Pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng khoán tại các ngân hàng thương mại ở việt nam - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH HU

PHáP LUậT Về HợP ĐồNG CầM Cố CHứNG KHOáN TạI
CáC NGÂN HàNG THƯƠNG MạI ở VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH HU

PHáP LUậT Về HợP ĐồNG CầM Cố CHứNG KHOáN TạI
CáC NGÂN HàNG THƯƠNG MạI ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Lấ TH THU THY

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Khái niệm hợp đồng cầm cố chứng khoán .......................................... 7

1.1.2.

Đặc điểm hợp đồng cầm cố chứng khoán ........................................... 8

1.2.

Khái niệm, cấu trúc pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng
khoán tại Ngân hàng thƣơng mại .................................................. 16

1.2.1.

Khái niệm pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng khoán tại Ngân
hàng thƣơng mại ............................................................................... 16

1.2.2.

Cấu trúc pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng khoán tại Ngân
hàng thƣơng mại ............................................................................... 17

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 23
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CẦM CỐ
CHỨNG KHOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM ...................................................................................... 24
2.1.

Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng cầm cố chứng khoán tại
Ngân hàng thƣơng mại ................................................................... 24



2.4.2.

Điều kiện về nội dung ....................................................................... 46

2.4.3.

Điều kiện về nghĩa vụ đƣợc bảo đảm ............................................... 57

2.5.

Hợp đồng cầm cố chứng khoán vô hiệu ........................................ 58

2.6.

Giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện
hợp đồng cầm cố chứng khoán ...................................................... 61

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 67
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CẦM CỐ CHỨNG KHOÁN TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ............................... 68
3.1.

Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cầm cố
chứng khoán .................................................................................... 68

3.2.

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cầm cố

BLDS:

Bộ luật Dân sự

Nghị định 11:

Nghị định 11/2010/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm
2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định
số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm.

Nghị định 163:

Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 do
Chính phủ ban hành quy định chi tiết thi hành một
số điều của Bộ luật dân sự về việc xác lập, thực hiện
giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự và xử lý tài sản bảo đảm.

NHTM:

Ngân hàng thƣơng mại

Quyết định 03:

Quyết định 03/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng
Nhà nƣớc Việt Nam, ngày 01 tháng 02 năm 2008 về
việc cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tƣ và
kinh doanh chứng khoán.

TCTD:



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây luôn đạt tốc độ tăng
trƣởng cao, đồng thời với mức độ tăng trƣởng đó nhu cầu vốn cần thiết cho
nền kinh tế là rất lớn. Từ đó có thể khẳng định tín dụng ngân hàng trong giai
đoạn hiện nay đã và đang còn tiếp tục là một kênh cung cấp vốn quan trọng
cho nền kinh tế. Với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động của các ngân
hàng luôn đứng trƣớc nguy cơ rủi ro mà chủ yếu là nguy cơ mất vốn, chính vì
thế giải pháp cứu cánh hiện nay cho các ngân hàng là hầu hết khách hàng bắt
buộc phải có tài sản đảm bảo nếu vay vốn ngân hàng.
Hệ thống pháp luật nƣớc ta quy định khá cụ thể về các giao dịch bảo
đảm, từ Bộ luật Dân sự 2005 đến các văn bản hƣớng dẫn của Chính phủ, Bộ,
ngành liên quan. Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế nhằm tạo ra một hành
lang pháp lý để thực hiện cho các bên.
Hiện nay, mỗi ngân hàng thƣơng mại hầu nhƣ đã xây dựng quy định về
các biện pháp bảo đảm tiền vay để áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống. Tuy
nhiên, trên thực tế, ngay cả các “ông lớn” – ngân hàng lớn trong lĩnh vực ngân
hàng cũng đã gặp không ít khó khăn, vƣớng mắc liên quan đến giao dịch bảo
đảm dẫn đến những giao dịch bảo đảm không phát huy giá trị theo đúng nghĩa.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp là những ví dụ điển
hình cho hiệu quả hoạt động bảo đảm tiền vay của ngân hàng. Ngày nay, nó
càng trở nên thời sự hơn trong giai đoạn phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất
nƣớc. Mục đích của đề tài này ngƣời nghiên cứu muốn đề cập đến hợp đồng
cầm cố tài sản là chứng khoán - với tƣ cách là một loại tài sản bảo đảm cho
nghĩa vụ của khách hàng vay vốn tại các NHTM với mục đích giúp họ huy
động nguồn vốn nhanh và hiệu quả. Cho dù việc cầm cố chứng khoán để vay

1



sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán và rộng hơn là của cả thị trƣờng vốn
Việt Nam. Trên đây là lý do học viên quyết định chọn đề tài “Pháp luật về
hợp đồng cầm cố chứng khoán tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”
làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài này, dƣới góc độ nghiên cứu luật pháp, đã có một
số công trình nghiên cứu sau đây:
- TS. Lê Thị Thu Thủy (2002), Pháp luật về cầm cố tài sản vay vốn
ngân hàng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 11).
- Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm nghiên cứu khoa học về: “Một
số kiến nghị nhằm triển khai và phát triển nghiệp vụ cầm cố chứng khoán trên
thị trường chứng khoán Việt Nam”
- Đề tài “Pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân
hàng thương mại ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, của tác giả Trần
Mạnh Thƣờng (2011).
- Đề tài “Pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng giấy tờ có giá trong
hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận văn Thạc
sĩ Luật học, của tác giả Nguyễn Thị Nga (2011).
Ngoài ra, hoạt động cầm cố chứng khoán tại các NHTM cũng đƣợc
nhiều bài báo viết và điện tử đăng tải.
Khi tìm hiểu các tài liệu xung quanh vấn đề pháp luật về hợp đồng
cầm cố chứng khoán tại các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam, có thể thấy
rằng các bài viết, công trình nghiên cứu trên đây mới chỉ đề cập tới biện
pháp bảo đảm bằng cầm cố là tài sản nói chung và tài sản là giấy tờ có giá
tại các ngân hàng và mô tả hoạt động cho vay để đầu tƣ chứng khoán tại
các TCTD mà chƣa đi sâu tới hoạt động cầm cố chứng khoán của các NHTM.

3



36/2014/TT – NHNN của Ngân hàng Nhà nƣớc, ngày 20 tháng 11 năm 2014
quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài).
5. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề về lý
luận và thực trạng pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng khoán tại các NHTM,
trên cơ sở đó thấy đƣợc những vƣớng mắc, bất cập và nguyên nhân của những
hạn chế đó, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Với mục đích trên, thì nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đƣợc xác định là:
Làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng cầm cố chứng khoán và pháp
luật về hợp đồng cầm cố chứng khoán tại NHTM nhƣ: khái niệm, đặc điểm,
vai trò của cầm cố chứng khoán; khái niệm, đặc điểm, các chủ thể tham gia
hợp đồng cầm cố chứng khoán; nội dung, cấu trúc pháp luật về hợp đồng cầm
cố chứng khoán.
Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng
cầm cố chứng khoán tại NHTM ở Việt Nam bằng việc đƣa ra những nhận
định khái quát về những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế, bất cập của pháp
luật hiện hành.
Đƣa ra định hƣớng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
hợp đồng cầm cố chứng khoán tại các NHTM ở Việt Nam với mục đích để
đầu tƣ chứng khoán.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu và thực hiện dựa trên phƣơng pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó tác giả
còn vận dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu khác nhƣ phƣơng pháp tổng
hợp, so sánh, phân tích, thống kê các số liệu thực tế…để làm sáng tỏ các vấn
đề của luận văn.


Để có đƣợc một cái nhìn khái quát nhất về vấn đề này, chúng ta sẽ tìm
hiểu xem khái niệm cầm cố chứng khoán là gì? Và mục đích của việc cầm cố
chứng khoán để làm gì?
Cầm cố chứng khoán tại NHTM là việc các ngân hàng thƣơng mại
nhận chứng khoán làm tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay của khách hàng tại
ngân hàng. Quan hệ cầm cố chứng khoán đƣợc xác lập giữa bên cầm cố (nhà
đầu tƣ) và bên nhận cầm cố (các NHTM). Trên cơ sở quy định trong BLDS
2005 về hợp đồng cầm cố tài sản, thì có thể hiểu Hợp đồng cầm cố chứng
khoán là sự thỏa thuận của các bên, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cầm
cố) giao chứng khoán thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi
là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

7


1.1.2. Đặc điểm hợp đồng cầm cố chứng khoán
Là một dạng của hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng cầm cố chứng
khoán cũng là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đối vật, theo đó bên cầm cố
phải giao chứng khoán cho bên nhận cầm cố, đồng thời bên nhận cầm cố
chứng khoán cũng có quyền xử lý chứng khoán cầm cố khi đã đến hạn thực
hiện nghĩa vụ chính mà bên cầm cố không thực hiện. Bên cạnh đó, hợp đồng
cầm cố chứng khoán có một số đặc trƣng riêng sau:
- Nghĩa vụ đƣợc bảo đảm trong hợp đồng cầm cố là nghĩa vụ trả tiền
vay ở các TCTD, là nhằm để bảo đảm cho một nghĩa vụ là nghĩa vụ trả tiền
vay của bên vay với mục đích đầu tƣ chứng khoán, hoặc có thể bảo đảm cho
nhiều nghĩa vụ nhƣng cũng với mục đích để đầu tƣ chứng khoán. Điều đó
khác biệt với một hợp đồng cầm cố tài sản đơn thuần, có thể xác lập để bảo
đảm cho một nghĩa vụ bất kỳ khi có nghĩa vụ phát sinh đƣợc bảo đảm.
- Trong hợp đồng cầm cố chứng khoán đã niêm yết luôn có sự tham
gia của các thành viên lƣu ký chứng khoán – tham gia với tƣ cách là chủ thể

giao dịch trên thị trƣờng tập trung thì rủi ro về giá cả có thể xảy ra bất cứ lúc
nào, chỉ cần một biến động nhỏ nào đó của thị trƣờng hay về phía chủ thể
phát hành, hoặc có sự thay đổi về chính sách pháp luật có liên quan, hoặc
thậm chí chỉ cần một tin đồn thất thiệt nào đó thôi, thì ngay lập tức giá chứng
khoán sẽ giảm một cách nhanh chóng, khiến các nhà đầu tƣ trở tay không kịp.
Hơn thế nữa, một khi chủ thể phát hành chứng khoán bị phá sản thì rủi ro có
thể nói là rất lớn đối với nhà đầu tƣ. Bên cạnh đó, chứng khoán còn có tính vô
hình, tuy tồn tại dƣới hình thức là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ hay một
dữ liệu điện tử chẳng hạn, nhƣng đó chỉ là bằng chứng thể hiện những quyền
hợp pháp đối với một lợi ích nào đó ở hiện tại hoặc trong tƣơng lai. Giá trị
của chúng không liên quan gì đến hình thức mà những quyền đó đƣợc thể
hiện. Mà giá trị của chứng khoán sẽ tồn tại dƣới dạng những con số hoặc
những ký hiệu và đƣợc giao dịch thông qua các tài khoản. Thêm vào đó, một

9


trong những đặc tính quan trọng không thể thiếu của chứng khoán đó chính là
tính thanh khoản – là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt.
Phân loại chứng khoán: Căn cứ theo tính chất: Chứng khoán vốn (Cổ
phiếu, cổ phiếu ƣu đãi, chứng chỉ quỹ), chứng khoán nợ (trái phiếu); Căn cứ
theo tiêu chuẩn pháp lý: Chứng khoán ký danh (có ghi tên ngƣời nắm giữ
chứng khoán); chứng khoán vô danh (không ghi tên ngƣời nắm giữ chứng
khoán). Ngoài ra nếu phân loại theo mục đích phát hành thì còn có các loại
chứng khoán phái sinh nhƣ: quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn
mua…Tuy nhiên, do các loại chứng khoán này chƣa phát triển trên thị trƣờng
chứng khoán Việt Nam. Vì vậy, trong phạm vi đề tài này chỉ xoay quanh tìm
hiểu hợp đồng cầm cố các loại chứng khoán cơ bản nhƣ cổ phiếu, trái phiếu
và chứng chỉ quỹ và tựu chung lại gọi là hợp đồng cầm cố chứng khoán.
+ Cổ phiếu – là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp

Phân loại cổ phiếu: Mặc dù pháp luật chứng khoán không phân loại
cổ phiếu, nhƣng tùy theo mục đích cũng nhƣ tính chất của đợt phát hành
mà Luật doanh nghiệp 2014 sẽ phân chia cổ phiếu thành các loại tƣơng ững
với các loại cổ phần khi phát hành: bao gồm cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu
ƣu đãi biểu quyết, cổ phiếu ƣu đãi cổ tức, cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại và các
loại cổ phiếu ƣu đãi khác.
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu phổ biến nhất mà hầu hết các các
công ty cỏ phần khi đủ điều kiện sẽ đƣợc quyền phát hành loại cổ phiếu này.
Đặc trƣng của cổ phiếu phổ thông là có mệnh giá, có lãi suất không cố định,
không có thời hạn đáo hạn. Cổ phiếu phổ thông mang lại những quyền lợi sau
cho cổ đông: quyền hƣởng cổ tức, quyền mua cổ phiếu mới, đƣợc tự do
chuyển nhƣợng cổ phần, quyền tham dự các cuộc họp và bỏ phiếu biểu quyết
trong cuộc họp. Ngoài ra khi công ty bị giải thể hoặc phá sản, cổ đông phổ
thông sẽ đƣợc nhận một phần tài sản còn lại tƣơng ứng vứi số cổ phần góp
vốn vào công ty.

11


Cổ phiếu ƣu đãi cổ tức là cổ phiếu đƣợc trả cổ tức với mức cao hơn so
với mức cổ tức của cổ phiếu phổ thông hoặc mức ổn định hàng nă. Cổ tức đƣợc
chia gồm cổ tức cổ định và cổ tức thƣởng. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào
kết quả kinh doanh của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phƣơng thức xác
định cổ tức thƣởng đƣợc ghi trên cổ phiếu. Ngoài những đặc điểm đó, cổ phiếu
ƣu đãi cổ tức còn mang những đặc điểm trên cổ phiếu phổ thông.
Cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết là cổ phiếu mà ngƣời nắm giữ chúng sẽ có
số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với ngƣời nắm cổ phiếu phổ thông. Số
phiếu biểu quyết của một cổ phần ƣu đãi biểu quyết do điều lệ công ty quy
định, và chỉ có tổ chức chính phủ ủy quyền hoặc cổ đông sáng lập mới đƣợc
quyền nắm giữ cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết. Cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết của

và có bản chất nhƣ một khoản vay.
Một trái phiếu bao gồm các nội dung: mệnh giá trái phiếu, là giá trị
danh nghĩa của trái phiếu, đại diện cho số vốn gốc đƣợc hoàn trả cho trái chủ
tại thời điểm đáo hạn; Lãi suất danh nghĩa, là lãi suất đƣợc ghi trực tiếp lên
trái phiếu hoặc do ngƣời phát hành công bố, lãi suất này đƣợc xác định theo tỷ
lệ phần trăm so với mệnh giá của trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi
tức của trái phiếu; thời hạn của trái phiếu, là khoản thời gian từ ngày phát
hành đến ngày ngƣời phát hành hoàn trả tiền vốn lần cuối, ngày mà khoản
vốn gốc trái phiếu đƣợc thanh toán lần cuối đƣợc gọi là ngày đáo hạn của trái
phiếu, mỗi loại trái phiếu có thời hạn khác nhau. Ngoài ra, bên phát hành còn
phải đƣa ra giá phát hành và kỳ lãi để trái phiếu có đủ điều kiện phát hành
trên thị trƣờng.
Đặc điểm: là một loại giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát
hành nhằm huy động vốn dài hạn còn gọi là chứng khoán nợ. Tổ chức phát
hành trái phiếu để vay nợ đến ngày đáo hạn sẽ trả vốn là lãi cho trái chủ. Nếu
nhƣ ngƣời mua cổ phiếu của công ty là ngƣời chủ sở hữu một phần công ty
thì trái lại, ngƣời mua trái phiếu là chủ nợ của chủ thể phát hành trái phiếu đó;

13


ngƣời mua trái phiếu thƣờng đƣợc hƣởng lãi suất cố định, không phụ thuộc
vào tình hình sản xuất kinh doanh và hoạt động của công ty (trừ trƣờng hợp
trái phiếu có lãi suất thả nổi); khi công ty bị giải thể hoặc phá sản, ngƣời sở
hữu trái phiếu đƣợc ƣu tiên trả nợ trƣớc, sau đó còn lại mới phân chia cho các
cổ đông. Với những đặc điểm trên, trái phiếu là loại chứng khoán có tính ổn
định và chứa đựng mức độ rủi ro có thể nói là ở mức thấp nhất. Vì vậy, trái
phiếu là loại chứng khoán đƣợc các nhà đầu từ thích an toàn lựa chọn.
Phân loại trái phiếu: căn cứ vào chủ thể phát hành có thể chia trái phiếu
thành hai loại: trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Doanh nghiệp.

chứng chỉ quỹ đem lại những quyền lợi cho nhà đầu tƣ tƣơng tự nhƣ việc sở
hữu cổ phiếu: là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu, hƣởng lợi nhận trên
phạm vi cổ phần vốn góp và đặc biệt chứng chỉ quỹ cũng đƣợc niêm yết trên
thị trƣờng chứng khoán để mua bán giữa các nhà đầu tƣ. Tuy nhiên, vẫn có
những điểm khác nhau giữa chứng chỉ quỹ và cổ phiếu là, trong khi cổ phiếu
là một phƣơng tiện đầu tƣ vào một công ty kinh doanh cụ thể, còn chứng chỉ
quỹ là phƣơng tiện để thành lập quỹ đầu tƣ chứng khoán, nếu ngƣời sở hữu cổ
phiếu phổ thông có quyền biểu quyết thì nhà đầu tƣ chứng chỉ quỹ không có
quyền tƣơng tự. Vì lẽ đó mà ngƣời sở hữu chứng chỉ quỹ không bị hạn chế
thực hiện bất kỳ một giao dịch nào cả, trong đó có việc đem chứng khoán cầm
cố cho các NHTM.
- Đối với chứng khoán niêm yết thì bên giữ tài sản ở đây không phải là
bên nhận cầm cố mà là TTLKCK thông qua các thành viên lƣu ký, chứng
khoán phải đƣợc lƣu ký tập trung tại TTLKCK theo quy định của Luật Chứng
khoán. Trên cơ sở hợp đồng cầm cố chứng khoán của các bên, bên cầm cố sẽ
nộp hồ sơ cho TTLKCK, kèm theo đó là bảng kê chứng khoán cầm cố có xác
nhận của bên nhận cầm cố. Sau khi xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, TTLKCK
sẽ thực hiện việc chuyển chứng khoán cầm cố vào tài khoản chứng khoán
cầm cố để lƣu giữ.

15


1.2. Khái niệm, cấu trúc pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng
khoán tại Ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng khoán tại
Ngân hàng thương mại
Pháp luật về hợp đồng cầm cố chứng khoán là một bộ phận của pháp
luật về giao dịch bảo đảm, điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh giữa bên
nhận cầm cố chứng khoán (NHTM cho vay) và bên cầm cố chứng khoán

đồng cầm cố chứng khoán.
 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng
cầm cố chứng khoán: khi giao kết hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng
chứng khoán tại NHTM các bên chủ thể phải tuân thủ theo các trình tự và thủ
tục nhất định. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng phải tuân theo quy định
chung về nhận tài sản bảo đảm tại BLDS năm 2005 và các hƣớng dẫn cụ thể
tại Nghị định số 163, Nghị định số 11/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của
nghị định 163 và các quy định pháp luật có liên quan.
 Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
vào hợp đồng cầm cố chứng khoán: Theo quy định của pháp luật, các bên chủ
thể của hợp đồng cầm cố chứng khoán tại NHTM bao gồm bên cầm cố (khách
hàng vay vốn) và bên nhận cầm cố (NHTM). Bên cầm cố dùng chứng khoán
thuộc sở hữu của mình cầm cố tại NHTM để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền
vay. Các bên chủ thể hợp đồng cầm cố chứng khoán có các quyền, nghĩa vụ
theo quy định từ Điều 330 đến Điều 333 của BLDS 2005; Điều 16 đến Điều
18 Nghị định số 163 và Khoản 8 Điều 1 Nghị định 11.
- Bên cầm cố
Bên cầm cố trong hợp đồng cầm cố chứng khoán là chủ sở hữu chứng
khoán, đồng thời cũng là bên có nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng (khách
hàng vay vốn). Chứng khoán là một loại tài sản vô hình nhƣng xét về bản
chất thì nó là một loại tài sản, nên khi xác định quyền sở hữu đối với chứng

17


khoán thì ngoài việc áp dụng những quy định của Luật chứng khoán 2010 thì
còn phải căn cứ vào những quy định của BLDS năm 2005 về quyền sở hữu
tài sản để giải quyết.
Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản [16, Điều 182].
Việc chiếm hữu ở đây phải ngay tình và hợp pháp, thông qua đó chủ thể đƣợc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status