài và các khoản hoàn trả vốn gốc
đầu tư cho người không cư trú). Nghiên cứu các giao dịch vốn theo tiêu chí này
giúp đem lại cái nhìn cụ thể về mối quan hệ chủ nợ và con nợ của từng giao dịch và
hơn hết là biết được luồng vốn đó vào, ra vì mục đích gì. Ví dụ, cùng là luồng vốn
ra nhưng nếu đó là luồng vốn của người cư trú đầu tư ra nước ngoài, thể hiện đó là
quốc gia thừa vốn hoặc tỷ suất lợi nhuận của nền kinh tế trong nước không cao bằng
đường để vào nền kinh tế thực đó là (i) cá nhân, tổ chức kinh tế (gọi tắt là khu vực
phi tài chính hay khu vực nền kinh tế thực) tự đi vay nợ nước ngoài và chịu trách
nhiệm trả nợ theo đúng cam kết; (ii) khu vực phi tài chính vay nợ nước ngoài thông
qua các trung gian tài chính, các ngân hàng thương mại tức là các ngân hàng đứng
ra vay nợ, huy động vốn từ nước ngoài rồi cho vay, đầu tư vào nền kinh tế thực.
Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, các nước mới nổi do hệ số tín nhiệm của các
cá nhân, tổ chức kinh tế thấp và do các biện pháp kiểm soát vốn mà các nước này áp
đặt như không cho phép cá nhân, tổ chức phi tài chính vay nợ trực tiếp nước
ngoài…nên dòng vốn vay nợ nước ngoài vào các nước này thường đi theo cách gián
tiếp qua hệ thống ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh đó, kỳ hạn của vốn vay nợ
không hẳn đã như cam kết. Giả sử ngân hàng trong nước vay vốn nước ngoài với kỳ
hạn lớn hơn 1 năm nhưng chưa hẳn đây đã là luồng vốn dài hạn. Bởi sau một thời
gian, khi thấy những bất ổn của thị trường hay nền kinh tế trong nước có chiều
hướng đi xuống, chủ nợ ở nước ngoài sẵn sàng rút vốn ngay (kể cả chấp nhận một
tỷ lệ lãi phạt) và ngân hàng trong nước phải đáp ứng nhu cầu rút vốn mặc dù chưa
8
đến hạn trả, bởi nếu trì hoãn, ngân hàng sẽ bị nghi ngờ là mất khả năng thanh khoản
và hiệu ứng lan truyền có thể đưa ngân hàng đó và cả hệ thống ngân hàng tới rủi ro
mất khả năng thanh toán và nguy cơ khủng hoảng.
Do vậy, khi phân tích đến yếu tố thời hạn của dòng vốn thì không chỉ nhìn vào
các cam kết về kỳ hạn mà còn phải dựa vào bản chất của từng loại vốn để có thể
phán đoán tính ổn định hay bất ổn của từng luồng vốn từ đó có biện pháp điều tiết.
1.1.2.4. Phân theo chủ thể nắm giữ, đầu tư vốn
Các giao dịch vốn có thể được nghiên cứu, giám sát để thấy được chủ nợ, con
nợ thực của các giao dịch này theo từng khu vực trong nền kinh tế như khu vực
chính phủ, khu vực tài chính (bao gồm các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính
khác), khu vực nền kinh tế thực (tổ chức kinh tế, hộ gia đình và dân cư...). Việc theo
một lúc, và cũng không nên dỡ bỏ khi các tiền đề về nền tảng của nền kinh tế chưa
được chuẩn bị kỹ; (ii) nên tự do hóa các giao dịch vốn dài hạn trước khi tự do hóa
các dòng vốn ngắn hạn (tức là FDI và cổ phiếu trước tín dụng thương mại, các
khoản vay ngân hàng, các công cụ thị trường tiền tệ, tín dụng phi thương mại và các
công cụ phái sinh).
Tùy vào sự phát triển của thị trường tài chính trong nước và mức độ tự do hóa
tài khoản vốn mà các giao dịch vốn có thể được chuyển giao qua thị trường vốn
quốc tế (khi các chủ thể phi tài chính trong nước được phép vay hoặc cho vay trực
tiếp với người không cư trú); hoặc chuyển giao qua thị trường vốn trong nước (khi
người không cư trú được phép tiếp cận thị trường vốn trong nước và các trung gian
tài chính trong nước); hoặc kết hợp cả hai (khi các trung gian tài chính trong nước
vay hoặc cho vay người không cư trú). Lúc đó luồng vốn từ nước ngoài vào hoặc ra
khỏi nền kinh tế trong nước sẽ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp (qua trung gian
tài chính) đối với người cư trú của quốc gia.
1.2. Tự do hóa các giao dịch vốn
1.2.1. Khái niệm tự do hóa các giao dịch vốn
Tự do hóa các giao dịch vốn là một khái niệm thuộc tự do hóa tài chính. Tự do
hóa các giao dịch vốn là quá trình dỡ bỏ dần những hạn chế áp dụng đối với các
giao dịch vốn. Tự do hóa các giao dịch vốn bao gồm các nội dung chủ yếu sau: (i)
Cho phép người không cư trú sở hữu các tài sản tài chính trong nước ở cả dạng giấy
tờ nợ hoặc cổ phiếu; (ii) Cho phép người cư trú nắm giữ tài sản tài chính nước
ngoài; (iii) Cho phép tài sản tài chính sẽ được tự do nắm giữ và trao đổi trên thị
10
trường trong nước, đây là mức độ cao nhất của tự do hóa tài chính với bên ngoài và
chỉ có một số ít quốc gia trên thế giới thực hiện.
Mỗi quốc gia đều có thể lựa chọn cho mình một con đường đi đến đích tự do
hoá giao dịch vốn khác nhau. Có nước thực hiện tự do hoá giao dịch vốn nhanh
góp phần giảm chi phí trung gian tài chính, tăng hiệu quả hoạt động của các tổ chức
tài chính. Các tổ chức tài chính phải cạnh tranh với nhau trong việc thu hút các
luồng vốn, thị trường tài chính sẽ có nhiều sản phẩm tài chính với chất lượng cao
hơn để phục vụ mục đích quản lý rủi ro và thanh khoản. Các tổ chức tài chính
không những phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài
chính quốc tế. Kết quả là chỉ có những tổ chức tốt nhất mới có thể tồn tại và để tiếp
tục phát triển chúng sẽ phải hoạt động tốt hơn, hoàn thiện hơn. Sự xuất hiện của các
tổ chức tài chính quốc tế có uy tín sẽ kéo theo sự cải thiện trong hoạt động của các
tổ chức tài chính trong nước như: hoàn thiện hệ thống kế toán chuẩn, tuân thủ tính
minh bạch, công tác phát triển mạng lưới khách hàng, kỹ năng thanh toán quốc tế…
Mặc dù có thể có những tổn thất nhất định do việc xoá bỏ những biện pháp bảo hộ
song về lâu dài môi trường cạnh tranh này sẽ giúp các tổ chức tài chính trong nước
không chỉ phát triển tốt để phục vụ nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trường
quốc tế.
- Tiếp cận với dịch vụ tài chính tốt hơn: Đây là thành quả tất yếu của quá trình
hội nhập và tự do hoá. Trong môi trường cạnh tranh, chi phí dịch vụ giảm, chất
lượng dịch vụ được nâng cao, các loại hình dịch vụ được đa dang hoá, khách hàng
được tiếp cận với các lọai hình dịch vụ tốt nhất, nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả.
Rất nhiều dịch vụ được chuẩn hoá toàn cầu và xoá bỏ sự khác biệt về phạm vi lãnh
thổ, tạo ra thói quen trong hoạt động tài chính mang tính chất toàn cầu. Điều này
không chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả
của nền kinh tế.
- Thúc đẩy thương mại quốc tế: Thương mại quốc tế giúp đường giới hạn khả
năng sản xuất của mỗi quốc gia dịch chuyển sang bên phải, tức là đời sống nhân
dân được cải thiện và quốc gia thịnh vượng hơn. Giao dịch thương mại bao gồm hai
chiều, chuyển giao hàng hoá dịch vụ và thanh toán. Việc thanh toán các giao dịch
thương mại quốc tế thuộc cán cân vốn phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tự do của tài
khoản vốn và do đó có thể thúc đẩy rất tốt mối quan hệ thương mại quốc tế, kéo
theo sự phát triển trong các lĩnh vực khác như quan hệ đại lý giữa các tổ chức tài
mức độ hội nhập quốc tế càng sâu. Sự gắn kết giữa các nền kinh tế, các thị trường
trở nên chặt chẽ, gắn bó, tạo thành một hệ thống có những mối quan hệ hữu cơ với
13
nhau mà trong đó sự bất ổn định của một phần tử gây ra sự bất ổn định của các bộ
phận khác.
- Nguy cơ phát sinh rủi ro tài chính: Song song với những lợi ích có thể thu
được khi mở cửa dòng vốn, rất có thể việc cho phép dòng vốn tự do vào ra, cho
phép các định chế tài chính, các chủ thể tham gia thị trường tiếp cận rộng rãi và
không bị cản trở bởi các hạn chế sẽ dẫn đến việc tiếp cận với các dòng vốn từ nước
ngoài chứa đựng nhiều rủi ro, thậm chí những khoản nợ xấu. Các rủi ro tài chính
được thể hiện chi tiết trong bảng “Các rủi ro tài chính” dưới đây.
Bảng 1.1: Các rủi ro tài chính
Loại rủi ro
Rủi ro tín dụng
Bản chất
Rủi ro gây ra bởi bên đối tác thất bại trong việc thực hiện hợp
đồng tín dụng. Mức độ thua lỗ là giá trị thay thế của hợp đồng
Rủi ro thanh khoản
trên thị trường.
Rủi ro vì không có đủ khả năng thanh khoản để thực hiện hợp
Rủi ro lãi suất
Rủi ro thanh toán
gặp phải.
14
- Nguy cơ yếu kém do cạnh tranh mạnh mẽ: Trong quốc gia có hệ thống tài
chính chưa phát triển hoặc phát triển chưa đủ mạnh, các chủ thể cung cấp dịch vụ
tài chính có năng lực cạnh tranh thấp, tự do hoá các giao dịch vốn đồng nghĩa với
việc dỡ bỏ những bảo hộ, ưu đãi vốn có đối với các chủ thể cung cấp dịch vụ trong
nuớc. Điều này có thể tạo ra những động lực mới, nâng cao sức cạnh tranh cho các
chủ thể trong nước nếu các chủ thể này đã có một năng lực nhất định và sẵn sàng
cho cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu có sự chênh lệch về trình độ và năng lực của các chủ
thể trong và ngoài nước thì việc tự do hoá tài khoản vốn sẽ có thể trở thành một
thảm hoạ đối với hệ thống tài chính trong nước và nền kinh tế khó tránh khỏi những
cú sốc mà không dễ dàng vượt qua được. Ngoài ra, tự do hoá các giao dịch vốn có
thể làm tội phạm tài chính xuất hiện nhiều hơn và phức tạp hơn, làm môi trường
kinh doanh trở lên khó khăn hơn.
- Nguy cơ vỡ nợ hoặc gánh nặng nợ trầm trọng: Thông thường, luồng vốn vào
dưới hình thức vay nợ sẽ làm tăng gánh nặng nợ nần của quốc gia đó. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp dòng vốn FDI, lại là dòng vốn làm tăng gánh nặng nợ khi
các dự án FDI có nhu cầu vốn vay rất lớn. Nếu việc quản lý nợ nước ngoài không
hiệu quả, đặc biệt là nợ ngắn hạn rất có thể dẫn đến tình trạng không đủ khả năng
trả nợ, thậm chí còn xảy ra khủng hoảng nợ, do đó giảm hệ số tín nhiệm của quốc
gia cũng như giảm uy tín hoạt động của các chủ thể kinh tế, các doanh nghiệp trên
thị trường tài chính quốc tế. Việc này còn ảnh hưởng đến các chiến lược chính trị
khác của quốc gia. Kinh nghiệm các nước cho thấy Mỹ La tinh hay Thái Lan đã lâm
vào khủng hoảng tài chính do thiếu sự quản lý luồng vốn ngắn hạn. Để đối phó với
tình trạng này, ví dụ như ở Chi lê, đã yêu cầu các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài
phải giữ tiền mặt trong nước ít nhất 1 năm; và từ tháng 9/1998 các nhà đầu tư nước
ngoài phải đóng thuế dưới dạng nộp vào quỹ dự trữ 30% tổng số tiền cho vay những
Theo trường phái tân cổ điển, dòng vốn từ bên ngoài đóng góp cho tăng
trưởng như một nguồn bổ sung cho tiết kiệm trong nước, trong khi trường phái tăng
trưởng nội sinh cho rằng nguồn vốn từ bên ngoài không chỉ đóng vai trò bổ sung
vốn. Kèm theo sự hiện diện về mặt tiền tệ, dòng vốn từ bên ngoài còn đi kèm với
công nghệ, kỹ năng, sản phẩm mới cũng như những yếu tố tích cực từ bên ngoài
như nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính trong nước, cải thiện hiệu
quả phân phối nguồn lực, hiệu quả hoạt động trung gian tài chính của các tổ chức
16
tài chính trong nước. Do khả năng bổ sung vốn và tác động ngoại lai của các nguồn
vốn khác nhau, các nhà làm chính sách thường thiên về việc xây dựng cơ cấu luồng
vốn vào theo lộ trình từng bước, thận trọng, thiết lập ưu tiên vốn theo khả năng hấp
thụ của quá trình tăng trưởng kinh tế, khuyến khích sự đóng góp tích cực của từng
loại vốn. Tương tự, các nhà làm chính sách cũng thiết lập trật tự ưu tiên đối với
luồng vốn ra.
Nghiên cứu của McKinnon (1973) nhấn mạnh rằng các nước cần tự do hoá
thương mại hàng hoá và dịch vụ trước khi tự do hoá các giao dịch vốn bởi vì dòng
chảy vốn lớn do tự do hoá tài khoản vốn có thể dẫn đến việc tăng giá đồng nội tệ,
ảnh hưởng tiêu cực tới tính cạnh tranh thương mại và do đó hạn chế khả năng tự do
hoá thương mại. Nghiên cứu của McKinnon và Pill (1996) cho rằng tự do hoá tài
khoản vốn cần phải đợi đến khi cải cách ngân hàng được hoàn thiện và đạt được
những kết quả mong đợi. Nghiên cứu của Gilbert et al ( 2000) đưa ra một cảnh báo
nghiêm trọng :"Thậm chí với một trật tự tốt nhất có thể, qúa trình tự do hoá giao
dịch vốn vẫn có thể mắc sai lầm và khủng hoảng có thể xảy ra". Các nghiên cứu
cũng thống nhất với ý kiến rằng khi trật tự của quá trình tự do hoá tài khoản vốn bị
đổ vỡ thì mất mát bao giờ cũng lớn hơn lợi ích thu được từ nó rất nhiều lần và do đó
điều kiện tiên quyết của quá trình tự do hoá các giao dịch vốn là phải xác định đúng
đắn tiến trình tự do hoá này. Theo nghiên cứu của Ostry và các đồng tác giả (2010)