MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆUQUẢ VIỆC DẠY BUỔI 2 CHO HỌC SINH LỚP 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC BÁNTRÚ CAO BÁ QUÁT - Pdf 34

SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng, là cơ sở ban đầu
của hệ thống giáo dục phổ thông. Mục đích của giáo dục tiểu học là nhằm hình
thành cho học sinh những kiến thức ban đầu, rất quan trọng cho sự hình thành và
phát triển nhân cách sau này, chuẩn bị cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm
mĩ, thể chất…để tiếp tục học lên bậc trung học.
Đối với học sinh tiểu học, người ta thường nói đến mối quan hệ giữa học và
chơi, chơi và học. Vì vậy, ngoài việc học tập, nhu cầu chơi là vô cùng cần thiết với
các em. Học để mà vui chơi, vui chơi để tiếp thu kiến thức để học tập, học – chơi
được đan xen một cách hài hòa.
Để thực hiện mục tiêu trên thì việc tổ chức dạy 2 buổi/ngày ở các trường
tiểu học là một yêu cầu cần thiết. Thực hiện sự chỉ đạo của ngành về việc khuyến
khích tổ chức dạy 2 buổi ở trường tiểu học, trường Tiểu học Cao Bá Quát đã tổ
chức 2 buổi/ngày có bán trú từ năm học 1997. Đây là trường Tiểu học Bán trú đầu
tiên của huyện Trảng Bom ( trước đây là huyện Thống Nhất). Ngoài nhiệm vụ
chung như các trường tiểu học một buổi/ngày, nhà trường còn phải tổ chức cho học
sinh ăn, nghỉ trưa tại trường và tổ chức cho học sinh học tập buổi 2 sao cho có hiệu
quả. Đây là yêu cầu lớn đặt ra đối với tập thể sư phạm nhà trường. Vậy làm thế nào
để nâng cao chất lượng giảng dạy ở buổi 2 của trường bán trú mà vẫn đảm bảo
được phương châm của giáo dục tiểu học “Học nhẹ nhàng – tự nhiên – hứng thú –
hiệu quả” ? Đó là những trăn trở của giáo viên trong mỗi giờ lên lớp và cũng là
mối quan tâm hàng đầu của lãnh đạo nhà trường.
Chính vì vậy, để tránh những áp lực nặng nề của việc học buổi 2 ở trường
bán trú, theo tôi, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt một số hình thức của hoạt
động ngoài giờ lên lớp vào dạy các tiết dạy buổi 2 của mình. Đó là lí do và cũng là
nhiệm vụ trọng tâm của đề tài “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ VIỆC DẠY BUỔI 2 CHO HỌC SINH LỚP 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC BÁN
TRÚ CAO BÁ QUÁT” mà tôi lựa chọn.
II. THỰC TRẠNG VIỆC GIẢNG DẠY BUỔI 2 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

minh hoạt bát mà còn phải có tâm hồn trong sáng, lành mạnh, một cơ thể cường
tráng. Việc giáo dục HS phát triển toàn diện là xu thế tất yếu của toàn xã hội, là
vấn đề chung của toàn cầu. Vì vậy việc tổ chức dạy 2 buổi/ngày góp phần không
nhỏ vào việc giáo dục phát triển toàn diện cho HS.
Việc tổ chức dạy 2 buổi/ngày tạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS có nhiều
cơ hội thể hiện được mọi vấn đề. GV có nhiều cơ hội giáo dục kiến thức và rèn kĩ
năng sống cho HS còn HS lại thuận lợi trong việc tiếp nhận cái hay cái đẹp, các
hành vi chuẩn mực trong cuộc sống, tăng thêm mối quan hệ gần gũi với bạn, với
thầy, rất tốt cho việc giao tiếp sau này. Các em phát huy tối đa trí tuệ, trao đổi, bàn
bạc bộc lộ ý kiến của mình thông qua việc học nhóm. Các em có nhiều thời gian tổ
chức các hoạt động ngoại khóa, vui chơi, giải trí, đi dã ngoại,… học hỏi được
nhiều điều mới lạ về thế giới xung quanh. Ngoài ra, việc dạy 2 buổi/ngày đã góp
phần tạo nên một trào lưu học tập thật phong phú đa dạng, đáp ứng được nhu cầu
của xã hội hiện nay.
B. Cơ sở thực tiễn của đề tài:
Trên thực tế, hiện nay ở các thị trấn, thị xã, thành phố, nhu cầu học bán trú 2
buổi/ngày là nhu cầu có thật. Hàng năm, trường Cao Bá Quát đã được cha mẹ học
sinh hết sức tín nhiệm và đăng kí cho con nhập học với số lượng rất đông. Chính vì
thế, việc tìm kiếm giải pháp để nâng cao chất lượng buổi 2, đáp ứng được kì vọng
của phụ huynh là điều hết sức cần thiết.
Căn cứ công văn số 7632/BGD&ĐT-GDTH ngày 29/8/2005 về việc hướng
dẫn dạy học 2buổi/ngày do Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học kí; căn cứ công văn
chỉ đạo hướng dẫn thực hiện dạy 2 buổi/ngày của bộ phận Tiểu học Phòng Giáo
dục – Đào tạo huyện Trảng Bom, nhà trường đã lập kế hoạch giảng dạy riêng cho
buổi 2 phù hợp với đặc thù của trường trên tinh thần vận dụng linh hoạt, sáng tạo
sự chỉ đạo của các cấp, các ngành.

Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

2

Số tiết trong tuần
Ghi chú
Tiếng Việt
2
Toán
2
Đạo đức
1
Tự nhiên – Xã hội
1
Âm nhạc
1
Có GV dạy chuyên
Mĩ thuật
0
Thủ công
1
Có GV dạy chuyên
Thể dục
1
Có GV dạy chuyên
Tiếng Anh
4
Có GV dạy chuyên
Tin học
2
Có GV dạy chuyên
Hoạt động tập thể
2
TỔNG CỘNG

lượng dạy học buổi 2 ở trường bán trú. Phương châm của cả 3 nhóm là dùng hình
thức của hoạt động ngoài giờ lên lớp để thực hiện. Dạy theo quan điểm “học mà
chơi, chơi mà học”. Tuy nhiên không phải giờ nào, bài nào giáo viên cũng tổ chức
cho học sinh trò chơi học tập mà cần phải linh hoạt trong việc tổ chức thiết kế bài
dạy. Có thể dạy lí thuyết kết hợp với thực hành, trong đó thực hành là chủ yếu.
Giáo viên cần phải chú trọng đến việc phân loại đối tượng học sinh, ra lượng bài
cho phù hợp với năng lực sở trường của từng em. Ngoài việc bổ sung kiến thức
Toán, Tiếng Việt, giáo viên kết hợp bổ sung kiến thức về đời sống xã hội, tự nhiên
và kết hợp rèn kĩ năng sống, giáo dục đạo đức cho học sinh. Kết hợp các hoạt
động ở lớp và hoạt động chung theo kế hoạch của nhà trường.
2. Nội dung và biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài :
2.1 Nhóm các giải pháp để củng cố và nâng cao kiến thức cơ bản của
môn Toán và Tiếng Việt
a/ Mục tiêu của giải pháp :
Mục tiêu của nhóm này là để bổ trợ và nâng cao kiến thức cơ bản của môn
Toán và Tiếng Việt phù hợp với năng lực tiếp thu từng đối tượng học sinh, tạo
hứng thú cho học sinh khi tham gia học tập.
b/ Cách thức tiến hành :
 Môn Toán : Có thể tiến hành theo hai giải pháp
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

4


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

 Giải pháp 1 : Dạy học theo đối tượng học sinh
Để giúp HS bổ sung và nâng cao về kiến thức đồng thời cũng để phát hiện
năng khiếu của chính các em, giáo viên phải cá thể hóa học sinh trong từng tiết dạy
như chia nhóm thực hành hoạt động theo đối tượng Giỏi – Khá – TB – Yếu và điều

dụng thành thạo lí thuyết vào bài làm hơn.
Đối với nhóm đối tượng học sinh Khá – Giỏi, giáo viên ra các dạng bài tập
nâng cao để bồi dưỡng năng khiếu của các em, đặc biệt là hướng dẫn kĩ năng phân
tích, suy luận để giải quyết một bài toán.
Bài tập cho HS Khá – Giỏi có dạng như:

Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

5


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

Bài 1. Một hình chữ nhật có chiều dài bằng 124cm, chiều rộng kém 3 lần
chiều dài. Tính chu vi hình chữ nhật đó.
Bài 2. Tính chiều dài hình chữ nhật, biết chu vi hình chữ nhật là 246cm và
chiều rộng là 49cm.
Minh họa cho bài 2:
Bước 1: Hướng dẫn tóm tắt
Bước 2: Hướng dẫn cách phân tích đề (suy luận ngược)

Bước 3: Hướng dẫn trình bày bài giải
Muốn tính được chiều dài hình chữ nhật, trước tiên học sinh phải đi tính nửa
chu vi hình chữ nhật ( nửa chu vi chính là tổng của 1 lần chiều dài với 1 lần chiều
rộng ).
Khi dạy các bài khác của môn Toán , tôi cũng tiến hành đối với từng đối
tượng tương tự như trên.
Nếu như trước đây giáo viên chỉ sử dụng đơn thuần các bài tập trong sách
giáo khoa, không đa dạng hóa và phân loại hệ thống bài tập thì tiết học chỉ có tính
chất dạy lại bài cũ, không phân loại rõ đối tượng, đặc biệt, không phát huy được tư

Sau mỗi lượt, học sinh dưới lớp nhận xét về cách ghép số, đọc số của từng nhóm
-Trò chơi “Cướp cờ” : ( 20 phút ) Trò chơi này thường được sử dụng vào
dạy những bài củng cố về nhận diện hình, xem đồng hồ, nhận diện số,… Mục đích
của trò chơi này là bồi dưỡng tính tích cực, khả năng phán đoán nhạy bén, linh
hoạt của các em. Thông qua trò chơi, giúp học sinh nắm vững hơn kiến thức đã
học.
Ví dụ : Khi dạy tiết toán buổi 2 của tuần 24 ( Ôn tập về nhận dạng các chữ
số La Mã), GV sẽ tiến hành cho học sinh chơi trò chơi này tại sân trường.
Chuẩn bị : 22 lá cờ có ghi các số La Mã từ I đến XXII ; 3 chiếc xô.
Tổ chức chơi : Tổ chức 2 đội chơi, mỗi đội 11 người. Xô đựng cờ để ở
khoảng giữa hai đội. Lần lượt mỗi đội 1 học sinh lên tham gia cướp cờ. Mỗi lần
khi giáo viên ra hiệu lệnh cướp một số nào đó thì mỗi học sinh của 2 đội sẽ lên
thực hiện cướp lá cờ có ghi chữ số La Mã vừa được nêu. Ví dụ giáo viên hô : “
Cướp cờ số bảy”, học sinh sẽ chạy lên cướp lá cờ có viết VII. Học sinh nào cướp
được cờ, đem về chỗ giơ lên cho cả lớp đọc số ghi trong lá cờ xem bạn cướp được
lá cờ có đúng theo hiệu lệnh của giáo viên hay không. Nếu đúng, các em sẽ bỏ lá
cờ vào xô của hàng mình. Kết thúc trò chơi, đội nào cướp được nhiều cờ là đội đó
thắng.
 Môn Tiếng Việt : Ta cũng tiến hành theo hai giải pháp
 Giải pháp 1: Dạy học theo đối tượng học sinh
Đối với học sinh TB – yếu, cũng như môn Toán, ở buổi 2, chúng ta nên cho
học sinh những bài tập nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức ở buổi 1. Chẳng hạn,
khi dạy phân môn Tập đọc, giáo viên chỉ yêu cầu các em luyện đọc đúng lại bài và
trả lời các câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa mà buổi sáng các em đã được tìm
hiểu. Dạy phân môn Chính tả, những bài có âm vần, dấu thanh, từ, tiếng… khó thì
buổi chiều giáo viên cho học sinh luyện viết lại các dạng âm vần, dấu thanh, từ,
tiếng đó hoặc cho học sinh làm các bài tập điền vào chỗ trống đơn giản. Đối với
phân môn Luyện từ và câu, ta cho các em làm các bài tập để củng cố khắc sâu
nghĩa của từ và kiểu câu đã học buổi sáng…
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

Đúng là Tết đến.
Bông bay lả tả.
Giáo viên cho học sinh nhắc lại khái niệm về từ chỉ đặc điểm, sau đó các em
tìm từ chỉ đặc điểm dưới sự dẫn dắt của giáo viên : Bông đào như thế nào ? (nho
nhỏ) Cánh đào như thế nào? (hồng tươi) Hoa gạo như thế nào? (rực đỏ) Bông gạo
như thế nào? (trắng tinh). Như vậy với giờ học buổi chiều, đối tượng học sinh
trung bình – yếu đã nắm chắc kiến thức của bài học.
Đối với nhóm đối tượng học sinh Khá – Giỏi, các em đã nắm chắc khái niệm
ở buổi sáng, giáo viên ra các bài tập nâng cao hơn để kích thích sự sáng tạo của các
em.
Bài tập có dạng như :
Tìm các từ chỉ đặc điểm thích hợp điền vào ô trống :
Em bé ………………………………………………….
Bệnh nhân ……………………………………………..
Con cáo ………………………………………………..
Con rùa ………………………………………………...
Hoa huệ ………………………………………………..
Với đề bài như trên, học sinh có thể tìm nhiều từ chỉ đặc điểm cho một sự
vật (Em bé: xinh đẹp, mũm mĩm, dễ thương, kháu khỉnh,…. ). Như vậy, bài tập trên

Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

8


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

sẽ giúp cho học sinh mở rộng được vốn từ, làm cho vốn từ của các em ngày càng
phong phú hơn.
 Giải pháp 2 : Dạy lồng ghép với tổ chức trò chơi

Bước 2 : GV chiếu lần lượt từng đoạn phim cho HS xem kết hợp đặt câu hỏi
kiểm tra sự quan sát, hiểu biết của các em về những động vật các em vừa xem
(hoặc HS có thể tự đặt câu hỏi cho nhau )
Bước 3: Kết thúc xem phim, GV cho HS hệ thống lại kiến thức vừa học
bằng cách trả lời các câu hỏi như: Các em vừa được xem những con vật nào ?
Chúng có đặc điểm gì giống nhau và khác nhau ? Những con nào ăn cỏ, những
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

9


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

con vật nào ăn thịt ?, … Giáo viên nêu thêm những câu hỏi để học sinh nói về ích
lợi của động vật, cách chăm sóc và bảo vệ những loài động vật, nhất là những loài
vật có nguy cơ bị tuyệt chủng. Cuối cùng, giáo viên kết luận, giáo dục bảo vệ môi
trường.
 Giải pháp 2 : Hình thức quan sát thực nghiệm
Đối với những bài ôn tập về chủ đề Thực vật, Bầu trời và mặt đất, giáo
viên tổ chức cho các em học tập ngoài vườn trường để các em tự khám phá các loại
cây trong vườn. Hoặc giáo viên tổ chức cho học sinh ra sân trường để quan sát mặt
trời, bầu trời ban ngày (tránh lúc nắng to),… Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các
em sẽ tự tìm hiểu để nhận biết được tên, hình dạng, kích thước, cấu tạo bộ phận
(rễ, thân, lá, hoa, quả ) của từng loại cây, cây thân cứng, cây thân mềm, cây sống
trên cạn, cây sống dưới nước, tác dụng của mỗi loại cây … Các em còn biết thêm
được bầu trời ban ngày như thế nào, tác dụng của nắng, …
Với hình thức học tập này, học sinh đã được tận mắt, tận tay khám phá, tự
chiếm lĩnh những điều mới lạ để hiểu biết hơn về thế giới xung quanh nên tiết học
đã sinh động hơn, học sinh học tập hứng thú hơn.
 Giải pháp 3 : Tổ chức các trò chơi học tập

Trước đây, khi dạy môn này ở buổi 2, giáo viên chỉ cho học sinh ôn lại kiến
thức của buổi chính bằng hình thức hỏi - đáp những câu hỏi nằm trong phạm vi
sách giáo khoa hoặc cho học sinh làm bài tập trong vở bài tập. Với cách dạy trên,
học sinh học tập khá mệt mỏi, hiệu quả giáo dục chưa cao. Với những hình thức tổ
chức dạy học mới này, học sinh tham gia vào hoạt động rất hào hứng, tích cực.
Chính vì vậy, sự hiểu biết về đời sống của học sinh ngày một phát triển.
2.3 Nhóm giải pháp để hình thành kĩ năng sống
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí - xã hội cơ bản giúp cá nhân tồn tại và
thích ứng với cuộc sống, giúp cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách
thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại. Kĩ năng sống đơn giản là tất cả điều
cần thiết học sinh phải biết để có khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra
hàng ngày trong cuộc sống.
Ở học sinh tiểu học, kĩ năng sống của các em còn đơn giản. Đó là các kĩ
năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp không lời, kĩ năng thuyết trình và
nói được những câu đơn giản trước đám đông, kĩ năng từ chối, kĩ năng hợp tác, kĩ
năng tổ chức và làm việc theo nhóm, kĩ năng chăm sóc bản thân, kĩ năng tự phục
vụ…
a/ Mục tiêu của giải pháp :
Dạy buổi 2, ngoài việc ôn tập củng cố và nâng cao kiến thức về Toán, Tiếng
Việt, đời sống xã hội tự nhiên thì việc rèn kĩ năng sống cho các em cũng hết sức
quan trọng. Đây là vấn đề mà hiện nay xã hội đang quan tâm. Bởi nhẽ phần lớn
học sinh hiện nay thường phụ thuộc vào sự chăm sóc của cha mẹ nên rất nghèo kĩ
năng sống, không biết áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống một cách
linh hoạt.Các em có thể rất giỏi về sử dụng các thiết bị điện tử… nhưng vẫn chưa
biết quét nhà, chưa biết nấu nước, chưa biết cảnh giác và tự bảo vệ mình khi gặp kẻ
xấu, chưa mạnh dạn trước đám đông,… Chính vì vậy giáo dục cho học sinh kĩ
năng sống là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với giáo viên.
Bên cạnh việc thực hiện trong quá trình giảng dạy ở buổi 1, có nhiều giải
pháp để rèn kĩ năng sống cho học sinh trong buổi 2 như: rèn kĩ năng sống thông
qua các tiết ôn tập của môn học; rèn kĩ năng sống thông qua tổ chức các tiết sinh

Ví dụ : Khi dạy bài Tiền Việt Nam, giáo viên có thể tổ chức trò chơi “Em đi
chợ”. ( Phụ lục 3 )
Cách tiến hành :
Bước 1 : GV chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm có một bạn làm ban giám
khảo. Giáo viên phát cho mỗi nhóm một số đồ vật cùng với những đồ vật mà giáo
viên đã dặn học sinh chuẩn bị mang theo, một số loại tiền có mệnh giá trong phạm
vi đã và đang học, một chiếc bàn để bày hàng bán. Mỗi nhóm sẽ bày bán những
gian hàng khác nhau : nhóm bán đồ dùng học tập, bình hoa,… ; nhóm bán các loại
bánh kẹo, trái cây; nhóm bán các loại đồ chơi…những mặt hàng này đều có niêm
yết giá.
Bước 2 : Học sinh tham gia trò chơi, đóng vai người bán và người mua.
Giáo viên đi theo dõi các em chơi để cuối cùng có lời nhận xét chung.
Bước 3 : Giáo viên tập trung lớp, ban giám khảo đánh giá quá trình mua bán
của các bạn. Giáo viên nhận xét về cuộc chơi của các em. Từ đó giáo dục cho các
em khi mua hàng phải chọn những thứ thật cần thiết mới mua, tránh lãng phí tiền,
biết mua những mặt hàng còn hạn sử dụng, … Người mua hàng và người bán hàng
phải tính toán, kiểm tiền cẩn thận. Đặc biệt, giáo viên cần giáo dục các em cách
giao tiếp giữa người bán hàng với người mua hàng (xưng hô phải lịch sự, nói năng
nhỏ nhẹ, thân thiện, gây cảm tình tốt giữa người mua và người bán).
Thông qua trò chơi này, ngoài việc củng cố kiến thức về tiền Việt Nam, giáo
viên còn rèn cho các em kĩ năng tính toán trong thực tiễn cuộc sống, biết chi tiêu
khoa học để các em vận dụng vào đời sống hàng ngày của mình. Hơn nữa thông
qua trò chơi còn rèn cho các em kĩ năng giao tiếp trong cuộc sống.
* Đối với môn Tự nhiên và Xã hội :
Ở môn học này, cần giáo dục cho học sinh kĩ năng tự chăm sóc sức khỏe bản
thân, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng chống một số bệnh tật và tai nạn ; biết
loại bỏ những trò chơi nguy hiểm thay vào đó là những trò chơi dân gian lành
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

12

Thông qua việc thực hành lao động, học sinh không chỉ được giáo dục lối
sống sạch sẽ, thân thiện với môi trường mà còn được rèn kĩ năng phối hợp nhóm
để vận dụng vào cuộc sống lao động sau này.
* Đối với môn Đạo đức :
Ở môn này, kĩ năng sống của các em chủ yếu là ứng xử, giao tiếp, thói quen
hành vi đúng, kĩ năng phân tích lựa chọn và giải quyết vấn đề hợp lí… Vì vậy, giáo
viên thường cho các em xử lí tình huống hoặc cho các em thực hành vận dụng để
phân biệt, nhận định đâu là hành vi đúng, đâu là hành vi sai. Từ đó các em có thói
quen vận dụng hành vi đúng vào cuộc sống của mình, biết tránh hoặc sửa chữa
những hành vi sai trái, không đúng với chuẩn mực đạo đức.
Ví dụ : Khi dạy ôn tập bài Tự làm lấy việc của mình, giáo viên cho học
sinh thực hành tự bao bìa sách vở của mình ngay tại lớp, từ đó giáo dục cho học
sinh kĩ năng tự phục vụ bản thân, không dựa dẫm ỷ lại vào người khác.

Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

13


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

* Đối với những môn học có GV dạy chuyên, GV phải biết phối kết hợp với
GV bộ môn trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua sổ bàn giao
học tập, qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối.
 Giải pháp 2 : Rèn kĩ năng sống thông qua việc lồng ghép vào trong các
tiết sinh hoạt tập thể, sinh hoạt Sao nhi đồng, những buổi ngoại khóa, những hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp của nhà trường.
- Trong những tiết sinh hoạt tập thể, giáo viên có thể lồng ghép vào giảng
dạy Nha học đường, An toàn giao thông.
+ Đối với Nha học đường, ngoài việc hướng dẫn bằng lí thuyết, giáo viên

14


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

IV. KẾT QUẢ:
Những giải pháp của đề tài này đã được bắt đầu thực hiện từ năm học 2008 –
2009 với mực độ hạn chế, chính thức áp dụng vào năm học 2009 – 2010. Dưới đây
là số liệu đối chiếu kết quả của các năm học.
 Về kết quả học tập :
Năm học


số

Giỏi
SL %

Khá
SL %

TB
SL %

Yếu
SL %

HỌC 2007- 2008
LỰC


38

9

25

0

15 39,5

4

10,5

0

24 63,2 12 31,6

2

5,2

0

50

Ghi chú

Năm chưa
2,9 thực hiện giải

(Đầu năm học, lớp 3B là lớp yếu trong khối).
 Về kết quả rèn luyện hạnh kiểm :
- Học sinh đã chấp hành tốt nội quy của nhà trường, đi học đều và đúng giờ,
biết giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập.
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

15


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

- Các em đã biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ, kính trọng, lễ phép với thầy
cô giáo và người lớn tuổi .
- Biết ăn ngủ, học tập theo hướng dẫn của giáo viên và bố mẹ; biết giữ vệ
sinh cá nhân.
- Các em đã biết giữ gìn, bảo vệ tài sản của lớp của trường, tham gia tốt
phong trào xây dựng trường lớp xanh-sạch-đẹp.
- 100% HS biết đoàn kết, giúp đỡ nhau trong lao động, trong các phong trào
thi đua.
Cụ thể :
+ Các em trồng và chăm sóc 18 chậu cây cảnh treo xung quanh hành lang
lớp học, tạo môi trường học tập xanh sạch đẹp.
+ Sưu tầm, trồng và chăm sóc nhiều cây thuốc quý, cây cảnh đẹp ở vườn
thực vật của trường.
+ Các em tự đóng góp, ủng hộ áo trắng, sách vở cho các bạn nghèo trong
lớp, trong trường và Liên Đội bạn với số tiền là 2.500.000 đồng.
+ Các em biết lập kế hoạch, tổ chức, điều hành các buổi hoạt động ngoài giờ
lên lớp một cách cụ thể, khoa học và đã thực hiện thành công các buổi hoạt động
ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm năm học.
+ Thông qua các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, các em biết tuyên truyền,

Khi áp dụng cho các lớp khác trong khối thì cũng đã thu được kết quả rất
đáng khích lệ. Học sinh của các lớp học tập tiến bộ hơn, ngoan ngoãn, tham gia
vào mọi hoạt động tích cực hơn, đặc biệt kĩ năng sống của các em ngày một hoàn
thiện hơn so với những năm học trước.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ kết quả của việc vận dụng linh hoạt một số hình thức của hoạt động
ngoài giờ lên lớp vào dạy các tiết dạy buổi 2, tôi rút ra được một số kinh nghiệm
sau:
- Giáo viên cần tạo cho học sinh niềm vui, hứng thú khi học buổi 2. Bất kì
việc gì nếu có hứng thú thì việc thực hiện mới đem lại hiệu quả cao. Để học sinh
có hứng thú khi học buổi 2, giáo viên cần động viên khích lệ bằng những câu nói,
cử chỉ nhẹ nhàng, tuyệt đối không được chê bai các em. Thường xuyên áp dụng
các hình thức trò chơi vào học tập để các em thoải mái, vui tươi, hứng thú học tập
hơn.
- Giáo viên cần được phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tích cực tìm tòi,
vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy để giờ học nhẹ nhàng, sinh động và
đạt hiệu quả cao.
- Giáo viên cần chú ý đến đối tượng học sinh khác nhau để vận dụng các
hình thức dạy học khác nhau nhằm đem lại hiệu quả thiết thực.
- Đặc biệt, khi dạy buổi 2, giáo viên cần chú trọng đến việc rèn kĩ năng sống
cho học sinh.
- Một điều kiện hết sức quan trọng là phải có sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình
của lãnh đạo nhà trường thì việc dạy buổi 2 mới thu được kết quả như mong muốn.
VI. KẾT LUẬN
Việc dạy 2 buổi/ngày ở Tiểu học là một yêu cầu quan trọng. Nhiệm vụ quan
trọng nhất của buổi 2, ngoài việc giúp các em củng cố, khắc sâu và mở rộng kiến
thức các môn học còn giúp các em có kĩ năng sống để có khả năng thích ứng với
những thay đổi diễn ra trong cuộc sống hàng ngày.
Đề tài “ Nâng cao hiệu quả của việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường
Tiểu học Bán trú Cao Bá Quát” đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu trên.

Đạt hay không đạt:...........
Xếp loại:...............(Nếu có)
.....................................................
Ngày .... tháng .... năm 2012
Xác nhận của Hội đồng xét cơ sở
Hiệu trưởng - CTHĐ

Phạm Thị Ngọc Bích

Nhận xét của Hội đồng thẩm định Ngành GD&ĐT
Đạt hay không đạt:...........
Xếp loại:...............(Nếu có)
.....................................................
Ngày .... tháng .... năm 2012
Xác nhận của Hội đồng thẩm định
Trưởng phòng - CTHĐ

Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

18


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Giáo dục học Tiểu học 1 – Tác giả : Đặng Vũ Hoạt, Phó Đức Hòa –
NXB Đại học Sư phạm – năm 2004.
2. Các trò chơi học toán lớp 1, 2, 3 – Tác giả : PGS.TS. Đào Thái Lai, PGS.TS. Vũ
Quốc Chung, ThS. Nguyễn Thị Hồng Hà, TS. Phạm Thanh Tâm – NXB Giáo dục
– năm 2008.

buổi 2.
PHỤ LỤC 3

Trò chơi “Đi chợ ” trong giờ học toán buổi 2 để rèn kĩ năng sống cho học sinh.
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

21


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

PHỤ LỤC 4

Hình ảnh lớp 3B đang vệ sinh, trang trí lớp học.
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom

22


SKKN: Nâng cao hiệu quả việc dạy buổi 2 cho học sinh lớp 3 ở trường TH Bán trú Cao Bá Quát

PHỤ LỤC 5

Hình ảnh lớp 3B đang cùng học sinh toàn trường thực hành chải răng.
PHỤ LỤC 6

Học sinh lớp 3B đang diễn tiểu phẩm “Tiếng động trong đêm” trong hội thi
giáo dục ATGT.
Phạm Thị Ngọc Bích – Trường Tiểu họcBán trú Cao Bá Quát, Trảng Bom


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status