Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty trách nhiệm hữu hạn KPMG Việt Nam - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT
ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY
TNHH KPMG VIỆT NAM

SVTH: PHẠM NHẬT QUANG
MSSV: 1154040454
Ngành: Kế toán – Kiểm toán
GVHD: TH.S LÊ THỊ THANH XUÂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi viết trang lời cảm ơn với mục đích cảm ơn những người đã góp phần giúp đỡ tôi hoàn
thành báo cáo tốt nghiệp này một cách tốt đẹp. Trước tiên, tôi gửi lời cảm ơn tới Th.S Lê
Thị Thanh Xuân, giảng viên khoa Kế toán- kiểm toán đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh
trong khoảng thời gian dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.
Bên cạnh, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới tất cả mọi người- những nhân viên công ty
TNHH KPMG Việt Nam đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện trong những cuộc kiểm toán
cũng như cung cấp những tài liệu có thể giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo này. Trong thời
gian thực tập tại công ty, tôi có điều kiện được tiếp cận với quy trình kiểm toán chuẩn mực
và cách thức làm việc chuyên nghiệp của nhân viên KPMG và hi vọng sẽ có cơ hội làm
việc chung với mọi người trong tương lai không xa.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc tập thể giảng viên của trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí
Minh dồi dào sức khỏe thành công trong công tác. Kính chúc tất cả nhân viên KPMG Việt

Khái niệm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán ....................................6

2.3.1. Kiểm soát: .......................................................................................................6
2.3.2. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán: ...................................................7
2.3.3. Các cấp độ quản lý đối với kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán:......8
2.3.4. Ý nghĩa của kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán: ...............................9
2.4

Mục tiêu của kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán: ...............................9

2.5

Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán đối với tổng thể công ty: ..........11

2.6

Kiểm soát chất lượng đối với từng cuộc kiểm toán cụ thể: ...........................15

Kết luận chương 2: ......................................................................................................19
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH KPMG VIỆT NAM VÀ
CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP KHÁC ..................................................20
3.1.

Khái quát tình hình kiểm toán độc lập tại Việt Nam .....................................20

3.2.

Giới thiệu KPMG Việt Nam: ............................................................................23


TOÁN TẠI KPMG VIỆT NAM .................................................................................53
4.1. Đánh giá mức độ thức hiện của hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán
tại KPMG Việt Nam: ...................................................................................................53
4.1.1. Ưu điểm: ......................................................................................................53
4.1.2. Nhược điểm: ................................................................................................54
4.2. Kiến nghị giúp hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng tại KPMG Việt
Nam .................................................................................................................... 57
4.2.1. Xây dựng chương trình kiểm toán phù hợp với tình hình kinh doanh tại Việt
Nam ......................................................................................................................57
4.2.2. Xúc tiến việc thực hiện quy trình đánh giá, chấp nhận và duy trì khách hàng:
......................................................................................................................57
4.2.3. Nâng cao chất lượng nhân viên, chú trọng đến chính sách đãi ngộ nhân viên,
giữ chân người tài: .....................................................................................................58
4.2.4. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra, soát xét lại: ..........59
4.2.5. Xây dựng chương trình đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng sau khi
hoàn tất kiểm toán: ....................................................................................................60
KÊT LUẬN CHƯƠNG 4: ...........................................................................................61
KẾT LUẬN ..................................................................................................................62


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang

GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu của việc tìm hiểu thông tin
tài chính của các công ty rất được các nhà đầu tư quan tâm. Vì khi họ tiến hành đầu tư,
đó chính là tiền của mà họ bỏ ra nên họ rất cần những thông tin tài chính phản ánh chính
xác, khách quan về tình hình “sức khỏe” của công ty có dự định. Vì lẽ đó, ngành kiểm

Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam
1


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang
GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân
của doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn Việt Nam vừa gia nhập WTO, phải chịu áp
lực cạnh tranh từ nhiều doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài.
Sự sụp đổ của một trong những công ty kiểm toán lớn nhất thế giới giai đoạn năm 2001
như Authur Anderson. Cũng như ở trong nước là những vụ việc công ty cổ phần Bông
Bạch Tuyết năm 2008 đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về việc lỏng lẻo trong kiểm
soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên, qua thời gian thực tập tại công ty TNHH KPMG Việt
Nam, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
tại công ty TNHH KPMG Việt Nam” nhằm giới thiệu về quy trình kiểm soát chất lượng
của công ty, cũng như mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa quy
trình hiện có.

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
 Nghiên cứu quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH
KPMG Việt Nam nhằm xác định được mức độ tuân thủ của công ty và hướng dẫn
của các chuẩn mực có liên quan (VSQC1, VSA 220)
 Đề xuất các nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán của công ty ở các giai đoạn khác
nhau của cuộc kiểm toán và trên tổng thể.
 Tiến hành khảo sát một số công ty kiểm toán khác ở phạm vi Việt Nam trong các
nhóm khác nhau (Quy mô lớn, trung bình và nhỏ) và từ đó đưa ra các nhận định liên
quan tới kết quả nghiên cứu.

1.3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng, phạm vi:

chân thành cảm ơn ThS. Lê Thị Thanh Xuân, Ban lãnh đạo công ty TNHH KPMG Việt
Nam cùng các anh chị trong công ty đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo của mình.

Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam

3


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang

GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
2.1

KHÁI NIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN:

2.1.1.

Khái niệm về chất lượng:

Chất lượng là một khái niệm rất khó để định nghĩa vì đối với mỗi người có mỗi nhận
thức khác nhau về chất lượng. Bên cạnh đó, chất lượng còn biến chuyển theo thời gian,
không gian và tùy thuộc vào thời điểm của nền kinh tế. Ta có thể đưa ra một số khái
niệm về chất lượng như sau:
Theo từ điển Tiếng Việt (1994) thì “Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những
thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để
phân biệt nó với các sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. chất
lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó có cái liên kết các thuộc tính của

trong xu thế phát triển của nền kinh tế biến động như hiện nay, việc phải cắt giảm chi
phí tối đa đã phần nào ảnh hưởng tới hoạt động của các công ty kiểm toán. Các công ty
kiểm toán phải chào mời các hợp đồng với giá phí thấp, điều này đồng nghĩa với việc
phải cắt giảm thời gian cũng như các thủ tục kiểm toán cần thiết.
Bên cạnh đó, muốn đảm bảo được chất lượng kiểm toán thì điều đầu tiên là phải tuân
thủ các chuẩn mực của Bộ Tài chính ban hành, các quy định của hội nghề nghiệp. Những
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam

5


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang
GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân
chuẩn mực, quy định này là giúp cho quy trình kiểm toán đảm bảo chất lượng, giúp hạn
chế tới mức tối đa các rủi ro mà kiểm toán viên có thể gặp phải.
Vì vậy, công ty kiểm toán cần phải cân bằng được lợi ích nhận được và các chi phí bỏ
ra để có thể tồn tại và phát triển.
 Đơn vị được kiểm toán:
Đơn vị được kiểm toán có mong đợi rất cao từ kiểm toán viên. Họ muốn sau mỗi cuộc
kiểm toán, báo cáo tài chính của họ phải được trình bày một cách hợp lý, tránh được sai
phạm không đáng có, tuân thủ đúng pháp luật quy định. Chính vì vậy, họ yêu cầu kiểm
toán viên phải xác định được tất cả mọi sai phạm liên quan tới báo cáo tài chính cũng
như các gian lận, rủi ro mà các kế toán viên phải đối mặt.
Tùy theo mỗi loại hình công ty, mỗi mục đích kiểm toán mà khách hàng sẽ có những
mong đợi về chất lượng kiểm toán khác nhau. Như công ty con ở Việt Nam lập báo cáo
tài chính để hợp nhất với công ty mẹ cần phải tuân thủ ngoài theo pháp luật Việt Nam
còn cần phải tuân thủ theo các quy định mà công ty mẹ đặt ra. Hay một trường hợp khác
là kiểm toán với mục đích niêm yết lần đầu trên sàn hoặc đi vay ngân hàng, kiểm toán
lần này ngoài việc phải đưa ra ý kiến đánh giá trung thực tình hình tài chính, mà còn
phải đảm bảo được các chỉ số tài chính phải phản ánh được tốt nhất tình hình của công

GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân

Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán:

Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán là những quy trình, quy định chung của công
ty được đặt ra để có thể đạt được mục tiêu kiểm toán ban đầu. Quy trình này tùy thuộc
vào nhiều yếu tố để công ty có thể đặt ra. Như những công ty nhỏ việc này có thể được
“truyền miệng” vì số lượng nhân viên không nhiều. Nhưng đối với những công ty quy
mô lớn thì cần phải được ban hành cụ thể bằng văn bản để có thể phổ cập tới toàn thể
nhân viên và cũng như là một hình thức khen thưởng, kỷ luật phù hợp.
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán không chỉ được thiết lập bởi các công ty kiểm
toán mà còn chịu sự giám sát của hội kiểm toán viên hành nghề (VACPA), Bộ Tài chính,
Ủy ban chứng khoán Quốc gia. Hiện nay có nhiều định nghĩa về chất lượng kiểm toán
nhưng những định nghĩa này chưa phải là chung nhất, vì khái niệm chất lượng là một
khái niệm định tính, khó có thể lượng hóa bằng con số, nên tùy thuộc vào góc độ quan
sát của mỗi cá nhân (Tùy thuộc bạn là công ty kiểm toán, người sử dụng, cơ quan có
thẩm quyền,…). Như chuẩn mực kiểm toán INTOSAI nêu ra: “Công việc kiểm toán
viên ở mỗi bước, mỗi giai đoạn kiểm toán đều phải kiểm tra và soát xét lại chất lượng
một cách đầy đủ, đúng đắn và kịp thời” (INTOSAI 2004).
Hoặc theo nhận định của TS Trần Khánh Lâm- Giảng viên đại học Mở TP.HCM như:
“Kiểm soát chất lượng có thể được định nghĩa là một quy trình được thiết kế nhằm đánh
giá chất lượng về các ý kiến, xét đoán của kiểm toán viên, nhóm kiểm toán và các kết
luận được rút ra để lập báo cáo kiểm toán trước khi nó được phát hành chính thức; đồng
thời là quy trình đảm bảo tất cả các cuộc kiểm toán đều được tiến hành phù hợp với
chuẩn mực kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng của các cuộc kiểm toán”.
Hầu như tất cả các chuẩn mực kiểm toán trên thế giới đều có chung một mục tiêu khi
thiết lập chương trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán, đó là gia tăng độ tin
cậy về nghề nghiệp, đảm bảo được chất lượng bằng việc tuân thủ các chuẩn mực cũng
như xây dựng niềm tin nơi người sử dụng các dịch vụ kiểm toán độc lập.
Có thể đưa ra một định nghĩa chung cho kiểm soát chất lượng kiểm toán là tất cả những

ty có quy mô lớn nhưng lại không phù hợp cho số đông còn lại bởi vì khi thực hiện
những thủ tục như thế có thể tốn tương đối nhiều chi phí. Xét cho cùng, công ty kiểm
toán vẫn là một công ty hoạt động vì lợi nhuận nên cần phải cân bằng giữa lợi ích và chi
phí bỏ ra.
 Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài:
Đây là một trong những hoạt động mà các hội nghề nghiệp, các cơ quan có thể quyền
kiểm soát về mặt thực hiện chất lượng đối với các công ty kiểm toán. Hàng năm VACPA
đều chọn những công ty để tiến hành kiểm tra việc thực hiện và đều có báo cáo hàng
năm. Việc kiểm tra chủ yếu là về mức độ tuân thủ chuẩn mực hoặc là cam kết đối với
các bên liên quan như kiểm toán đối với những công ty lên sàn và báo cáo cho Ủy ban
chứng khoán. Nhìn chung, quy trình đối với VACPA thực hiện kiểm soát chất lượng
hoạt động kiểm toán như sau: Chuẩn bị, thực hiện, phát hành báo cáo kiểm soát, theo
dõi sau kiểm soát.
Việc thực hiện như thế này là vô cùng cần thiết đối với nền kinh tế nói chung và bản
thân các doanh nghiệp kiểm toán nói riêng. Bởi vì không những giúp cho các cơ quan
có thẩm quyền thực hiện được những điều chỉnh về mặt chính sách, luật lệ cho phù hợp
với tình hình chung hiện nay. Đơn cử như những chuẩn mực được ban hành từ cách đây
một thời gian tương đối lâu lại đi áp dụng vào những tình huống kinh doanh hiện nay sẽ
không tránh khỏi được tình trạng lạc hậu, không nắm bắt kịp đối với xu thế phát triển
hiện nay. Ngoài ra, đây cũng là dịp rất tốt để các công ty kiểm toán sau một năm hoạt
động có những vấn đề gì chưa phù hợp sẽ tiến hành điều chỉnh các quy trình hiện tại để
có thể nâng cao hơn nữa chất lượng cung cấp tới cho khách hàng.
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam

8


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang

2.3.4.

2.4 MỤC TIÊU CỦA KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT
ĐỘNG KIỂM TOÁN:
Mục tiêu chung của kiểm soát chất lượng là đảm bảo kiểm toán viên của công ty kiểm
toán tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp hiện hành và có đầy đủ các kĩ năng chuyên
môn cần thiết nhằm tạo ra những sản phẩm kiểm toán đạt tiêu chuẩn chất lượng, đáp
ứng yêu cầu của người sử dụng. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán không những
điều tiết đối với công ty kiểm toán mà còn là thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng báo
cáo kiểm toán cho việc ra quyết định của mình. Bên cạnh đó, kiểm toán còn góp phần
điều tiết được nền kinh tế vĩ mô. Một cuộc kiểm toán có chất lượng cao sẽ là kênh thông
tin quan trọng cung cấp cho các cơ quan chức năng, chỉ ra những điểm còn yếu kém
trong hệ thống kế toán và tài chính của các doanh nghiệp. Từ đó, cơ quan chính phủ sẽ
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam
9


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang
GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân
ban hành những quyết định phù họp hơn với tình hình kinh tế hiện tại nhằm tạo thuận
lợi hơn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư không những trong nước mà còn ở nước
ngoài.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và quốc tế số 220: “Kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán” thì sẽ được phân chia thành kiểm soát chất lượng ở tổng thể công ty và
kiểm soát ở từng cuộc kiểm toán. Nhìn chung, VSA đã có những tiếng nói chung như
ISA đã công bố. Điều này tương đối phù hợp trong tình hình hội nhập hiện nay của Việt
Nam.
 Kiểm soát chất lượng hoạt động từ bên trong:
Trong nội tại của mỗi doanh nghiệp kiểm toán đều phải xác định được rằng chính chất
lượng kiểm toán mới là thước đo quan trọng nhất thể hiện sự thành công hay thất bại
của mỗi công ty. Các nhân viên của công ty đều luôn phải thực hiện các chính sách và
thủ tục một cách triệt để nhất. Mỗi công ty tùy thuộc vào quy mô và mục tiêu của mình

được những thiếu sót, tồn tại của chính mình và đề ra các phương pháp giải quyết thích
hợp nhằm đem lại một dịch vụ kiểm toán có chất lượng cao cho người sử dụng.

2.5 KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
ĐỐI VỚI TỔNG THỂ CÔNG TY:
Nhìn chung, hiện nay, không kể những công ty Big4 mà ngay cả những công ty là thành
viên hãng quốc tế và các công ty TNHH của Việt Nam đều ý thức tương đối rõ việc
kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán ảnh hưởng như thế nào đối với sự thành công
hay thất bại của công ty mình. Tùy theo chính sách mỗi công ty mà có những quy định
riêng khác nhau để phù hợp với tình hình hoạt động và quy mô của chính mình. Như
những công ty nước ngoài hoặc những công ty là hãng thành viên quốc tế được thừa
hưởng những quy định tiêu chuẩn của công ty mẹ, thì hầu như đa số những công ty kiểm
toán Việt Nam đều tuân theo chuẩn mực kiểm toán số 220. Dưới đây, tác giả sẽ tóm tắt
những điểm chính của chuẩn mực kiểm toán số- VSA 220 và chuẩn mực kiểm soát chất
lượng VSQC1.
 Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp:
Đoạn A4, VSA 220 quy định các công ty kiểm toán cần thiết lập và quy định những thủ
tục nhằm đảo bảo rằng các nhân viên đều tuân thủ những yêu cầu về đạo đức nghề
nghiệp bao gồm: Độc lập, chính trực, khách quan, năng lực chuyên môn và tính thận
trọng, tính bảo mật, tư cách nghề nghiệp. Trong đó xuyên suốt VSA 220 và Chuẩn mực
kiểm soát chất lượng số 1 (VSQC1) đều nhấn mạnh và đề cao tính độc lập là một yêu
cầu tối thiểu và bắt buộc đối với mỗi kiểm toán viên khi tham gia hành nghề. Bằng một
hay nhiều cách mà công ty phải truyền tải được nội dung và ý nghĩa của tính độc lập đối
với một kiểm toán viên theo chiều dọc (Từ sinh viên thực tập tới chủ phần hùn của công
ty) một cách triệt để. Công ty cần phải thực hiện những quy định để các kiểm toán viên
của mình có thể thực hiện tính độc lập một cách hiệu quả, xem xét các trường hợp có
thể ảnh hưởng tới và phương hướng giải quyết một cách phù hợp nhất. Đơn giản nhất là
trước mỗi một cuộc kiểm toán, các trưởng nhóm hoặc các chủ phần hùn (Partner) sẽ nêu
lên những thông tin sơ bộ về khách hàng hàng và phạm vi cung cấp dịch vụ để nhân
viên đánh giá được một cách tổng quát những tác động ảnh hưởng tới tính độc lập của

Đào tạo qua các chương trình cụ thể ở dạng mô hình lớp học.

-

Học tập qua môi trường, công việc thực tế.

Dù ở bất kì tình huống nào đi chăng nữa, nhà quản lý cần phải nhấn mạnh về ý thức tự
học hỏi của mỗi nhân viên. Ở mỗi cấp độ cần phải có những kiến thức được đào tạo một
cách phù hợp cho nhân viên để có thể thực hiện được cuộc kiểm toán một cách suôn sẻ.
Ngoài ra, công ty cũng cần có những khoản đầu tư đối với nhân viên về những chương
trình đào tạo nổi tiếng đối với lĩnh vực kiểm toán như ACCA, CPA,… Điều này giúp
cho nhân viên của công ty có thể thực hiện được những cuộc kiểm toán trong thời kì hội
nhập như hiện nay.
 Giao việc:
Công việc kiểm toán không giúp tạo ra thêm những thông tin tài chính khác mà chỉ là
giúp tăng độ tin cậy đối với báo cáo tài chính của công ty khách hàng. Vì vậy, kiểm toán
là công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, cần phải được thực hiện bởi những cá nhân
có kinh nghiệm và kĩ năng. Trước từng cuộc kiểm toán cụ thể, cần phải lập được một
bản kế hoạch chi tiết phân công nhân sự và thời gian thực hiện hợp đồng. Điều này được
thể hiện qua:
-

Trước tiên, các chủ phần hùn và các chủ nhiệm kiểm toán cần phải biết được hợp
đồng mình phụ trách. Những người phụ trách này cần có những kĩ năng và trình
độ chuyên môn phù hợp để có thể xử lý những tình huống bất khả kháng có thể
xảy ra.

-

Sau khi phân công những người phụ trách hợp đồng, chủ nhiệm kiểm toán sẽ tiến

và tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán.
Thông qua những chính sách và thủ tục của mình, công ty tìm kiếm một sự tuân thủ nhất
quán trong quá trình kiểm soát chất lượng ở từng hợp đồng kiểm toán. Các chính sách,
thủ tục hướng dẫn, giám sát và kiểm tra được quy định cụ thể hơn ở mục kiểm soát chất
lượng hoạt động kiểm toán theo từng hợp đồng kiểm toán.
 Tham khảo ý kiến
Khi cần thiết, các kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể tham khảo ý kiến tư vấn
của chuyên gia trong công ty hoặc ngoài công ty. Công ty kiểm toán cần phải xác định
những lĩnh vực và tính huống cụ thể cần phải tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia
hoặc những người có thẩm quyền. Thông báo cho cán bộ, nhân viên về chính sách và
thủ tục tham khảo ý kiến tư vấn của công ty. Những lĩnh vực cụ thể hay những tình
huống chuyên môn phức tạp đòi hỏi cần phải tư vấn như:
-

Áp dụng những văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành liên quan đến chuyên
môn nghề nghiệp.

-

Những ngành nghề kinh doanh có những yêu cầu đặc biệt về kế toán, kiểm toán,
báo cáo.

-

Những vấn đề mới phát sinh.

-

Những yêu cầu của luật pháp và quy định của cơ quan chức năng, đặc biệt là
những yêu cầu của luật pháp quốc tế.


VSA 220 còn quy định một số thủ tục đánh giá khách hàng cần thiết lập để đảm bảo
chất lượng của báo cáo kiểm toán. Trong quá trình đánh giá, chấp nhận khách hàng tiềm
năng và duy trì khách hàng hiện hữu, công ty kiểm toán cần tiến hành các thủ tục đánh
giá, xem xét các tài liệu nhằm đánh giá tính độc lập, khả năng của công ty kiểm toán
trong việc phục vụ khách hàng tiềm năng và kiểm tra được tính trung thực, chính trực
của khách hàng. Từ đó, xem xét liệu rằng có chấp nhận khách hàng hay không. Các thủ
tục được VSA quy định bao gồm:
-

Thu thập và xem xét các tài liệu có liên quan đến khách hàng tiềm năng như báo
cáo tài chính, tờ khai nộp thuế.

-

Trao đổi với bên thứ ba các thông tin về khách hàng tiềm năng, về giám độc và
cán bộ, nhân viên chủ chốt của họ;

-

Trao đổi với kiểm toán viên năm trước về các vấn đề liên quan đến tính trung
thực của ban giám đốc; về những bất đồng giữa ban giám đốc về các chính sách
kế toán, các thủ tục kiểm toán, hoặc những vấn đề quan trọng khác và lý do thay
đổi kiểm toán viên.

-

Cân nhắc những tình huống đặc biệt hoặc khả năng rủi ro của hợp đồng.

Đánh giá tính độc lập và khả năng của công ty kiểm toán trong việc phục vụ

-

Thông báo cho nhân viên về chính sách và thủ tục duy trì khách hàng của công
ty.

-

Phân công người chịu trách nhiệm kiểm tra và giám sát việc chấp hành các chính
sách và thủ tục duy trì khách hàng của công ty.

Khi đã cân nhắc đến tính chính trực của khách hàng, trình độ chuyên môn và thời gian
thực hiện hợp đồng kiểm toán, công ty cần phải thiết lập chính sách và các thủ tục chấp
nhận và duy trì khách hàng và thông báo cho các KTV nhằm đảo bảo chất lượng và hiệu
quả cuộc kiểm toán.

2.6 KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI TỪNG CUỘC
KIỂM TOÁN CỤ THỂ:
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng cuộc kiểm toán mà nội dung, quy mô và trình
tự tiến hành thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán được vận dụng một cách
thích hợp. Mục 15, VSA 220 quy định rõ ràng: “KTV có trách nhiệm xem xét năng lực
chuyên môn của những trợ lý kiểm toán đang thực hiện công việc được giao để hướng
dẫn, giám sát và kiểm tra công việc cho phù hợp với từng trợ lý kiểm toán”. Chuẩn mực
nêu ra một số nội dung như sau:
 Hướng dẫn:
VSA quy định “Các công việc kiểm toán phải được hướng dẫn thực hiện đầy đủ ở tất cả
các cấp cán bộ, nhân viên nhằm đảm bảo là công việc được thực hiện phù hợp với chuẩn
mực kiểm toán và các quy định có liên quan”. Công ty kiểm toán có thể thiết kế những
hướng dẫn nghề nghiệp, những phần mềm hỗ trợ công tác hoặc thông qua các mẫu giấy
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam


sách và thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán của công ty. Nhằm cung cấp
một sự đánh giá khách quan về những ý kiến của nhóm kiểm toán về báo cáo tài chính
của khách hàng và đưa ra kết luận về báo cáo kiểm toán, công ty nên thiết kế những
chính sách và thủ tục kiểm tra cho từng hợp đồng kiểm toán.
Trách nhiệm kiểm tra thường do chủ phần hùn hoặc những thành viên nhiều kinh nghiệm
trong nhóm kiểm toán thực hiện và cần được hoàn thành trước khi báo cáo được phát
hành. Quá trình kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán phải được tiến hành thường
xuyên, xuyết suốt quá trình kiểm toán từ giai đoạn lập kế hoạch cho tới khi hoàn thành
xong công việc kiểm toán. Quá trình kiểm tra thường được cân nhắc các công việc sau
đây:
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam

16


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang
GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân
- Công việc có thực hiện tuân theo các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định có
liên quan hay không.
-

Có những vấn đề lớn nào phát sinh trong quá trình kiểm toán không.

-

Công việc có nhận được những lời tư vấn hợp lý và nhóm có thực hiện đúng và
đẩy đủ những tư vấn đó không.

-



Những chính sách và thủ tục của công ty liên quan đến việc đánh giá, khen thưởng,
thăng tiến cho nhân viên cần được quy định để chứng minh rằng cam kết đảm bảo
chất lượng của công ty là quan trọng hơn hết.

-

Công ty cần dành nhiều thời gian nguồn lực cho việc phát triển, truyền đạt, và hỗ trợ
những chính sách thủ tục về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán của công ty.

-

Bất kể cá nhân hay một nhóm người có trách nhiệm đối với quy trình kiểm soát chất
lượng của công ty cũng cần có kinh nghiệm và năng lực đều phải có được sự ủy thác
cần thiết. Những kinh nghiệm và năng lực giúp họ hiểu những vấn đề chất lượng và
có thể đưa ra các đề xuất nhằm phát triển quy trình kiểm soát chất lượng của công
ty. Sự ủy thác giúp họ thực hiện tốt những thủ tục và chính sách này.

Các nhà quản lý cần truyền đạt những thông tin này thông qua các tài liệu nội bộ, các
buổi họp, các khóa huấn luyện giúp nhân viên nhận thức được tầm quan trọng của chất
lượng kiểm toán và có ý thức chấp hành các chính sách công ty đề ra.
Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam
17


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang
GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân
Ngoài ra, nhà quản lý cần phải có trách nhiệm kiểm soát đối với từng hợp đồng cụ thể
do mình phụ trách để đảm bảo rằng sản phẩm là các báo cáo kiểm toán khi tới tay khách
hàng thật sự là những sản phẩm đạt được chất lượng cao. Để đạt được điều đó, ngoài

vì đây là một chỉ số mang tính định tính và chịu nhiều ảnh hưởng của những yếu tố
không những bên trong mà còn bên ngoài như nhu cầu của nền kinh tê, cơ chế quản lý
của nhà nước,… Kiểm toán cũng là ngành đặc thù mà con người là tài sản quý giá nhất,
chất lượng được thể hiện ở thái độ làm việc, sau đó mới tới năng lực cũng như kĩ năng
chuyên môn của kiểm toán viên.
Các công ty kiểm toán muốn nâng cao được năng lực cạnh tranh thông quan nâng cao
chất lượng kiểm toán cần phải theo dõi sát sao tất cả các bước từ lập kế hoạch, thực hiện
cho tới lúc ra được báo cáo kiểm toán.
Nói chung, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán là làm những công việc góp phần
nâng cao chất lượng kiểm toán từ tất cả các bước mà mỗi cuộc kiểm toán phải trải qua
từ khâu lập kế hoạch cho tới các cấp soát xét và ra báo cáo kiểm toán. Việc kiểm soát
chất lượng kiểm toán phải được thực hiện bởi tất cả mọi người trong công ty từ vị trí trợ
lý kiểm toán cho tới chủ phần hùn. Thực hiện tốt được chỉ tiêu này sẽ góp phần nâng
cao vị thế cũng như hình ảnh của công ty trên thị trường kiểm toán đang ngày một sôi
động như hiện nay.

Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại công ty TNHH KPMG Việt Nam

19


Sinh viên thực hiện: Phạm Nhật Quang

GVHD: ThS Lê Thị Thanh Xuân

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM
SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
TẠI CÔNG TY TNHH KPMG VIỆT NAM VÀ CÁC
CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP KHÁC
3.1.

Các nguyên tắc cơ bản chỉ phối hoạt động của kiểm toán viên:
 Độc lập, trung thực, khách quan.
 Bảo mật thông tin: Kiểm toán viên và các doanh nghiệp kiểm toán không được phép
tiết lộ thông tin của khách hàng trừ khi được yêu cầu bởi các cơ quan có thẩm quyền.
 Tuân thủ các chuẩn mực: Vì nền kinh tế thị trường đang phát triển từng ngày nên
việc các kiểm toán viên cần phải cập nhật các chuẩn mực, thông tin mới là một việc
làm cần thiết để đảm bảo được kiến thức cần có cho công việc.
 Vai trò của kiểm toán viên:
 Đối với nền kinh tế: Hoạt động kiểm toán góp phần công khai, minh bạch thông tin
kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán, làm lành mạnh môi trường đầu tư.
 Đối với đơn vị được kiểm toán: Kiểm toán giúp đỡ các doanh nghiệp nhận ra được
lỗ hổng về mặt quản lý cũng như ghi nhận các giao dịch hàng ngày chưa phù hợp
với yêu cầu của chuẩn mực. Điều này là vô cùng cần thiết để doanh nghiệp có thể
vượt qua được những hạn chế và có những chiến lược hành động phù hợp hơn trong
tương lai.
 Cho người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán: Là cơ sở quan trọng trong việc
đưa ra các quyết định đầu tư.
 Số lượng, quy mô và hình thức pháp lý các công ty kiểm toán:
Ngành kiểm toán độc lập ở nước ta mới được thành lập trên 20 năm nhưng đã có những
bước phát triển tương đối mạnh mẽ. Tháng 5 năm 1991, tại Việt Nam đã có hai công ty
kiểm toán độc lập đầu tiên được ra đời là công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và công ty
dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) dưới sự cho phép của Bộ Tài chính.
Tính tới thời điểm hiện nay, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam mới chỉ công bố số
liệu cho tới năm 2012 đối với các công ty kiểm toán. Số liệu với từng chỉ tiêu được trình
bày ở bảng dưới. Có thể nhận thấy rằng số lượng các công ty có sự biến chuyển không hề
lớn, từ năm 2010 tới năm 2012 chỉ tăng 3 công ty. Trong đó, các công ty nước ngoài ổn
định qua các năm bao gồm (E&Y, PwC, KPMG, Grant Thronton), 5 công ty có vốn đầu tư
nước ngoài (Ejung, Mazars, HSK, Immanuel, S&S). Đa phần các công ty hiện nay trên thị
trường Việt Nam đều được thành lập và hoạt động trên hình thức là trách nhiệm hữu hạn.
Về một chỉ tiêu tương đối quan trọng là số lượng nhân viên hoạt động trong ngành tăng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status