Sự tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật về tập đoàn kinh tế nhà nước việt nam hiện nay - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
---------------

Lấ TH LM

Sự TIếP NHậN CáC NGUYÊN TắC
QUảN TRị CÔNG TY CủA OECD TRONG PHáP LUậT
Về TậP ĐOàN KINH Tế NHà NƯớC VIệT NAM HIệN NAY

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
---------------

Lấ TH LM

Sự TIếP NHậN CáC NGUYÊN TắC
QUảN TRị CÔNG TY CủA OECD TRONG PHáP LUậT
Về TậP ĐOàN KINH Tế NHà NƯớC VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS. NGUYN C MINH


1.2.2. Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD áp dụng
đối với doanh nghiệp nhà nƣớc ............................................................... 15
1.3. Một số đặc trƣng của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc Việt Nam ................ 21
1.4. Kinh nghiệm áp dụng Bộ nguyên tắc quản trị công ty trong các tập
đoàn kinh tế nhà nƣớc ở các nƣớc thuộc OECD và một số nƣớc không
thuộc OECD ................................................................................................ 23
1.4.1. Tổng quan kinh nghiệm áp dụng các nguyên tắc quản trị công
ty của các nƣớc thành viên OECD .......................................................... 24
1.4.2. Kinh nghiệm Trung Quốc về quản trị tập đoàn kinh tế nhà
nƣớc ......................................................................................................... 27
1.5. Lợi ích của việc áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của
OECD đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nƣớc Việt Nam ........................... 29
1.6. Tiểu kết Chƣơng 1................................................................................ 31


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN
KINH TẾ NHÀ NƢỚC VIỆT NAM TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC
NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD................................... 33
2.1. Cơ sở pháp lý của quản trị tập đoàn kinh tế nhà nƣớc ......................... 33
2.2. Thực trạng pháp luật về quản trị tập đoàn kinh tế nhà nƣớc Việt Nam ... 37
2.2.1. Các quy định liên quan đến đảm bảo hoạt động của Nhà nƣớc
với tƣ cách một chủ sở hữu ..................................................................... 38
2.2.2. Các quy định liên quan đến đối xử công bằng giữa các chủ sở
hữu của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc ......................................................... 44
2.2.3. Các quy định về công khai, minh bạch của tập đoàn kinh tế
nhà nƣớc .................................................................................................. 47
2.2.4. Trách nhiệm của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc trong các giao dịch
với các bên có liên quan .......................................................................... 57
2.2.5. Các quy định về trách nhiệm của Hội đồng thành viên ................ 59
2.2.6. Vai trò giám sát của công ty mẹ đối với các công ty con và

đoàn kinh tế nhà nƣớc Việt Nam hiện nay.................................................. 90
3.6. Tiểu kết chƣơng 3 ................................................................................ 92
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 96


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu và
chữ viết tắt
BKS

Ban kiểm soát

CIEM

Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ƣơng

ĐHĐCĐ

Đại hội đồng cổ đông

DNNN

Doanh nghiệp nhà nƣớc

HĐQT

Hội đồng quản trị

HĐTV

Tên Biểu đồ, Sơ đồ

Trang

Biểu đồ 2.1: Một số chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn dầu khí Việt Nam......... 65
Biểu đồ 2.2: Đóng góp của tập đoàn viễn thông quân đội vào hoạt động an
sinh xã hội, từ thiện..................................................................... 66
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và điều hành EVN ........................ 67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, thời sự, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Mô hình Tập đoàn kinh tế (TĐKT) ở Việt Nam đã đƣợc manh nha hình
thành từ đầu những năm 1990. Đó là những thí điểm đầu tiên về việc thành
lập TĐKT nhà nƣớc đƣợc ghi nhận trong Quyết định số 90/TTg và Quyết
định số 91/TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành ngày 7/3/1994 về việc
tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nƣớc và thí điểm thành lập TĐKT nhà
nƣớc, sau đó đƣợc quy định trong Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc 2003 và hiện
nay khi Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc 2003 hết hiệu lực, các TĐKT nhà nƣớc
cũng sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp. Cụ thể hơn, đó chính là
quy chế pháp lý về nhóm doanh nghiệp quy định tại Chƣơng VII – Luật
Doanh nghiệp 2005 về nhóm công ty.
Tính đến tháng 31 tháng 03 năm 2014, cả nƣớc có 12 Tập đoàn kinh tế
nhà nƣớc. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các TĐKT nhà nƣớc lại không
đạt đƣợc những mục tiêu đƣợc chủ sở hữu nhà nƣớc giao cho thực hiện. Sự
thất bại trong thí điểm thành lập và hoạt động của một số TĐKT nhà nƣớc
cho thấy còn nhiều vƣớng mắc về cơ chế pháp lý mô hình TĐKT và các vấn
đề quản trị TĐKT nhà nƣớc.
Quy chế pháp lý về quản trị TĐKT còn nhiều bất cập khi chƣa xây
dựng cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý, chƣa thể hiện đƣợc vai trò của đại diện

quản lý mà chƣa quan tâm thỏa đáng đến vấn đề quản trị tập đoàn.
Với nhận thức đây là một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cao, tôi
lựa chọn vấn đề “Sự tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
trong pháp luật về tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam hiện nay” là đề tài
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Lý luận về TĐKT là một vấn đề lớn, nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu khoa học. Cho đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức, giáo sƣ, tiến sĩ

2


và nhiều Luật gia quan tâm đến nội dung pháp lý về TĐKT nhà nƣớc. Tuy
nhiên, nghiên cứu về khía cạnh quản TĐKT nhà nƣớc trong pháp luật quản trị
công ty Việt Nam còn hạn chế. Hiện nay, có một số nghiên cứu liên quan nhƣ:
"Dự án đổi mới quản trị Doanh nghiệp Nhà nước và giám sát TĐKT nhà nước
theo cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới và thông lệ kinh tế thị
trường." của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM) năm 2010;
"Khung pháp luật về quản trị doanh nghiệp - Thực trạng và nhu cầu hoàn
thiện." của TS. Lê Minh Toàn. "Thực trạng quản trị doanh nghiệp nhà nước sau
cổ phần hóa tại Việt Nam" của ThS. Hoàng Anh Duy và ThS Lê Việt Anh...
Dự án nghiên cứu của CIEM đã tiếp cận vấn đề quản trị doanh nghiệp
nhà nƣớc theo cam kết gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO). Nghiên
cứu này đã đạt đƣợc những kết quả sau: Một là, hệ thống hóa các văn bản
pháp luật có đối tƣợng điều chỉnh là Doanh nghiệp nhà nƣớc đến năm 2010.
Trên cơ sở nhìn nhận tổng quan về hệ thống pháp luật, nghiên cứu chỉ ra
những bất cập, yếu kém của cả hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nhà nƣớc,
đánh giá dựa trên tiến trình cam kết gia nhập WTO của Việt Nam; Hai là,
nghiên cứu kinh nghiệm của một số nƣớc về quản trị doanh nghiệp nhà nƣớc,
ví dụ: Trung Quốc, Đức, Pháp, Slovenia... Từ đó đƣa ra khuyến nghị cải cách

kiến nghị hoàn hiện pháp luật về cơ chế đầu tƣ vốn, kiện toàn mối quan hệ
giữa công ty mẹ- công ty con và các đơn vị phụ thuộc của công ty mẹ.
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu nêu trên, trong luận văn này, tác
giả sẽ tiếp tục kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu và tiếp tục
nghiên cứu những vấn đề sau:
- Thứ nhất, làm rõ lý luận về tiếp nhận pháp luật và các nội dung của
quản trị công ty, quản trị TĐKT nhà nƣớc.
- Thứ hai, nghiên cứu khuyến nghị của OECD về quản trị Doanh
nghiệp nhà nƣớc, phân tích những đặc thù của quản trị DNNN, dựa trên
những đặc điểm riêng của TĐKT nhà nƣớc Việt Nam để xem xét sự phù hợp

4


trong các khuyến nghị của OECD về quản trị công ty.
- Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị TĐKT
nhà nƣớc theo từng nguyên tắc quản trị DNNN của OECD; phân tích những
mặt đạt đƣợc, những hạn chế, yếu kém, chỉ ra các nguyên nhân và đề xuất các
giải pháp trong thời gian tới.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, kinh nghiệm một số nƣớc về sự tiếp
nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD áp dụng với TĐKT nhà
nƣớc; đánh giá sự phù hợp của Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD và
Hƣớng dẫn của OECD về quản trị công ty trong DNNN; đánh giá hiệu quả
quản trị TĐKT nhà nƣớc từ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành đến
thực tiễn quản trị công ty tại TĐKT nhà nƣớc theo từng nguyên tắc của
OECD, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về quản trị công ty đối với
TĐKT nhà nƣớc; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về quản trị TĐKT nhà nƣớc ở Việt Nam với sự tham khảo các nguyên tắc

Các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học đƣợc thực hiện gồm: phƣơng
pháp hệ thống hóa, phân tích tổng hợp, phân tích so sánh, đối chiếu… và có
sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trƣớc đó đã công bố. Bằng
những phƣơng pháp này, luận văn xác định nội dung nghiên cứu chính là sự
phù hợp các nguyên tắc quản trị công ty của OECD với vấn đề quản trị TĐKT
nhà nƣớc. Đây sẽ là định hƣớng xuyên suốt luận văn để làm cơ sở cho các
nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo.
Việc nghiên cứu kinh nghiệm các nƣớc đã áp dụng bộ nguyên tắc quản
trị công ty của OECD bằng phƣơng pháp tổng hợp so sánh và thông qua việc
kế thừa các kết quả nghiên cứu trƣớc đó, luận văn đã cố gắng làm rõ những
điểm tƣơng đồng và khác biệt trong quản trị DNNN của mỗi quốc gia; từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho phần nội dung chính của

6


Luận văn và kiến nghị những giải pháp phù hợp với pháp luật quản trị DNNN
trong nƣớc.
Phƣơng pháp hệ thống hóa đƣợc sử dụng để tác giả có đƣợc nhìn nhận
tổng quát nhất về đặc trƣng quản trị công ty trong các TĐKT nhà nƣớc để từ
có có những kiến nghị phù hợp với đặc trƣng của nền kinh tế Việt Nam và mô
hình hoạt động của các TĐKT nhà nƣớc.
6. Những điểm mới và những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu lý thuyết chung về tiếp nhận pháp luật, cơ chế tiếp nhận
pháp luật và những lợi ích của việc tham khảo các nguyên tắc quản trị công ty
đối với TĐKT nhà nƣớc;
Làm rõ các vấn đề pháp lý về quản trị công ty áp dụng đối với TĐKT Nhà
nƣớc Việt Nam theo phƣơng pháp tiếp cận về quản trị công ty của OECD.
Phân tích rõ thực trạng pháp luật về quản trị TĐKT nhà nƣớc; đánh giá
hiệu quả thực tế quản trị tại một số tập đoàn, chỉ ra những điểm mạnh, điểm

lập của Alan Watson và của Kahn Freund. Theo đó thì “legal transplant” là
việc đƣa quy định pháp luật từ một quốc gia này sang áp dụng tại một quốc
gia hay đây là quá trình mà luật và các chế định pháp lý đƣợc xây dựng ở một
quốc gia sau đó đƣợc chấp nhận và thực hiện ở một quốc gia khác [30]. Nhà
tƣ tƣởng Pháp Montesquieu và học giả Pierre Legrand lại có quan điểm phủ
nhận khả năng tiếp nhận pháp luật nƣớc ngoài và cho rằng, "pháp luật của mỗi
quốc gia gắn liền với điều kiện tự nhiên, xã hội và con người của quốc gia đó,
cho nên nó không thể “sống” trong một môi trường khác" [36]. Và Pierre
Legrand đã thẳng thừng bác bỏ: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp
tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ
vô hồn" [55].
Ở Việt Nam, áp dụng pháp luật trong quá trình xây dựng pháp luật
trong nƣớc - legal transplant (trong tiếng Anh) thƣờng đƣợc sử dụng dƣới tên
gọi “tiếp nhận” pháp luật nƣớc ngoài hoặc cấy ghép pháp luật.

8


Theo nhà luật học Bùi Xuân Hải "Cấy ghép pháp luật đƣợc hiểu là quá
trình “di chuyển” của các quy tắc pháp lý hay các chế định pháp luật (hoặc có
thể là các học thuyết pháp lý) từ nƣớc này sang nƣớc khác trong quá trình làm
luật và cải cách pháp luật. Sự di chuyển này thể hiện ở việc các quy tắc, chế
định, học thuyết pháp lý của nƣớc A đƣợc nƣớc B tiếp nhận và đƣa vào hệ
thống pháp luật của mình. Việc tiếp nhận có thể thực hiện ở nhiều cấp độ: quy
tắc đơn lẻ, một chế định, một nguyên tắc pháp lý và thậm chí, cả cấu trúc
pháp luật [30].
Nhà luật học Phạm Duy Nghĩa cho rằng “tiếp nhận pháp luật không chỉ
bao gồm việc vay mƣợn pháp luật ngoại quốc bởi các cơ quan soạn thảo và
ban hành pháp luật. Cũng nhƣ văn hoá nói chung, sự tiếp nhận pháp luật diễn
ra bởi nhiều kênh giao lƣu khác nhau; càng tự nhiên thì càng có hiệu quả;

(thuộc chính phủ hoặc phi chính phủ). Sự tiếp nhận này đƣợc áp dụng ở mỗi
nƣớc là khác nhau và đƣợc chọn lọc dựa trên các điều kiện về kinh tế, chính
trị, văn hóa xã hội và hệ thống pháp luật hiện tại của từng quốc gia. Với phạm
vi nghiên cứu của đề tài, trong nội dung nghiên cứu lý luận về tiếp nhận pháp
luật dƣới đây, tác giả tập trung nghiên cứu lý luận về tiếp nhận thông lệ quốc
tế mà cụ thể là các nguyên tắc quản trị công ty của OECD với các nội dung về
phƣơng thức tiếp nhận, điều kiện tiếp nhận hiệu quả và cơ chế tiếp nhận pháp
luật đối với pháp luật về quản trị TĐKT nhà nƣớc Việt Nam.
1.2. Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
1.2.1. Quan niệm về quản trị công ty của OECD
Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ
chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các
nƣớc có nền kinh tế phát triển trên thế giới nhƣ Mỹ, Canada và các nƣớc Tây
Âu. Hiện nay, số thành viên của OECD là 30 quốc gia, gồm Mỹ, Canada, Áo,
Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan,
10


Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh,
Nhật Bản, Phần Lan, Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Mexico, Cộng hòa Séc,
Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Slovakia [33].
Trên thế giới, OECD đã có nhiều các nghiên cứu và báo cáo đánh giá
về tình hình quản trị công ty của các nƣớc nhƣng chủ yếu tập trung ở các
nƣớc thành viên. Trên cơ sở việc nghiên cứu và đánh giá đó năm 1999,
OECD đã ban hành các nguyên tắc quản trị công ty. Bộ nguyên tắc này cung
cấp các tiêu chuẩn không bắt buộc và các thông lệ tốt cũng nhƣ hƣớng dẫn
thực hiện các tiêu chuẩn và thông lệ tốt này, có thể điều chỉnh cho phù hợp
với từng hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia và khu vực.
Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (OECD) (2004) quan niệm "quản
trị công ty liên quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội

Tại nhiều nƣớc, trong khu vực kinh tế nhà nƣớc tồn tại các TĐKT,
Tổng công ty (TCT), DNNN có thực trạng tài chính là rất yếu kém, thua lỗ
kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro mất cân đối tài chính [53]. Thực tế đó buộc
Chính phủ các nƣớc phải tiến hành cải cách doanh nghiệp sao cho phù hợp
với nền kinh tế trƣờng, vừa đảm bảo hiệu quả hoạt động và duy trì đƣợc vai
trò xã hội của DNNN. Đại diện trong các DNNN không giống nhƣ đại diện ở
các doanh nghiệp thuộc khu vực sở hữu tƣ nhân. DNNN là một thực thể thuộc
sở hữu nhà nƣớc, nhà nƣớc đầu tƣ vốn vào doanh nghiệp bên cạnh những mục
tiêu kinh tế, còn có mục tiêu xã hội (phần lớn các doanh nghiệp nhà nƣớc là
những doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích cho xã hội). Điểm
khác biệt chính của DNNN đó là, chủ sở hữu DNNN mang quyền lực Nhà
nƣớc. Nhà nƣớc vừa ban hành cơ chế chính sách, pháp luật cho nó tồn tại và
cũng là chủ thể sở hữu nó. Vì vậy, kinh tế thị trƣờng có thể dễ dàng bị bóp
méo bởi sự can thiệp của nhà nƣớc thông qua các DNNN. Thực tế này đã
từng tồn tại trong thời gian dài ở Việt Nam trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, thị trƣờng không phát triển theo quy luật cạnh tranh, khu vực kinh
tế nhà nƣớc chiếm vị trí thống lĩnh và duy trì toàn bộ hoạt động của nền kinh

13


tế. Mặc dù, thừa nhận sự tồn tại và bình đẳng của tất cả các thành phần kinh tế
nhƣng cũng không thể phủ nhận vai trò to lớn của DNNN đối với nên kinh tế.
Vì vậy, cần có cơ chế quản trị DNNN thích hợp để tách rời quyền lực nhà
nƣớc với chức năng đại diện sở hữu của nhà nƣớc, bảo đảm nhà nƣớc thể hiện
vai trò nhƣ một cổ đông tham gia vào hoạt động quản trị công ty và bình đẳng
với những cổ đông khác. Doanh nghiệp nhà nƣớc cũng đƣợc đối xử nhƣ
những doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tƣ nhân, bảo đảm các yếu tố minh
bạch, tính trách nhiệm và tính giải trình của ngƣời quản lý doanh nghiệp, có
cơ chế giám sát độc lập, hiệu quả (không phải kiểm tra giám sát nhà nƣớc) và

các đối tác kinh doanh, xã hội, cộng đồng; mà quản trị công ty còn là việc
tạo lập, thực hiện hệ thống các quy định, quy chế, chuẩn mực và kinh
nghiệm thực tiễn tốt để đảm bảo tính trách nhiệm, minh bạch, công khai
hƣớng tới bảo vệ quyền lợi của nhiều chủ thể (cổ đông, đối tác kinh doanh,
ngƣời lao động, chủ nợ, nhà nƣớc); quản trị công ty đƣợc xác định trên nền
tảng của việc tách rời giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp. Điều đó có
nghĩa là, quản trị công ty không chỉ đơn thuần liên quan đến hoạt động thực
thi pháp luật của doanh nghiệp, nó còn tác động đến các cơ quan nhà nƣớc
trong việc thiết lập một cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật bảo đảm cho
sự vận hành hiệu quả trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp, hay nó còn
tác động đến cả yếu tố tâm lý, đạo đức xã hội khi xác định trách nhiệm giải
trình, minh bạch và sự thiện chí của những ngƣời đƣợc giao trách nhiệm
quản lý doanh nghiệp. Tất cả những nội dung đó đƣợc xác định và có hƣớng
dẫn cụ thể trong 6 nguyên tắc quản trị công ty. Chính vì vậy, các nguyên tắc
này không chỉ là tiêu chuẩn cho các nƣớc thuộc OECD mà còn đƣợc coi là
tiêu chuẩn, thông lệ tốt mang tính toàn cầu.
1.2.2. Nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD áp dụng đối với
doanh nghiệp nhà nước
Xuất phát từ kinh nghiệm các nƣớc đã bắt đầu thực hiện cải cách quản trị
DNNN cho thấy việc cải cách quản trị DNNN là cần thiết nhƣng quá trình triển

15


khai thực hiện lại rất phức tạp. Thách thức lớn nhất là cân bằng giữa trách
nhiệm của Nhà nƣớc trong việc thực hiện có hiệu quả chức năng chủ sở hữu
nhà nƣớc nhƣ bổ nhiệm/bầu thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT). Bên cạnh
đó, Nhà nƣớc phải kiềm chế trong việc can thiệp quá sâu vào quản lý doanh
nghiệp. Một thách thức quan trọng khác là đảm bảo sân chơi bình đẳng cho các
doanh nghiệp khu vực tƣ nhân có thể cạnh tranh với DNNN và Chính phủ các

Chính phủ là cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc, do vậy Chính phủ
không nên tham gia vào hoạt động quản lý hàng ngày của DNNN và cần thiết
đề cao tính tự chủ của các DNNN.
Việc thực thi quyền sở hữu nhà nƣớc phải đƣợc xác định rõ ràng với
quản lý hành chính Nhà nƣớc. Điều này có thể đƣợc thực hiện bằng việc thiết
lập một cơ quan điều phối, hoặc cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng
chủ sở hữu nếu thích hợp. Cơ quan điều phối hoặc cơ quan chủ sở hữu phải
có trách nhiệm trƣớc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cũng nhƣ trƣớc Quốc
hội và có quan hệ rõ ràng với các cơ quan nhà nƣớc quan trọng khác, kể cả cơ
quan hay tổ chức kiểm toán nhà nƣớc [40].
Trong thực hiện chức năng chủ sở hữu, quyền của chủ sở hữu nhà nƣớc
phải tƣơng ứng với mỗi hình thức pháp lý của DNNN. Trách nhiệm hàng đầu
của chủ sở hữu nhà nƣớc bao gồm: Thực hiện quyền chủ sở hữu tại Đại hội
đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) và bỏ phiếu theo tỷ lệ sở hữu; hình thành cơ chế bổ
nhiệm HĐQT một cách minh bạch và có cơ cấu ở các doanh nghiệp 100% sở
hữu nhà nƣớc hoặc sở hữu nhà nƣớc chi phối, tham gia tích cực vào việc bổ
nhiệm thành viên Hội đồng quản trị; hình thành hệ thống báo cáo thƣờng
xuyên trong vận hành cơ chế giám sát và đánh giá kết quả hoạt động của các
DNNN; Trong khuôn khổ của pháp luật, phải thƣờng xuyên duy trì quan hệ
đối tác với các cơ quan kiểm toán độc lập và các cơ quan kiểm soát đặc biệt
của Nhà nƣớc; Đảm bảo cơ chế thù lao cho các thành viên Hội đồng quản trị
thúc đẩy các lợi ích dài hạn của doanh nghiệp, thu hút và tạo động lực cho các
nhà quản lý chuyên nghiệp tham gia.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status