ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HUỆ
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN
VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
ĐỊA PHƢƠNG TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HUỆ
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN
VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
ĐỊA PHƢƠNG TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
Danh mục các từ viết tắt
1
MỞ ĐẦU
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM
9
PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN ĐỊA PHƢƠNG TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.
Khái niệm và vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
9
Tòa án nhân dân địa phương trong xét xử vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm và vai trò của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự
9
1.1.2. Khái niệm và vai trò của Hội thẩm nhân dân trong xét xử vụ
16
án hình sự
28
1.3.2. Giai đoạn hai (1960 - 1992)
33
1.3.3. Giai đoạn Hiến pháp năm 1992 với Nghị quyết số 51/2001/QH10
36
4
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
39
HIỆN HÀNH VỀ VAI TRÒ CỦA THẦM PHÁN VÀ HỘI
THẨM NHÂN DÂN TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƢƠNG
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
2.1.
Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về vai
39
trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương
2.2.
80
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN
DÂN VÀ TĂNG CƢỜNG HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
3.1.
Nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự
80
hiện hành về vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
3.1.1. Những bất cập trong chế định Thẩm phán
80
3.1.2. Một số điểm hạn chế trong chế định Hội thẩm nhân dân
83
3.2.
90
Những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân
3.2.1. Thẩm phán
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
HĐXX
: Hội đồng xét xử
HTND
: Hội thẩm nhân dân
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
8
địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến nhiệm vụ chính trị của hệ thống Tòa án
nói riêng và của bộ máy nhà nước nói chung.
Bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận, vai trò của Thẩm phán và
sự tham gia của HTND trong xét xử vụ án hình sự còn bộc lộ nhiều điểm hạn
chế như theo tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị
quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị thì: Công tác tư pháp nói
chung chưa ngang tầm với yêu cầu đòi hỏi của nhân dân, còn nhiều trường
hợp bị lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ
của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và
các cơ quan tư pháp; và cán bộ của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng được
yêu cầu của tình hình hiện nay. Đội ngũ Thẩm phán còn thiếu về số lượng,
yếu về trình độ năng lực nghiệp vụ, một bộ phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm,
thiếu bản lĩnh, sa sút phẩm chất đạo đức. Đây là vấn đề nghiêm trọng làm ảnh
hưởng đến kỷ cương, pháp luật và hiệu lực của bộ máy nhà nước.
Nằm trong hệ thống của Ngành TAND trên cả nước, Ngành TAND
tỉnh Quảng Ninh được tổ chức và hoạt động thống nhất theo hai cấp là TAND
cấp tỉnh và các TAND cấp huyện, thực hiện chức năng xét xử trong phạm vi
thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trong những năm vừa qua, đội ngũ
Thẩm phán và Hội thẩm TAND trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh không ngừng
được bổ sung về số lượng và nâng cao về chất lượng, góp phần quan trọng
vào việc nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án cũng như bảo vệ lợi ích Nhà
nước, xã hội và quyền lợi chính đáng của công dân trên địa bàn tỉnh. Tuy
nhiên, vai trò trong xét xử các vụ án nói chung cũng như xét xử các vụ án
hình sự nói riêng của đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm TAND trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém ảnh hưởng phần nào đến
chất lượng xét xử của Tòa án.
nghiên cứu về đề tài cải cách tư pháp và năng lực của đội ngũ Thẩm phán.
Tiêu biểu có thể kể đến như sau:
Ở cấp độ đề tài cấp nhà nước có công trình khoa học Cải cách hệ
thống tư pháp ở Việt Nam, mã số 92-98-353, do ông Nguyễn Văn Yểu làm
10
chủ nhiệm đề tài năm 1993. Tiếp đó là đề tài KX.04.06 (thuộc Chương trình
khoa học xã hội cấp nhà nước 2001-2005): "Cải cách các cơ quan tư pháp,
hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư
pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" do Bộ Tư pháp chủ trì, được
nghiệm thu năm 2007.
Đề tài khoa học cấp Bộ: "Đổi mới chế định Hội thẩm trong cải cách
tư pháp ở Việt Nam hiện nay" do nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn
Văn Sản làm Chủ nhiệm, được nghiệm thu năm 1999. Đề tài đưa ra những
kiến nghị về cơ chế tổ chức, hoạt động và những kiến nghị về hoàn thiện pháp
luật nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.
Còn ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học có các đề tài: Đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003; Lê Thành Dương, Đổi
mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2002; Đỗ Thị
Ngọc Tuyết, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống Tòa án
Việt Nam theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2006.
Bên cạnh đó, về sách chuyên khảo, bình luận thì có các công trình
khoa học sau: Thông tin Khoa học pháp lý Viện Khoa học pháp lý - Bộ tư
pháp, Người Thẩm phán nhân dân, 2002; Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
các luận án, các bài báo khoa học đã được công bố ở Việt Nam trong thời gian
qua, đặc biệt là kể từ khi có Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cho thấy hầu hết các công trình đó là những
công trình nghiên cứu cơ bản và trực diện về tổ chức và hoạt động của hệ thống
Tòa án, còn về vai trò của đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm thì chưa được khoa
học pháp lý Việt Nam quan tâm nghiên cứu đúng mức. Những nghiên cứu về
Thẩm phán và Hội thẩm, Ngành TAND mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra vị trí, vai
trò của đội ngũ này trong hoạt động tố tụng hình sự và nghiên cứu về Thẩm
phán và HTND trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án
12
một cách chung chung mà chưa được triển khai nghiên cứu độc lập, đánh giá
lý luận và tổng kết thực tiễn trong một công trình khoa học độc lập.
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng
định việc nghiên cứu đề tài "Nâng cao vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân của Tòa án nhân dân địa phương trong xét xử vụ án hình sự Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ninh" là đòi hỏi khách
quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn cao.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao vai
trò Thẩm phán và HTND của TAND địa phương trong xét xử vụ án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ được những vấn đề lý luận về vị trí, vai trò của Thẩm phán
và HTND của TAND địa phương trong xét xử vụ án hình sự.
- Phân tích những quy định của Bộ luật tố tụng hình (BLTTHS) sự
hiện hành về vị trí, vai trò của Thẩm phán và HTND TAND địa phương trong
xét xử vụ án hình sự; đồng thời đánh giá đúng thực tiễn thực hiện, chỉ ra được
tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương
ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý
luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở
cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về vai trò của Thẩm phán và HTND, mà
trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn có liên
quan. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vai trò
của Thẩm phán và HTND trong xét xử vụ án hình sự.
- Nghiên cứu và đánh giá làm sáng tỏ bức tranh thực tiễn về vai trò
xét xử các vụ án hình sự của Thẩm phán và Hội thẩm TAND trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh trong thời gian 5 năm gần đây (từ năm 2009 đến năm 2014); chỉ
14
ra những tồn tại, hạn chế cũng như những nguyên nhân cơ bản của những tồn
tại, hạn chế đó.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề
xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao
vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm của TAND địa phương trong xét xử vụ án
hình sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền và
cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
không chỉ dành cho các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo Luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác trong các cơ quan tiến
Theo quy định tại khoản 1, Điều 102 của Hiến pháp nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam năm 2013: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" [19]. Theo
đó, Tòa án là cơ quan duy nhất được giao nhiệm vụ xét xử các vụ án và giải
quyết các tranh chấp xảy ra trong xã hội, "bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" [19]. Tòa án thực
hiện chức năng xét xử của mình thông qua Thẩm phán và HTND.
Đội ngũ Thẩm phán ra đời khá muộn mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ
rất lâu và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước. Dưới chế độ Chiếm hữu nô
lệ, Nhà vua là người đại diện cho pháp luật, đồng thời có quyền xét xử. Khi
mà quyền lực nhà nước được chia thành ba quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp độc lập nhau, kiềm chế đối trọng nhau thì cũng đồng nghĩa với sự tách
biệt của Tòa án ra khỏi quyền hành pháp và lập pháp. Từ đó một đội ngũ
chuyên làm nhiệm vụ xét xử - Thẩm phán ra đời. Cho tới ngày nay, Thẩm
phán đã tham gia xét xử vào tất cả các lĩnh vực của đời sống, đáp ứng được
nhu cầu phát triển của nền kinh tế, xã hội.
Hiện nay, một hệ thống các văn bản pháp luật, Từ điển Luật học đã
làm sáng tỏ được rất nhiều về khái niệm Thẩm phán.
16
Theo từ điển Luật học và khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh Thẩm phán
và Hội thẩm TAND năm 2002 đã xác định Thẩm phán là: "Người được bổ
nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và
giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án" [45]. Như vậy,
Thẩm phán là một chức danh tư pháp, chỉ người làm việc trong Tòa án, nhân
danh Nhà nước tham gia vào các hoạt động xét xử.
Thẩm phán phải là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và
định Thẩm phán phải là người hết sức vô tư, tôn trọng bằng chứng, xem xét
đứng đắn các bằng chứng thực tế mà mỗi bên đương sự đưa ra trong quá trình
giải quyết vụ án của mình.
Thứ hai: Hoạt động xét xử là một cuộc đấu tranh tìm ra sự thực khách
quan, hoạt động này chịu sự giám sát nghiêm ngặt của các cơ quan, tổ chức
và cá nhân.
Trong quá trình xử lý vụ án, Thẩm phán phải sử dụng năng lực và toàn
bộ kiến thức cần thiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án trên cơ sở bằng chứng
thực tế. Đây là cả một quá trình tố tụng phức tạp đòi hỏi ngay từ đầu người
Thẩm phán phải thực sự toàn tâm toàn lực. Họ phải rất khéo léo và nhạy bén
tại phiên tòa, giai đoạn tố tụng cuối cùng rất quan trọng.
Để không bị cám dỗ trên con đường tìm kiếm lẽ phải, cuộc đấu tranh
tinh thần của người Thẩm phán đòi hỏi họ phải luôn kiên quyết, vững vàng ý
chí. Mục tiêu cuối cùng mà người Thẩm phán phải đạt được và cũng là mục
đích mà toàn bộ nhân dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu
tình đạt lý, đảm bảo tính đúng đắn của bản án, không bỏ lọt kẻ phạm tội. Phán
quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong toàn bộ dân chúng.
Chính vì thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát.
Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của HTND
chính là sự giám sát ở bên trong phiên tòa. Khi xét xử HTND ngang quyền
với Thẩm phán, cùng Thẩm phán đưa ra quyết định đúng pháp luật.
Thứ ba: Hoạt động này đòi hỏi một con người toàn diện, bản lĩnh
vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan.
Đây không những là đặc thù nghề nghiệp Thẩm phán mà còn là các
tiêu chuẩn mà pháp luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay. Chỉ có thể
18
có kiến thức rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho công bằng vô tư,
b) Vai trò của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự
Các quy định của pháp luật hiện hành đã xác định Thẩm phán là người
thay mặt cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử. Vì vậy, thông qua hoạt động
xét xử Thẩm phán góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp
chế XHCN, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài
sản, tự do, danh sự, nhân phẩm và các lợi ích chính đáng của công dân. Có thể
nói, hoạt động của Thẩm phán là một trong các yếu tố quyết định đến chất
lượng hoạt động của tòa án nói riêng cũng như các cơ quan tư pháp nói
chung; ảnh hưởng đáng kể đến tinh thần trách nhiệm của các cơ quan và cán
bộ tư pháp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Thẩm phán giữ vai trò chính trong hoạt động xét xử tại Tòa án, nhân
danh Nhà nước công bố một bản án, một quyết định về việc công dân có tội
hay vô tội; giải quyết các tranh chấp về hợp đồng, các quyết định hành chính,
hành vi hành chính… nó liên quan trực tiếp đến lợi ích, thậm chí đến số phận
và phẩm giá con người. Và để Tòa án đưa ra phán quyết đúng đắn, giải quyết
các tranh chấp đúng pháp luật, hợp lý hợp tình, xét xử đúng người, đúng tội
thì đòi hỏi người Thẩm phán phải có bản lĩnh, kinh nghiệm và trình độ nghiệp
vụ chuyên môn vững vàng. Hơn nữa, Thẩm phán còn phải gương mẫu trong
việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng
các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Chính vì thế, hoạt động của Thẩm phán còn góp phần đẩy mạnh cải cách tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế XHCN; giải quyết các tranh chấp và xử lý nghiêm minh các hành vi vi
phạm pháp luật xảy ra trong xã hội đúng pháp luật.
Trong quá trình tố tụng, vai trò của người Thẩm phán rất quan trọng
và là một trong các yếu tố quyết định chất lượng của quá trình xét xử tại Tòa
án. Với tư cách là người đại diện cho quyền lực của Nhà nước trong việc thực
thi quyền lực công lý, Thẩm phán là người hướng dẫn cho các bên đương sự
nhau. Mối quan hệ này thể hiện rõ nhất là Thẩm phán Tòa án cấp dưới quan
21
hệ với Tòa án cấp trên theo thủ tục tố tụng quy định. Mối quan hệ này hoàn
toàn độc lập với nhau. Tòa án cấp dưới không chịu sự điều hành của Tòa án
cấp trên. Tòa án cấp trên chỉ làm nhiệm vụ hướng dẫn việc áp dụng thống
nhất pháp luật cho Tòa án cấp dưới.
Trong tổ chức và hoạt động của Tòa án không thể không nói tới mối
quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án. Thẩm phán cũng là công chức nên
lãnh đạo được coi là cấp trên của Thẩm phán. Mối quan hệ giữa cấp trên và
cấp dưới là quan hệ lệ thuộc và nhạy cảm [14, tr. 3]. Pháp luật quy định Thẩm
phán làm việc theo sự phân công của Chánh án là Thủ trưởng cơ quan nơi
Thẩm phán làm việc.
Trong HĐXX, Hội thẩm tham gia với tư cách đại diện cho quần chúng
nhân dân tham gia vào quá trình xét xử. Trong khi xét xử Hội thẩm ngang
quyền với Thẩm phán. Cả HTND và Thẩm phán phải cùng nhau xem xét tính
đúng đắn của vụ án. Chính vì vậy, pháp luật cũng đặt ra những yêu cầu cần
thiết cho HTND về cả trình độ và kinh nghiệm.
Để Thẩm phán hoàn thành tốt nhiệm vụ, Thư ký phiên tòa với tư cách
là cán bộ Tòa án tham gia vào phiên xét xử tiến hành lập biên bản tại phiên
tòa. Trước khi bắt đầu phiên tòa Thư ký kiểm tra danh sách người được triệu
tập tới Tòa. Trách nhiệm của Thư ký là giúp việc cho Thẩm phán.
Trong một vụ án, Điều tra viên là người đầu tiên tiến hành các hoạt
động nghiệp vụ điều tra các tình tiết có liên quan tới vụ án. Khi được phân
công Điều tra viên chịu trách nhiệm về hoạt động điều tra của mình, kết quả
đó được đưa tới Viện kiểm sát tiến hành truy tố. Bản cáo trạng của Viện kiểm
sát sẽ được đọc tại phiên Tòa. Như vậy, Thẩm phán xét xử phải dựa trên kết
quả điều tra của Điều tra viên và bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát.
pháp sau này. Việc xét xử sơ thẩm của TAND có Hội thẩm tham gia, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp
vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm [19, Điều 103]
Theo quy định tại khoản 2, Điều 1 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội
thẩm TAND năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), HTND được xác định là:
23
" Người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án" [46].
Hội thẩm phải là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến
pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết
và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế XHCN, kiên quyết đấu
tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và
có sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao [45, Điều 5, khoản 2].
HTND ở nước ta gồm có:
- Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương;
- Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh [45, Điều 2, khoản 2].
Có thể nói, bản chất của việc ghi nhận sự tham gia của Hội thẩm vào
quá trình xét xử của TAND là sự thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc", góp
phần đảm bảo nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động
xét xử của Tòa án; đồng thời thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì
dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Qua thực tế tham gia xét
xử ở các TAND, các Hội thẩm nhân dân đã đóng góp một phần quan trọng
trong việc giúp Tòa án đưa ra các phán quyết đúng đắn, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
dân cư nên có kinh nghiệm trong hoạt động xã hội, có vốn kiến thức thực tế
phong phú, có mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Chính vì thế, Hội thẩm
hiểu rõ tình hình, hoàn cảnh cũng như nguyên nhân của các vụ án. Mặt khác,
thực tế cuộc sống luôn vận động và thay đổi, pháp luật không phải lúc nào
cũng theo kịp cuộc sống. Xuất phát từ việc tiếp xúc và thấu hiểu tâm tư
nguyện vọng của quần chúng, nắm bắt được dư luận xã hội, HTND có vai trò
trong việc đưa pháp luật tới gần với thực tiễn. Hay nói cách khác, sự tham gia
xét xử của HTND làm cho các bản án, quyết định của Tòa án mang tính
"chính trị" hơn. Trong một số trường hợp, HTND còn có kiến thức sâu về một
số lĩnh vực như quản lý kinh tế, y học, tâm lý xã hội… Các kiến thức sinh
động đó sẽ có ích trong việc bổ sung các kiến thức thực tiễn cho Thẩm phán,
giúp cho quá trình xét xử đúng đắn và hiệu quả. Nói như vậy không có nghĩa
25