Chuyên đề:
GIẢNG DẠY MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 2
THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI
A.Đặt vấn đề:
Một trong những vấn đề quan trọng của nhiệm vụ năm học 2008-2009 là thực hiện
chương trình thay sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 đạt kết quả cao nhất. Đó là vấn đề hiện
nay mà toàn xã hội quan tâm.
Như chúng ta đã biết, năm học này là năm thứ bảy thực hiện đổi mới chương trình phổ
thông tuy nhiên đối với lớp 2 là năm thứ 6, do đó có nhiều vấn đề đặt ra nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học. Để nâng cao chất lượng dạy và học, chúng ta có những thuận lợi, khó khăn
và những biện pháp, giải pháp cụ thể thế nào? Do đó, bản thân tôi viết chuyên đề Tập làm văn
này là để chúng ta bàn bạc, trao đổi,học tập kinh nghiệm lẫn nhau nhằm dạy tốt phân môn Tập
làm văn.
B.Nội dung chuyên đề:
I/ Vị trí và mục tiêu dạy Tập làm văn lớp 2:
1/ Vị trí phân môn tập làm văn:
Tiếng việt được dạy và học như các môn học khác trong trường tiểu học.Tiếng việt gồm
các phân môn: Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm
văn.Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng. Việc dạy và học Tập làm văn xét trên
2 phương diện:
* Phân môn Tập làm văn tận dụng những hiểu biết và kĩ năng về Tiếng Việt, do các
môn học khác rèn luyện và cung cấp, đồng thời góp phần hoàn thiện chúng.Để làm được 1 bài
văn nói hoặc viết,người làm phải hoàn thiện cả 4 kĩ năng: nghe,nói,đọc,viết,phải vận dụng tốt
kiến thức Tiếng Việt. Trong quá trình vận dụng này,các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn
thiện và nâng cao dần.
* Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản(nói và
viết).Nhờ vậy Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét trong từng phần,
từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư
+ Nói,viết về những vấn đề chủ điểm: kể một sự việc đơn giản,tả sơ lươc về người,vật xung
quanh theo gợi ý bằng tranh,bằng câu hỏi…
b/ Hình thức rèn luyện: có 2 hình thức rèn luyện chính là nói và viết .
ở mỗi hình thức luyện tập này,học sinh hình thành kĩ năng tạo lập văn bản qua từng công
đoạn,
từ những yêu cầu đơn giản nhất như:điền vào chỗ trống,trả lời câu hỏi đến nói hay viết một
đoạn văn trọn vẹn. Trong các tiết Tập làm văn từ học kì 2 trở đi,SGK tổ chức rèn luyện kĩ
năng nghe cho học sinh thông qua hình thức nghe ,kể chuyện,trả lời câu hỏi theo nội dung câu
chuyện.
Ví dụ:
Ở tiết Tập làm văn tuần 33, từ bài 1 : hãy nhắc lại lời an ủi và lời đáp của các nhân vật trong
tranh,đến nói lời đáp của các em trong những tình huống cụ thể và yêu cầu của bài tập cuối
cùng ở tiết học là học sinh viết một đoạn văn ngắn kể về một việc tốt của em hoặc bạn em.
Hay tiết 34: kể ngắn về người thân(nói,viết).Ở bìa tập 1,kể về một người thân của em,sau đó
yêu cầu tiếp theo là viết những điều đã kể thành một đoạn văn.
Ở tiết 30, nghe,kể chuyện và trả lời câu hỏi bài ‘Qua suối’ ở bài tập 1 yêu cầu nghe và trả lời
câu hỏi,ở bài tập 2 yêu cầu viết lại những điều đã nghe …
III/Phương pháp và biện pháp dạy học chủ yếu:
1/Phương pháp dạy học:
Để việc dạy Tập làm văn lớp 2 có hiệu quả cần sử dụng những phương pháp dạy học phát
huy tính tích cực của học sinh,các phương pháp đặc trưng của môn học: phương pháp thực
hành giao tiếp(đọc,viết,nghe,nói) trong các tình huống giao tiếp cụ thể,phương pháp đóng
vai,phương pháp rèn luyện theo mẫu,phương pháp phân tích ngôn ngữ…Đương nhiên những
phương pháp dạy học khác nhau:diễn giải thảo luận đặt và giải quyết vấn đề,sử dụng phương
tiện trực quan…vẫn được dùng để dạy Tập làm văn theo cách phối hợp một cách hợp lý các
phương pháp đã nêu.
2/ Hướng dẫn học sinh làm bài tập:
Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập(bằng câu hỏi,lời giải thích)
Ví dụ:
Tiết Tập làm văn tuần 16,bài 1(miệng): GV cho học sinh đọc yêu cầu của bài(đọc cả
- Tìm hiểu nội dung tranh
- Từng nhóm đóng vai diễn lại tình huống
Rút ra kết luận
2/ Em đáp lại lời xin lỗi trong các trường hợp như thế nào?
- Học sinh xác định yêu cầu đề bài bằng cách nêu câu hỏi gợi ý. Sau đó, giao từng tình
huống cho học sinh thảo luận, rồi lên đóng vai. Học sinh khác nhận xét
Rút ra kết luận
3/ Các câu hỏi dưới đây tả con chim gáy. Hãy sắp xếp lại thứ tự của chúng để tạo thành
một đoạn văn
- Xác định yêu cầu
- Học sinh thực hành ( Nói, viết )
- Nhận xét kết luận đúng
Muốn trình bày một đoạn văn ngắn, học sinh phải nắm cơ bản về đoạn văn cần đảm bảo
ba phần:
a/ Phần mở đầu: Giới thiệu …
b/ Phần miêu tả: Tả thực: Hình dạng, đặc điểm, tính cách …
c/ Phần kết thúc: Nêu tình cảm ,ích lợi …
Nội dung các bài tập trên cũng là những tình huống giao tiếp cụ thể ở cả hai dạng nói và
viết. Đây là điểm rất mới của Tập làm văn lớp 2. Nội dung các bài tập phân môn này chú
trọng hình thành kĩ năng nói năng, đặc biệt là các nghi thức lời nói thông thường như xin lỗi,
cảm ơn, chia buồn, chia vui, mời, nhờ,… Đây là các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt thông
thường, góp phần hình thành cách nói năng mang đạm tính văn hóa cho học sinh.
3/ Đánh giá kết quả thực hành, luyện tập ở lớp, hướng dẫn hoạt động nối tiếp
( ở ngoài lớp, sau tiết học)
Hướng dẫn HS nhận xét kết quả của bạn, tự đánh giá kết quả bản thân, trong quá trình
luyện tập trên lớp, nêu nhận xét chung, biểu dương những HS thực hiện tốt.
Nêu yêu cầu, hướng dẫn HS thực hiện những hoạt động tiếp nối nhau nhằm củng cố kết
quả thực hành luyện tập ở lớp ( Thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sử dụng kĩ năng đã họcvào
b/ Giáo viên cần dạy tôt các môn học như:
Tập đọc, Luyện từ và câu … vì các môn học đó thường cùng chủ đề với nội dung tiết Tập làm
văn.
Ví dụ: Tuần 1,bài tập 1 : Trả lời câu hỏi:
-Tên em là gì?
- Quê em ở đâu?
-Em học lớp nào,trường nào?
Baì tập 2: Nghe các bạn trong lớp trả lời câu hỏi bài tập 1, nói lại những điều em biết về bạn.
Nội dung các bài tập tên đã được học ở bài Tập đọc Tự thuật
Bài tập 3: Kể lại nội dung mỗi tranh … được học ở tiết Luyện từ và câu
c/ GV cần luyện cho mình có thói quen hướng dẫn HS đóng vai các tình huống, để học sinh
khỏi bỡ ngỡ khi đóng vai.
d/ GV soạn bài, xem bài thật kĩ trước khi đến lớp.
e/ Phần dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà cũng là một khâu quan trọng cho tiết học.
g/ Chuẩn bị thời gian cho từng loại bài học thật hợp lý.
V/ Kết quả giảng dạy:
Sau những năm thực hiện chương trình mới,tôi thấy HS đạt những kết quả như sau:
1/ Quan sát tranh trả lời câu hỏi: Các em nắm được nội dung tranh,kể được đoạn văn đủ
ý,đúng câu,câu văn có hình ảnh.Chỉ còn vài em nói chưa được chuẩn xác.
2/ Loại chào hỏi,tự giới thiệu : chúng ta có thể khẳng định 100% học sinh biết thực hành, tự
giời thiệu về mình… hỏi đáp rõ ràng,mạnh dạn trong phần tự giới thiệu.
3/ Mục lục danh sách: học sinh nắm được cách tra mục lục ,biết tra mục lục,biết tìm nhanh
bài,truyện … mà mình cần tìm.
4/ Thời khóa biểu : học sinh biết lịch học của từng ngày,biết áp dụng thời khóa biểu để chuẩn
bị bài,chuẩn bị đồ dùng học tập cho buổi đó.
5/ Phần gọi điện: ngay năm đầu tiên thực hiện chương trình mới thì bài này thuộc dạng khó
dạy.Hiện nay, đa số gia đình các em có điện thoại.Một bộ phận học sinh cũng đã được biết
đếnđiện thoại, đã có lúc gọi hoặc nghe điện thoại.Giáo viên chỉ việc đào tạo thao tác, lời lẽ
Hoạt động của GV
A/Kiểm tra bài cũ:
2 cặp học sinh thực hành
B. Dạy bài mới
1. Giới thiệu bài:
2. Hướng dẫn làm bài tập:
2.1 Bài tập 1- Gọi học sinh nêu yêu
cầu
- Gọi 1 học sinh nói về nội dung tranh
lời 2 nhân vật.
Hoạt động của HS
HS nói lời cảm ơn và đáp lại lời cảm ơn theo 3
tình huống (tiết trước)
- Học sinh nêu yêu cầu
- Lớp quan sát tranh đọc thầm.
- 3 cặp học sinh thực hành
- Khi làm điều gì sai trái, không phải với người
khác, khi làm phiền người khác.
- Trong trường hợp nào cần nói lời xin
lỗi ?
* Nhận xét
2.2 Bài tập 2: Gọi học sinh đọc yêu - 1 học sinh đọc yêu cầu và các tình huống cần
cầu.
đáp lời xin lỗi trong bài.
- Gọi 1 cặp học sinh làm mẫu
- Học sinh làm mẫu.
a. Mời bạn - Bạn cứ đi đi.
b. Không sao – Có sao đâu.