Tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi huyện kim động tỉnh hưng yên 2015 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện dinh dưỡng cho con trẻ được chú trọng như hiện nay,
trường hợp trẻ thấp bé nhẹ cân so với chuẩn trong độ tuổi - còn gọi là suy
dinh dưỡng thấp còi - không nhiều. "Không nhiều" nghĩa là vẫn có.
Đây là tình trạng trẻ chậm phát triển chiều cao, có chiều cao theo tuổi
chỉ đạt dưới 90% so với chiều cao chuẩn. Suy dinh dưỡng thấp còi phản ánh
tình trạng suy dinh dưỡng mãn tính kéo dài. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế
giới, hiện nay có khoảng 29,5% trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển
bị suy dinh dưỡng thấp còi, tại Việt nam năm 2006 con số này là 29,3% [94].
Trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất,
trí tuệ, ảnh hưởng đến chất lượng nòi giống đồng thời trẻ lại dễ bị béo phì do
thấp về chiều cao [15].
Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi càng nặng nếu bệnh xuất hiện lúc
các cơ quan chưa trưởng thành. Nếu xảy ra trước 6 tuổi, đối với não trẻ sẽ
chậm phát trển trí tuệ, trí thông minh dễ dàng bị ảnh hưởng khi trẻ bị suy dinh
dưỡng bào thai và ở tuổi dưới 12 tháng. Chậm phát triển chiều cao nếu bệnh
xảy ra ở giai đoạn bào thai đến 2 tuổi và giai đoạn tiền dậy thì [16].
Mức độ chậm phát triển cũng tăng song song với thời gian kéo dài của
bệnh, nhiều nhất ở giai đoạn trẻ có tốc độ phát triển cao nhất; chiều cao thấp
nếu bệnh xuất hiện vào 3 giai đoạn quan trọng và kéo dài triền miên trong
nhiều tháng, nhiều năm; trí tuệ sẽ không hồi phục nếu trẻ bị suy dinh dưỡng
kéo dài trước 6 tuổi [16].
Về lâu dài, trẻ thấp còi nếu không được can thiệp kịp thời, sau này trở
thành người lớn có chiều cao thấp, và thường có nguy cơ tử vong cao, dễ mắc
bệnh hơn so với người bình thường, đồng thời khả năng làm việc, lao động
cũng kém hơn. Trẻ em gái bị suy dinh dưỡng thấp còi lớn lên có nguy cơ trở


2


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa suy dinh dưỡng
SDD là tình trạng cơ thể thiếu Protein – năng lượng và các vi chất dinh
dưỡng khác. Bệnh thường hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, thường biểu hiện bằng
tình trạng chậm lớn hay đi kèm các bệnh nhiễm khuẩn.
Trước kia người ta dùng thuật ngữ “ SDD protein – năng lượng” để chỉ các
thể lâm sàng điển hình từ SDD thể phù (Kwashiokor) đến thể teo đét
(Marasmus). Ngày nay người ta cho rằng đây là một tình trạng bệnh lý do
thiếu nhiều chất dinh dưỡng hơn là thiếu protein và năng lượng đơn thuần.
1.2. Phân loại suy dinh dưỡng
Hiện nay, người ta có thể áp dụng rất nhiều phương pháp đánh giá tình
trạng dinh dưỡng như xét nghiệm sinh hóa, đo nhân trắc, đánh giá chức năng
cơ thể... trong đó việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp đo
nhân trắc rất đơn giản và áp dụng dễ dàng trong điều kiện thực địa. Các chỉ
tiêu nhân trắc thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là: cân nặng
theo tuổi (CN/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) và chiều cao theo tuổi
(CC/T).
Lấy chuẩn theo quần thể tham khảo của TCYTTG năm 2005 với ngưỡng
là dưới -2 SD (Standard Deviation). Người ta chia SDD thành 3 thể:
- Thể nhẹ cân (Underweight): Chỉ số cân nặng theo tuổi dưới -2 SD so
với quần thể tham chiếu. Sự nhẹ cân phản ánh sự chậm trễ chung của
quá trình tăng trưởng, không phân biệt trẻ mắc SDD đã lâu ngày hay
gần đây.


4

- Thể gầy còm (Wasting): Chỉ số cân nặng theo chiều cao dưới -2 SD so

Dương đạt được mức giảm SDD nhanh. Tuy nhiên tỷ lệ SDD ở nước ta còn
cao (28,4%) và đặc biệt tỷ lệ SDD thấp còi còn khá cao 32% có sự chênh lệch
giữa các địa phương [92].
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng cho thấy vào năm 2003, tỷ lệ
SDD thấp còi chung toàn quốc là 32% tức là cứ 3 trẻ dưới 5 tuổi có 1 trẻ thấp
còi. Toàn quốc có trên 3 triệu trẻ bị thấp còi. Từ năm 1999 đến nay, tỷ lệ thấp
còi hàng năm giảm 1,5%. Tuy nhiên tỷ lệ thấp còi ở các vùng Tây Bắc, Đông
Bắc, Bắc Miền Trung và Tây Nguyên còn cao dao động từ 38% - 44% [39].
Điều này cho thấy đã đến lúc chúng ta cần quan tâm hơn tới SDD chiều
cao theo tuổi và phát triển chiều cao.
Bảng 1.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam (*) qua các năm
Năm

SDD cân nặng/ tuổi (%)

1985

51,5

59,7

1990

44,9

56,5

1995

40,7


31,9

2010
17,5
(*) Nguồn Viện dinh dưỡng 1985 – 2010

SDD chiều cao/ tuổi (%)

29,3

Về phân bố tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi không đồng đều
giữa các vùng sinh thái khác nhau trong toàn quốc. Khu vực có tỷ lệ trẻ SDD


6

hiện nay vẫn còn ở mức cao hoặc rất cao là Tây Nguyên và khu vực miền núi
phía Bắc [41].
Bảng 1.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em năm 2007 tại Việt Nam (*) ở các khu
SDD cân nặng/ Tuổi
(%)
18,3

SDD chiều
cao/Tuổi (%)
29,8

2. Đông Bắc Bộ


17,9

28,1

8. Đồng Bằng sông Cửu Long

20,7

30,8

Toàn quốc

21,2

33,9

Khu vực
1. Đồng bằng sông Hồng

(*) Nguồn Viện dinh dưỡng – Tổng cục thống kê 2007
Tỷ lệ SDD cũng khác nhau giữa vùng sinh thái. Tỷ lệ SDD chiều cao
theo tuổi còn rất cao ở hầu hết các vùng sinh thái và cao hơn trên 33% trên
toàn quốc.
1.4. Một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em.
1.4.1. Nguyên nhân trực tiếp
Thiếu ăn, hay cách khác là đói nghèo là một trong những nguyên nhân
trực tiếp của SDD. Ngày nay những nguyên nhân của đói nghèo đã được xác
định rõ ràng là giáo dục kém phát triển, bùng nổ dân số, thất nghiệp, bất ổn về
chính trị, thiếu tư liệu sản xuất như thiếu vốn và dụng cụ .... người nghèo

bằng và thành thị. Khi gia đình có điều kiện kinh tế tốt, mức thu nhập
cao thì việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ được đầy đủ hơn, chính vì vậy


8

cũng cải thiện được rất nhiều trong việc phòng chống SDD ở trẻ nhỏ.
Ngược lại, những gia đình có thu nhập thấp thì không có điều kiện
chăm sóc trẻ cũng như cung cấp thực phẩm cần thiết cho sự phát triển
của trẻ.
1.5. Các yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng
1.5.1. Nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, rẻ nhất, thích hợp nhất đối với trẻ.
Sữa mẹ dễ hấp thu và tiêu hóa, ngoài ra sữa mẹ còn chứa nhiều yếu tố quan
trọng để bảo vệ cơ thể trẻ, chống nhiễm khuẩn mà thức ăn không thể thay thế
được.
Nguyễn Đình Quang nghiên cứu trên 425 cặp mẹ và con ở nội thành và
ngoại thành Hà Nội cho thấy ỷ lệ trẻ được bú sớm trong vòng nửa giờ đầu sau
khi sinh là 30%, tỷ lệ bú muộn trong vòng 24h là 20,1% [16]. Nghiên cứu của
Viện dinh dưỡng Quốc gia về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em và bà mẹ Việt
Nam năm 2000 cho thấy vùng núi phía Bắc tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn
toàn trong 4 tháng đầu là 18,5%, bú sữa mẹ cộng với uống các loại nước khác
trong 4 tháng đầu năm là 45,5% [38].
1.5.2. Điều kiện nuôi dưỡng trẻ, nuôi con bằng thức ăn bổ sung
Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất cho trẻ nhưng không thỏa mãn
nhu cầu cho cơ thể ngày càng lớn lên của trẻ. Do đó cần cho trẻ ăn thêm thức
ăn bổ sung từ tháng thứ 6 trở đi để phòng ngừa bệnh SDD, còi xương và thiếu
máu.
Ăn sam là quá trình tập cho trẻ thích ứng với sự chuyển đổi chế độ ăn
hoàn toàn dựa vào sữa mẹ sang một chế độ ăn sử dụng đều đặn các sản phẩm



10

1.5.5. Yếu tố thuận lợi
Ngoài các yếu tố liên quan chính như trên, có nhiều nghiên cứu đã đưa
ra một số yếu tố ảnh hưởng khác như: Tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa,
trình độ học vấn mẹ và người nuôi dưỡng trẻ, quy mô hộ gia đình, thu nhập
gia đình, mạng lưới y tế ... [2], [4], [6], [19], [20], [21], [22].
Cân nặng sơ sinh thấp < 2500g là 1 yếu tố thuận lợi đối với SDD. Vì nó
phản ánh kết quả của quá trình dinh dưỡng khi mang thai. Đây là cơ sở đầu
tiên cho sự phát triển của trẻ sau khi chào đời.
Dị tật bẩm sinh, ảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
Tỷ lệ SDD nặng ở trẻ có dị tật bẩm sinh cao hơn so với nhóm trẻ không có dị
tật bẩm sinh.
Nước sạch và các công trình vệ sinh: Điều kiện vệ sinh môi trường thấp
kém như: nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, hố xí không hợp vệ sinh, nhà ẩm
thấp, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu thức ăn, tắm giặt cho trẻ, xử lý
nước thải... đã làm tăng tỷ lệ SDD và bệnh tật cao hơn so với điều kiện vệ
sinh môi trường tốt hơn. Sức ép của dân số cũng ảnh hưởng đến tình trạng
dinh dưỡng trẻ em trong một vùng sinh thái, với cùng một thu nhập, nếu số
con trong một gia đình đông sẽ dẫn đến tăng tỷ lệ SDD ở trẻ em.
Người mẹ trước và trong khi mang thai ăn uống không đầy đủ dẫn đến
thiếu dinh dưỡng và có thể đẻ ra đứa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị SDD từ
bào thai sẽ bị SDD sau này. Người mẹ bị SDD, ăn uống kém trong những
tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa do đó đứa con dễ bị SDD.
Nghề nghiệp, trình độ học vấn thấp, thiếu kiến thức nuôi dạy con, thời
gian người mẹ dành để chăm sóc con không đầy đủ là những yếu tố liên quan
đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt là các bà mẹ trẻ, các bà mẹ vùng
núi cao, nông thôn, hải đảo ven biển. Trong số các trẻ em bị SDD vào viện,



12

1.8. Nghiên cứu về suy dinh dưỡng còi cọc trong nước và trên thế giới
1.8.1. Trên thế giới
Trên thế giới nghiên cứu về SDD thấp còi vấn là vấn đề sức khỏe cộng
đồng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Các nghiên cứu tập trung vào xác
định tỷ lệ, các yếu tố liên quan và đi sâu xác định khẩu phần ăn liên quan thế
nào đến SDD thấp còi.
Theo Shutta ZA và CS [90] năm 2011 trên toàn cầu có 6,9 triệu trẻ em
dưới 5 tuổi chết thì 1/3 do suy dinh dưỡng. Tác giả cũng cho thấy có 178 trẻ
dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi. Ngoải ra tác giả cũng công bố có 55 triệu trẻ
dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng gày mòn và 19 triệu trẻ SDD gày mòn.
Joseph SA [68], nghiên cứu yếu tố liên quan đến SDD ở trẻ dưới 1 tuổi
sống ở Peruvian Amazon Canada và cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn cao
là 24,2% trong số 880 trẻ. Tác giả nhận thấy trẻ hay mắc các bệnh nhiễm
khuẩn, và chỉ số phát triển thấp là yếu tố liên quan có ý nghĩa đến SDD thấp
còi.
Tại Tanzania, Mduma ER và CS [77] nghiên cứu nguyên nhân, yếu tố
liên quan và sự tương tác giữa nhiễm khuẩn đường ruột và suy dinh dưỡng,
hậu quả tác động đến sức khỏe và phát triển của trẻ dưới 5 tuổi.
Tác giả đã xác định tại phía Bắc Tanzania, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ
dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ rất cao 40%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng này
bao gồm gia đình đông con (7 con) và cứ 6 trẻ lại có 1 trẻ chết. Gia đình
nghèo, không có điện, không có nước máy, không có công trình vệ sinh.
Tại vùng Amazon thuộc Peru, Anticona và CS [48] đã nghiên cứu mô
tả cắt ngang trên 330 trẻ em thổ dân 0-17 tuổi để tìm liên quan giữa thiếu máu
và SDD dinh dưỡng trong bối cảnh vùng này trẻ em phải phơi nhiễm với ngộ
độc chì.

dưới 2 tuổi vùng nông thôn Bangladesh phát hiện tỷ lệ rất cao 41% trẻ bị thấp


14

còi và trong số này 16% thấp còi trầm trọng. Tác giả cũng phát hiện các yếu
tố như trẻ gái, trẻ không được tiêm phòng vaccin sởi, trẻ bị tiêu chảy trong
vòng 2 tuần của ngày điều tra, mẹ trên 30 tuổi, mẹ thấp dưới 145 cm, mẹ có
BMI dưới 18,5 kg/m2, mẹ mù chữ/hay có học vấn thấp, gia đình có công trình
vệ sinh không đạt tiêu chuẩn.
Tại Congo Mukatay AW và CS [79] nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng
của 1963 trẻ dưới 5 tuổi bằng nhân trắc và mô tả một số yếu tố liên quan đến
tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Tác giả nhận thấy có 33,5% trẻ SDD thấp còi,
như vậy là tỷ lệ rất cao so với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Một số
yếu tố liên quan đến tình trạng SDD thấp còi gồm học vấn mẹ dưới lớp 7, gia
đình không có nước máy, trẻ trai và trẻ trên 11 tháng tuổi.
Meshram II và CS [78] ở Ấn Độ nghiên cứu 805 trẻ dưới 3 tuổi ở vùng
nông thôn Andhra Pradesh thấy tỷ lệ trẻ SDD thấp còi là 30% và tăng lên 1,8
đến 3,02 lần ở trẻ 12-23 tháng và tăng 3,13 đến 5,5 lần ở trẻ 24 đến 36 tháng.
Gia đình nghèo là yếu tố liên quan. Tác giả cho biết cần phải tiến hành can
thiệp cải thiện tình trạng kinh tế của các hộ gia đình để cải thiện tình trạng
SDD thấp còi ở đây. Lindsay H et al [73] tổng quan những can thiệp cộng
đồng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh SDD nói chung và SDD thấp còi nói riêng trên
thế giới.
1.8.2. Ở Việt Nam
Suy dinh dưỡng nói chung và đặc biệt là suy dinh dưỡng thấp còi
không phải là vấn đề sức khỏe cấp bách ở trẻ em nhưng luôn luôn được sự
quan tâm của các cấp chính quyền và đặc biệt là của ngành y tế, ngành nhi.
Các nghiên cứu về SDD vẫn không ngừng tăng lên về cả số lượng và chất
lượng.

dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại 2 xã ven biển Vinh Quang và Tiên Hưng,
Tiên Lãng Hải Phòng. Đây là đề tài nằm trong Đề án 52 của Bộ Y tế Việt


16

Nam nhằm cải thiện chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia
đình tại các xã ven biển Việt Nam. Tác giả nhận thấy tỷ lệ SDD thấp còi ở
đây là 27,8% và tác giả cũng nhận thấy trẻ có cân nặng thấp dưới 2500 g lúc
sinh, trẻ phải cai sữa sớm trước 18 tháng và gia đình nghèo là yếu tố liên quan
có ý nghĩa đến SDD thấp còi. Nghiên cứu làm tiền đề để Đề án 52 có những
can thiệp cụ thể nhằm cải thiện tình trạng SDD nói chung và SDD thấp còi
của trẻ em dưới 5 tuổi tại một số xã ven biển Việt Nam nhằm cải thiện chất
lượng lao động biển trong tương lai.
Hai năm sau Đặng Việt Linh [20] đánh giá lại tỷ lệ SDD thấp còi tại
đây và thấy tỷ lệ SDD thấp còi giảm còn 25,8%.
Tại Vĩnh Bảo, một huyện năm 2012, Khổng Hữu Cương [5] cũng tiến
hành nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến
suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi. Tác giả cho thấy tỷ lệ SDD thấp
còi theo chỉ tiêu chiều cao theo tuổi là 21,9%. Các yếu tố liên quan đến SDD
thấp còi gồm:
- Cân nặng lúc sinh thấp dưới 2500 .
- Thời gian cho bú ngay sau sinh trên 2 giờ.
- Thời gian bắt đầu ăn bổ sung trước 6 giờ.
- Thời gian cai sữa của trẻ trước 18 tháng.
- Số con trong gia đình từ 3 con trở lên.
- Số bữa ăn của trẻ trên 24 tháng trong ngày 1-2 bữa.
- Trẻ không được bổ vitamin A kịp thời.
- Tuổi mẹ dưới 20 hoặc trên 40 tuổi.
- Tình trạng dinh dưỡng của mẹ.

- Trẻ phái ăn bổ sung trước 4 tháng (OR=1,8)
- Trẻ phải cai sữa trước 12 tháng (OR=1,7)


18

- Gia đình đông con (OR=1,8)
- Trẻ không được bổ sung vitamin A (OR=1,9)
- Tuổi mẹ dưới 20 và trên 40 tuổi (OR=2.8)
- Bà mẹ gầy (OR=1,6)
- Học vấn mẹ thấp (OR=1,9)
Tác giả cũng khuyến cáo cần tăng cường truyền thông giáo dục sức
khỏe tăng cường kiến thức thực hành nuôi con cho các bà mẹ nhất là thời gian
bắt đầu bú, cai sữa, thời gian ăn sam hợp lý…Ngoài ra Nguyễn Thị Sợi [27]
cũng thường xuyên đánh giá thực trạng SDD của trẻ em Hải Phòng và thấy tỷ
lệ SDD có xu hướng giảm dần theo thời gian.
Tại Huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên, Trần Đinh Tấn [28] cũng nghiên
cứu thực trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi và yếu tố liên quan. Tác giả cũng
nhận thấy tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em tại đây rất cao chiếm 27,5%, hầu hết
là SDD độ I và II.
Cũng như các nghiên cứu khác, tác giả đã xác định được các yếu tố liên
quan gồm học vấn mẹ thấp, gia đình nghèo, các bà mẹ không hiểu biết về thời
điểm bắt đẩu cho trẻ bú, thời điểm ăn sam và thời điểm cai sữa thích hợp. Trẻ
có cân nặng lúc sinh thấp dưới 2500g, trẻ không được bổ sung đầy đủ vi chất,
trẻ hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp…
1.9. Một số thông tin về điều kiện kinh tế xã hội của huyện Kim ĐộngHưng Yên
1.9.1. Vị trí địa lý, dân số
Kim Động là huyện đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên tả ngạn sông Hồng,
phía Nam giáp thành phố Hưng Yên, phía Đông Nam giáp huyện Tiên Lữ,
phía Đông Bắc giáp huyện Ân Thi, phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Khoái

mạch vì bản thân các cháu bị mắc các bệnh trên cũng trong tình trạng suy
dinh dưỡng rồi.
Chúng tôi cũng loại khỏi nghiên cứu những trẻ không được gia đình
đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Địa điểm (thêm thông tin của 3 xã nghiên cứu)
Xã Hùng An: Nằm ở phía Nam của huyện Kim Động có địa giới giáp
ranh với các xã như: Phía đông giáp hai xã Ngọc Thanh và Song Mai, Phía
tây giáp xã Đức Hợp, Phía nam giáp xã Phú Cường – TP. Hưng Yên, Phía bắc
giáp xã Đồng Thanh.
Hùng An có tổng diện tích đất tự nhiên hiện nay là 7,37 km2; trong đó
diện tích đất nông nghiệp là 4,69 km2, chủ yếu là đất phù sa đất pha cát và đất
thịt rất thích hợp với các loại cây trồng như lúa, màu, cây công nghiệp và cây
ăn trái. Diện tích đất sản xuất bình quân đầu người được 655m2.
Hùng An có tổng số 6 thôn: Ninh Phúc, Đống Long, Lai Hạ, Phục Lễ,
Tả Hà và Phương Tòng. Trong đó thôn Tả Hà là thôn nằm ngoài đê Sông
Hồng.


21

Toàn xã có 6120 nhân khẩu trên tổng số 1720 hộ[1], nghề nghiệp chính
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Trạm y tế nằm ở thôn Lai Hạ trung tâm của xã, có 01 Bác sĩ, 02 Y sĩ,
01 nữ hộ sinh và 01 dược sĩ trung học. Trong những năm vừa qua trạm đã làm
rất tốt công tác phòng, chữa bệnh cho nhân dân và là một xã đạt tiêu chí về y
tế quốc gia giai đoạn 2011-2020.
Xã Toàn Thắng:
Nằm ở phía Bắc của huyện Kim Động có địa giới giáp ranh với các xã
như: Phía đông giáp Nghĩa Dân, Phía tây giáp xã Vĩnh Xá, Phía nam giáp xã
Ngũ Lão, Phía bắc giáp xã Việt Hòa - Huyện Khoái Châu.

2.2.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau [29]:

n  Z12 /2 

p(1  p)
d2

Trong đó:
- n : Cỡ mẫu (số trẻ dưới 5 tuổi cần điều tra)
- p : Tỷ lệ SDD của Trần Đình Tấn ở Phù Cừ Hưng Yên năm 2013 là 27,5%
[28]
- d : Sai số cho phép là 5%
- Z(1-α / 2) = 1,96 (Với độ tin cậy 95%)
- 2 : Hiệu ứng mẫu
Cỡ mẫu tính được là 638. Thực tế điều tra được 657 trẻ.
2.2.3. Quá trình chọn mẫu
Chủ động chọn thị trấn Lương Bằng (chỉ có 1 thị trấn).


23

Chọn ngẫu nhiên 2 xã Hùng An và Toàn Thắng theo hình thức bốc
thăm.
Chọn trẻ vào nghiên cứu của 2 xã và thị trấn theo phương pháp ngẫu
nhiên hệ thống. Theo cỡ mẫu chung là 657 trẻ thì mỗi xã/thị trấn cần nghiên
cứu là 213 trẻ.
Tính khoảng cách mẫu k cho mẫu xã/thị trấn:
k = tổng số trẻ /cỡ mẫu.
k của Toàn Thắng là 780/213=3,6

+ Đối với trẻ dưới 2 tuổi: Dùng thước đo nằm. Để thước trên mặt phẳn nằm
ngang. Đặt trẻ nằm ngửa, một người giữ đầu để mắt trẻ nhìn lên trần nhà,
mảnh gỗ chỉ số không của thước áp sát đỉnh đầu. Một người khác ấn thẳng
đầu gối và đưa mảnh gỗ thứ hai áp sát gót bàn chân của trẻ, lưu ý gót chân ở
mặt phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng. Đọc kết quả ghi số centimet
với một số lẻ với độ chính xác tới 0,5cm.
+ Đói với trẻ trên 2 tuổi: Sử dụng thước Microtoise với độ chính xác đến 0,1
cm. Chỉnh thước theo đúng chiều dài và gắn thước vào tường vuông góc với
mặt đất nằm ngang. Trẻ được đo không đi giày dép, đi chân không, đứng áp
lưng vào tường. Gót chân, lưng, vai và chẩm theo một đường thẳng áp sát
tường, mắt nhìn thẳng, hai tay thẳng theo nếp quần, kéo thước sát đỉnh đầu.
Đọc kết quả và ghi số centimet với độ chính xác 0,1cm.
- Tính tuổi:
Tuổi (tháng) của trẻ = [(ngày điểu tra – ngày sinh đứa bé)/365] x 12
* Phân loại SDD áp dụng trong nghiên cứu này: áp dụng chuẩn phân loại mới
của TCYTTG được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006
- SDD thấp còi khi Z-score của chiều cao theo tuổi dưới < -2SD [94].
- Chia các thể SDD thành 3 mức độ sau:


25

+ Độ I: từ - 2SD đến dưới -3SD
+ Độ II: từ -3SD đến dưới - 4SD
+ Độ III: dưới -4SD
2.3.3.2. Phỏng vấn bố/mẹ đối tượng nghiên cứu
Phỏng vấn bố/mẹ đối tượng nghiên cứu về điều kiện kinh tế - xã hội,
nhân khẩu, quá trình quản lý thai nghén, nuôi con nhất là nuôi con bằng sữa
mẹ của bà mẹ... theo bộ công cụ đã được thiết kế trước, tình trạng uống
vitamin A, Iod trước sinh…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status