Nghiên cứu sử dụng nguồn thức ăn tại chỗ trong chăn nuôi gà h’mông tại huyện đồng văn, tỉnh hà giang - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN THẠCH

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NGUỒN THỨC ĂN
TẠI CHỖ TRONG CHĂN NUÔI GÀ H’MÔNG
TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN THẠCH

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NGUỒN THỨC ĂN
TẠI CHỖ TRONG CHĂN NUÔI GÀ H’MÔNG
TẠI HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 01 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Nguyễn Thu Quyên
2. PGS.TS. Trần Thanh Vân

Thái Nguyên - 2015

lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất./.

Thái Nguyên, ngày tháng 8 năm 2015
Tác giả

Hoàng Văn Thạch


iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ............................................................. v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề .................................................................................................. 1
2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ...................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.......................... 3
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu........................................................ 3
1.1.1. Thành phần hóa học và dinh dưỡng của một số loại thức ăn
phổ biến tại chỗ .......................................................................................... 3
1.1.2. Hỗn hợp thức ăn hoàn chỉnh ............................................................ 6
1.1.3. Khả năng sinh trưởng ....................................................................... 7
1.1.4. Khả năng chuyển hoá thức ăn ........................................................ 14
1.1.5. Khả năng cho thịt ........................................................................... 15
1.1.6. Một số đặc điểm về giống gà H’Mông .......................................... 16
1.2. Tình hình nghiên trong và ngoài nước ................................................. 17
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ................................................. 17

3.3.4 Tiêu tốn năng lượng và tiêu tốn Protein.......................................... 57
3.3.5. Chỉ số sản xuất (PI) ........................................................................ 58
3.3.6. Kết quả mổ khảo sát ....................................................................... 59
3.3.7. Sơ bộ hạch toán kinh tế .................................................................. 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 64
1. Kết luận .................................................................................................... 64
2. Đề nghị ..................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 66


v
DANH MỤC BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EE

: Lipit thô

DM

: Vật chất khô

CP

: Protein thô

CF

: Xơ thô

NFE


VCK

: Vật chất khô

TN

: Thí nghiệm

ĐVT

: Đơn vị tính

XC

: Xuất chuồng

TS

: Tổng số

DXKĐ

: Dẫn xuất không đạm

SS

: Sơ sinh

NL


gia đình, các trang trại chăn nuôi đang có xu hướng sử dụng 100% thức ăn
hỗn hợp trong chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Kết quả đó phản ánh những tiến bộ đáng mừng của ngành chế biến thức
ăn trong chăn nuôi. Nhưng do giá thức ăn hỗn hợp còn quá cao nên một
nghịch lý là người chăn nuôi càng sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp thì lợi
nhuận càng thấp và nhiều khi còn thua lỗ. Đây có lẽ là nguyên nhân lớn nhất
làm cho người chăn nuôi hạn chế đến việc nhân đàn và không ít hộ chăn nuôi
đã bỏ nghề, trong khi đó yếu tố tích cực nhất có thể giúp cho nông dân giảm
chi phí tối đa và có lợi nhuận cao nhất đó là khai thác (mua tại chỗ), tận dụng
(của gia đình) nguồn nguyên liệu có sẵn để chế biến thức ăn.
Đồng Văn là một huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Hà Giang, nơi có điều
kiện về kinh tế, xã hội rất đặc thù, với độ cao trung bình 1.400m so với mực
nước biển, mật độ dân số thưa (150 người/km2) và chủ yếu là dân tộc Mông
sinh sống (88,7 %). Tại đây có giống gà H’Mông thịt đen, xương đen, chất
lượng thịt thơm ngon, có giá trị kinh tế cao và là một giống gà quí. Tuy nhiên,
do tập quán chăn nuôi của bà con nhân dân tại đây còn nhiều bất cập, chủ yếu
chăn nuôi quảng canh, nhỏ lẻ, thiếu sự tác động của khoa học kỹ thuật trong
chăn nuôi dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp, khẩu phần nghèo nàn, thiếu dinh
dưỡng, chủ yếu là ngô hạt, ngoài ra gà tự kiếm thêm các loại thức ăn khác
trong quá trình chăn thả… nên khả năng sinh trưởng chậm, hiệu quả kinh tế
không cao, không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Để nâng cao giá trị
sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sử dụng nguồn thức
ăn tại chỗ trong chăn nuôi gà H’Mông tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”.


2
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được thành phần dinh dưỡng của một số loại thức ăn tại chỗ
thường sử dụng trong chăn nuôi gồm: Ngô, lúa, đậu tương, cám gạo. So sánh
thành phần dinh dưỡng thức ăn địa phương với một số loại thức ăn tương tự đã

Ngô là loại thức ăn phổ biến nhất trong chăn nuôi nói chung và chăn
nuôi gia cầm nói riêng. Hiện nay có nhiều giống ngô được trồng ở nước ta,
các giống ngô có hạt với màu sắc khác nhau như vàng, trắng, đỏ. Ngô vàng
chứa nhiều caroten và các sắc tố khác, do đó nó làm cho lòng đỏ trứng vàng
hơn cũng như làm cho sữa và mỡ sữa của gia súc có màu đặc trưng. Ngô chứa
khoảng 720 đến 800 gam tinh bột/kg chất khô và hàm lượng xơ rất thấp, giá
trị năng lượng trao đổi khoảng 3.100 - 3.200 kcal/kg.
Hàm lượng protein thô trong ngô biến động lớn từ 80 - 120 g/kg phụ
thuộc vào giống. Tỷ lệ chất béo trong hạt ngô tương đối cao (4 - 6 %) chủ yếu
tập trung trong mầm ngô. Gia súc, gia cầm tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡng
trong hạt ngô (tỷ lệ tiêu hóa xấp xỉ 90 %), tuy vậy lượng protein trong ngô vẫn
thấp hơn so với nhu cầu của gia súc. Trong protein của ngô thiếu tới 30 - 40 %
lysin, 15 - 30 % tryptophan, 80 % leucin so với nhu cầu của lợn. Ngô tương đối
nghèo các nguyên tố khoáng như canxi (0,03 %), kali (0,45 %), mangan
(7,3mg/kg), đồng (5,4mg/kg) vì vậy cần phối chế hợp lí tỷ lệ ngô trong khẩu
phần (Viện chăn nuôi Quốc gia, 2001 [36]).
Theo kết quả nghiên cứu của Viện chăn nuôi Quốc gia (2001)[36]),
thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của ngô: (ngô tẻ vàng miền núi
bắc bộ) là: Vật chất khô (DM) = 82,10 %, protein thô (CP) = 8,80 %, lipit thô
(EE) = 3,90 %, xơ thô (CF) = 1,40 %, dẫn xuất không đạm (NFE) = 66,80 %,
khoáng tổng số (Ash) = 1,20 %, can xi = 0,43 %, photpho = 0,28 %; năng
lượng trao đổi trong 100 g thức ăn = 314,50 kcal ME.


4
1.1.1.2. Thóc
Thóc là nguồn lương thực chủ yếu của con người ở các nước nhiệt đới và
cũng sử dụng một phần làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Lượng protein, chất
béo, giá trị năng lượng trao đổi của thóc thấp hơn ngô, tỷ lệ xơ cao hơn. Tỷ lệ
protein trung bình của thóc là 78 - 87g/kg, xơ từ 90 - 120g/kg. Thóc tách trấu

1.1.1.4. Đỗ tương
Đỗ tương là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho người rất phổ biến ở
nhiều nơi, tuy nhiên một phần vẫn được sử dụng trong chăn nuôi. Đỗ tương
rất giàu protein (370 - 380 g/kg), chất béo (160 - 180 g/kg) và năng lượng trao
đổi (3.300 - 3.900 kcal/kg). Theo Viện chăn nuôi Quốc gia (2001) [36]: Giá
trị sinh học của protein đỗ tương gần với protein động vật. Đỗ tương giàu axit
amin không thay thế nhất là lysin, tryptophan là những axit amin thường bị
thiếu trong thức ăn có nguồn gốc thực vật.
Đỗ tương có 87 % vật chất khô, 37,4 % protein, 18,0 % lipit, 5 % xơ, 22
% gluxit, 0,23 % can xi, 0,53 % photpho; hàm lượng axit amin thiết yếu:
Lysin 2,1 %, methionin 4 %, tryptophan 3,6 %, các axit amin khá đầy đủ và
cân đối (Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, 2002 [6]).
Trong ngành chế biến công nghiệp, đỗ tương dùng để ép dầu, những sản
phẩm phụ là khô dầu đỗ tương được coi là nguồn thức ăn giàu protein có giá
trị cao. Khi ép dầu, đỗ tương đã được xử lý nhiệt nên hầu hết các độc tố kể
trên đã bị phân hủy hoặc mất hiệu lực do đó làm tăng khả năng tiêu hóa và
hấp thụ protein của gia súc. Khô đỗ tương sản xuất theo phương pháp chiết ly
thường có hàm lượng protein cao hơn và có hàm lượng chất béo thấp hơn so
với khô đỗ tương sản xuất theo phương pháp ép cơ học.
Khi sử dụng đỗ tương trong chăn nuôi cần chú ý: Trong đỗ tương có một
số chất gây ức chế khả năng tiêu hóa, các chất gây dị ứng, gây bướu cổ, chống
đông máu. Nếu sử dụng đỗ tương làm thức ăn gia súc nhất thiết phải xử lý
nhiệt để phân hủy và làm mất hiệu lực của các độc tố như chất kháng tripsin,
hemoglutinin, saponin, ureaza, liposidaza…


6
1.1.2. Hỗn hợp thức ăn hoàn chỉnh
Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh: là loại thức ăn đã đáp ứng đầy đủ và hợp lí
nhu cầu dinh dưỡng của từng loại vật nuôi. Khi sử dụng không cần phải bổ

Độ ẩm (max %)

13

6

Nacl (min-max %)

7

Năng lượng trao đổi (min -kcal/kg)

8

Kháng sinh theo quy định hiện hành

9

Không có hooc môn

20
0,7 - 1,5

0,2 - 0,5
2.850

(Theo nhà sản xuất: Công Ty liên doanh Việt-Pháp, www.conco.com.vn)
Ưu điểm: thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn đã chế biến, phối hợp đầy đủ
các loại dinh dưỡng, nhu cầu của từng chất như protein, gluxit, lipit, năng
lượng, khoáng chất... cho từng giai đoạn, đối tượng vật nuôi, không cần bổ



8
Cũng theo Johanson (1972) [11] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào
thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con
vật. Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn
ra theo trình tự như sau:
Hệ thống tiêu hoá, nội tiết → hệ thống xương → Hệ thống cơ bắp Mỡ.
Thực tế nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự
sinh trưởng thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương,
mô cơ, một phần rất ít dùng lưu giữ cho cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn cuối
của sự sinh trưởng nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ
thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày
con vật càng tích luỹ dinh dưỡng để cấu tạo mỡ.
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm
nhiều nhất: 42-45% khối lượng cơ thể. Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn
khối lượng cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm). Giai
đoạn 70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái
đạt 467g (Ngô Giản Luyện, 1994 [19]).
Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trưởng gồm hai quá trình: tế
bào sinh sản và tế bào phát triển. Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như
ngoại hình, thể chất, sức sản suất đều được hoàn chỉnh dần trong suốt quá
trình sinh trưởng. Các đặc tính này tuy là một sự tiếp tục thừa hưởng các đặc
tính di truyền của bố mẹ, nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của
môi trường.
Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị
tính là kg/con hoặc g/con. Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời
gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng.
Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trưởng
một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được sự khác nhau về tỷ lệ sinh

triển theo đúng qui luật sinh học. Đường cong sinh trưởng của 3 dòng có sự
khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có sự khác
nhau: sinh trưởng cao ở 7-8 tuần tuổi đối với gà trống và 6-7 tuần tuổi đối
với gà mái.


10
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như giống, giới
tính, tốc độ mọc lông, khối lượng bộ xương, dinh dưỡng và các điều kiện
chăn nuôi, sức khoẻ...
* Ảnh hưởng của dòng, giống
Theo tài liệu tổng hợp của Chambers (1999) [41] có rất nhiều gen ảnh
hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gà, có gen ảnh hưởng tới sự
phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới
một vài tính trạng riêng lẻ.
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [9] cho biết sự khác nhau giữa
các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng
khoảng 500 - 700 g (từ 15 - 30 %).
Theo Kushner (1969) [13], hệ số di truyền khối lượng sống của gà 1
tháng tuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46; 3 tháng tuổi là 0,44; 6 tháng tuổi là
0,55 và của gà trưởng thành là 0,43.
Kết quả nghiên cứu 3 dòng AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên của
Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1997) [23] cho thấy: Khối lượng cơ thể của 3 dòng khác
nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09 g; 2423,28 g và 2305,14 g.
* Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Tính biệt cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng cơ thể: gà trống nặng
cân hơn gà mái từ 24-32%. Những sai khác này cũng được biểu hiện về
cường độ sinh trưởng, được qui định không phải do hormon sinh học mà do
các gen liên kết với giới tính. Sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ

tuần tuổi tăng 85,3g so với lô đối chứng.
Lã Văn Kính (1995) [12] đã kết luận: Nên nuôi gà thịt V135 tốt nhất là
khẩu phần chứa 24 % CP, 3000 - 3150 kcal ME, chỉ số ME/CP = 131 - 138
cho giai đoạn 0 - 4 tuần tuổi và 20 % CP, 3150 - 3300 kcal ME, chỉ số ME/CP
= 158 - 165 giai đoạn 5 - 8 tuần tuổi.
Meller David Soares, Josepbb (1981) [21] đã xác định được sự ảnh
hưởng của hàm lượng Clorocid, Sulfat và lượng Natri, Photpho trong chế độ
dinh dưỡng tới sinh trưởng của gà.


12
* Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của gia
cầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng,... Trong đó nhiệt độ và
ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc
độ sinh trưởng của gia cầm. Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được sự
ảnh hưởng của hai yếu tố này.
Reddy (1999) cho rằng khi nhiệt độ môi trường lên cao trên 36 - 370C sẽ
gây stress nhiệt, làm giảm quá trình trao đổi chất và hoạt động của cơ thể, từ
đó giảm lượng thức ăn tiêu thụ và giảm tốc độ sinh trưởng. Do vậy, cần phải
đảm bảo điều kiện chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt, cung cấp đủ oxy,
đồng thời có mật độ nuôi cũng như chế độ chiếu sáng thích hợp để tăng hiệu
quả chăn nuôi.
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [17], gà broiler nuôi trong
vụ hè cần phải tăng mức ME (năng lượng trao đổi) và CP (protein thô) cao
hơn nhu cầu vụ đông 10 - 15 %.
Ẩm độ là một trong những yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn tới sinh
trưởng của gia cầm. Khi ẩm độ trong chuồng tăng sẽ dẫn dến tiểu khí hậu chuồng
nuôi bị thay đổi, chất độn chuồng dễ ẩm ướt, nấm mốc phát triển, NH3 sinh ra
nhiều làm ảnh hưởng bất lợi đối với vật nuôi. Các yếu tố này làm tổn thương hệ

broiler BE11, V35, AV35 từ 1-49 ngày tuổi với sự khác nhau về mật độ nuôi
nhốt, kết quả thí nghiệm cho thấy: với gà BE11, V35 nuôi nhốt ở vụ hè và vụ
đông có:
+ Tỷ lệ nuôi sống lô I mật độ 8 con/m2 cho kết quả cao nhất đạt 97,5%,
thấp nhất ở lô II có mật độ 14 con/m2 là 92,86%.
+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng ở lô I cho kết quả tốt hơn
(2,05kg) so với lô II (2,11kg).
+ Hiệu quả kinh tế/m2 chuồng:
Lô I: mùa hè = +38.130đ Mùa đông = +32.500đ
Lô II: mùa hè = -62.060đ Mùa đông = +12.330đ


14
Từ đó tác giả khuyến cáo mùa hè mật độ tối ưu là 8 con/m2, mùa đông
mật độ tối ưu là 10 con/m2 nền chuồng đối với gà broiler.
1.1.4. Khả năng chuyển hoá thức ăn
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt
được 1 kg tăng khối lượng. Đối với gà broiler tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng
cho việc tăng khối lượng. Nếu tăng khối lượng càng nhanh chứng tỏ cơ thể
đồng hoá, dị hoá tốt hơn, khả năng trao đổi chất cao, do vậy hiệu quả sử dụng
thức ăn cao dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp.
Tiêu tốn thức ăn chính là hiệu xuất giữa thức ăn tiêu thụ/ kg tăng khối
lượng, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao. Bởi vì chi phí thức
ăn chiếm tới 70% giá thành sản phẩm.
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như
giống, môi trường, thức ăn... ngoài ra còn phụ thuộc vào độ tuổi. Nếu con vật
còn non thì chỉ tiêu này thấp, càng về sau lượng thức ăn tiêu tốn/kg tăng khối
lượng càng cao.
Bùi Đức Lũng, 1992 [16] cho biết gà lai V135 tiêu tốn thức ăn/kg tăng
khối lượng ở các độ tuổi như sau: 4 tuần là 1,91; 5 tuần là 1,98; 6 tuần là 2,01;

cánh, chân hay phần thịt ăn được.
Phạm Thị Hiền Lương (1997) [20] khi nghiên cứu một số tính năng sản
xuất của gà Tam Hoàng đều cho kết quả tỷ lệ thịt ngực của con mái cao hơn
con trống.
Nghiên cứu của Cầm Ngọc Liên (1997) [14] cho kết quả tỷ lệ thịt đùi của
gà trống cao hơn gà mái còn tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống.
Năng suất thịt còn liên quan chặt chẽ đến khối lượng sống. Theo
Ricard.F.H và Rouvier (1967) [45] thì mối tương quan giữa khối lượng sống
và khối lượng thịt xẻ rất cao, thường là 0,9. Còn tương quan giữa khối lượng
sống và khối lượng mỡ bụng thấp hơn, thường từ 0,2 - 0,5.
Nguyễn Thị Hải (1999) [5] khi nghiên cứu năng suất thịt gà Kabir đã chỉ
ra rằng tỷ lệ thịt ngực gà mái cao hơn gà trống, nhưng tỷ lệ thịt đùi gà trống
lại cao hơn gà mái.


iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ............................................................. v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề .................................................................................................. 1
2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ...................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.......................... 3
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu........................................................ 3
1.1.1. Thành phần hóa học và dinh dưỡng của một số loại thức ăn
phổ biến tại chỗ .......................................................................................... 3

hợp lý thức ăn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Từ những năm 70, 80 trở lại đây
việc nghiên cứu về dinh dưỡng cho gia cầm ngày càng được quan tâm và phát
triển rộng khắp. Các tổ chức, cá nhân đã tập chung nghiên cứu trên rất nhiều
đối tượng thức ăn như protein, tinh bột, lipit, vitamin, khoáng chất… Đặc biệt
là nguồn thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật, giá rẻ để thay thế nguồn
thức ăn động vật để nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giảm giá thành thức ăn.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam đã có trên rất nhiều đơn vị chuyên sản xuất
thức ăn chăn nuôi cho tất cả các đối tượng động vật như Trâu, bò, lợn, gia cầm,
chim, cá… như Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam; Công ty Cổ phần
Việt - Pháp sản xuất thức ăn gia súc PROCONCO có trụ sở tại khu công
nghiệp Biên Hòa Đồng Nai, Công ty cổ phần chăn nuôi Thái Dương tại Văn
Lâm - Hưng Yên…
Viện chăn nuôi Quốc gia Việt Nam đã nghiên cứu và công bố thành
phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của hàng nghìn loại thức ăn có nguồn
gốc động thực vật cho gia súc, gia cầm, đó là nguồn tư liệu quí cho các nhà
nghiên cứu cũng như các nhà sản xuất thức ăn trong và ngoài nước, đồng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status