Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 4 5 tuổi ở trường mầm non - Pdf 34

PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Môi trường (MT) bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo có quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1 – Luật BVMT của Việt
Nam 1993). Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và
sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của nhân loại…
Bảo vệ môi trường (BVMT) là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,
sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do
con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý các tài
nguyên thiên nhiên.
Giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) là quá trình giáo dục có mục đích
nhằm làm cho con người và cộng đồng quan tâm đến các vấn đề của môi trường; có
sự hiểu biết về môi trường; có thái độ, kỹ năng và hành vi tốt trong việc BVMT.
Chúng ta đều nhận thấy môi trường hiện nay đang bị ô nhiễm nặng nề làm cho
khí hậu toàn cầu bị biến đổi; tần suất thiên tai gia tăng, khó lường; tài nguyên suy
thoái và cạn kiệt dần…ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết, chưa có thức
BVMT của con người. Vấn đề cấp thiết đặt ra là cần phải kêu gọi các cấp, các
ngành, các tổ chức đoàn thể và mọi cá nhân cùng chung tay để BVMT, coi đó “là
vấn đề sống còn của đất nước, nhân loại và là một trong những yếu tố quyết định sự
phát triển bền vững, có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển kinh tế xã hội…”.
Trong nghị quyết số 41/NQ/TW của Bộ Chính Trị ra ngày 15/11/2004 đã chỉ rõ
cần phải BVMT với hi vọng mọi người, mọi nhà sẽ được sống trong một moou
trường trong sạch, lành mạnh và hạnh phúc hơn.
Thực hiện QĐ số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của BGD&ĐT phê duyệt đề
án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”, trong đó nhấn
mạnh “Nội dung GDBVMT phải đảm bảo được tính giáo dục toàn diện”; đối với
giáo dục mầm non: “Cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống
1


2


Qua đề tài giúp giáo viên hiểu hơn về bản chất và các vấn đề liên quan đến môi
trường; nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường nói
chung, việc cần thiết phải giáo dục BVMT cho trẻ mầm non nói riêng; từ đó giáo
viên nắm được các kiến thức, nội dung và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng GDBVMT cho trẻ dựa trên tình hình thực tế của trường, lớp, địa phương.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận:
Từ thế kỷ XIX một số nước đã đưa ra những đạo luật về môi trường như: Luật
cấm gây ô nhiễm nước sông ở Anh năm 1876; Luật về khói than ở Mỹ năm 1896…
Năm 1972 trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con
người” đã nêu “việc giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn, làm
sao để họ có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”.
Trong chỉ thị số 36/CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính Trị về việc “Tăng
cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước” đã đưa ra những giải
pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ BVMT như: “thường xuyên giáo dục, tuyên
truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng BVMT”.
Cùng với Luật giáo dục thì Bộ GD&ĐT đã có QĐ số 3288/QĐ-BGD&ĐT ngày
2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược giáo dục
môi trường trong nhà trường, đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức
triển khai các hoạt động giáo dục môi trường trong các cơ sở giáo dục.
Thủ tướng chính phủ cũng đã ra quyết định số 1336/QĐ-TTg ngày 17/10/2001
phê duyệt đề án “Đưa nội dung GDBVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”; Quyết
định số 256/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 về chiến lược BVMT quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020.
Trong kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI nước CHXHCN Việt Nam ngày
29/11/2005 đã ban hành Luật BVMT và luật có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2006.
1.1. Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non: Trẻ lứa tuổi mầm non rất thích hoạt động,

vườn trường… Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả những gì con người tạo nên,
làm thành tiện nghi trong cuộc sống như: phòng nhóm, lớp học, các phòng chức
năng, bếp ăn, góc chơi, sân chơi, trang thiết bị, bàn ghế, đồ dùng đồ chơi, tranh
ảnh… phục vụ trẻ học tập, sinh hoạt và vui chơi…
4


Giáo viên cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào các hoạt động
quan sát, tìm hiểu, khám phá môi trường, phải luôn đáp ứng nhu cầu ham thích tò
mò, tìm tòi, khám phá của trẻ, từ đó giúp trẻ hiểu biết về môi trường và mong muốn
được tham gia bảo vệ môi trường.
2. Thực trạng:
GDBVMT cho trẻ mầm non được bắt đầu bằng việc cho trẻ làm quen cuộc sống
của các động vật, thực vật gần gũi, quen thuộc xung quanh trẻ; mối quan hệ của
chúng với MT sống và sự phụ thuộc của chúng vào MT. Khi chăm sóc các con vật
và cây cối trẻ nhận ra được sự khác nhau trong từng giai đoạn phát triển, hiểu được
rằng lao động của con người sẽ góp phần tạo nên MT sống bền vững xung quanh.
Trẻ còn được làm quen với các loại vi sinh vật với ý nghĩa là cơ thể sống, sự đa
dạng về nhóm sinh vật có nguồn gốc khác nhau cùng tồn tại trong môi trường;
được làm quen với những cơ sở ban đầu về sinh thái học, củng cố hiểu biết của trẻ
về khả năng tự đánh giá sức khỏe, những thói quen đơn giản trong cuộc sống của
mỗi con người; được làm quen với việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên trong
hoạt động của con người nhằm hình thành thái độ gìn giữ, tiết kiệm tài nguyên
thiên nhiên.
Nội dung GDBVMT trong trường mầm non được thực hiện thông qua quá trình
khai thác nội dung các chủ điểm giáo dục, lồng ghép qua các hoạt động hàng ngày
của trẻ ở trường.
2.1. Thuận lợi:
- Là một giáo viên có trình độ Đại học, được đào tạo chính qui, có tâm huyết với
nghề; luôn yêu nghề, mến trẻ; có kỹ năng tạo hình, khiếu thẩm mĩ, sáng tạo…luôn

- Trình độ nhận thức, kỹ năng sư phạm của giáo viên không đồng đều, chưa tạo
được sự thống nhất trong việc GDBVMT cho trẻ, trong quá trình soạn giảng còn
chưa chú ý đến việc lồng ghép nội dung GDBVMT…
- Trẻ trong lớp quá đông (36 cháu) ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt động GD.
- Trẻ chưa biết cách giữ gìn cẩn thận và sử dụng có hiệu quả các ĐDĐC được làm
từ nguyên vật liệu thiên nhiên, nguyên vật liệu phế thải…
- Việc lựa chọn nguồn nguyên vật liệu, nơi cất giữ và bảo quản ĐDĐC tự tạo để
đảm bảo sản phẩm có độ bền cao, sử dụng lâu ngày còn hạn chế.
Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trẻ theo 5 nội dung. Kết quả thu được
theo bảng sau:
BẢNG KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ TRẺ
6


T
T
1
2

3
4

5

Nội dung khảo sát
(Tổng số trẻ được khảo
sát: 36 cháu)
Trẻ có những hiểu biết
ban đầu về MT sống của
con người.

trẻ

trẻ

trẻ

4

11%

7

19,4
%

10

27,8
%

15

41,8

5

13,8
%

8


30,6
%

4

11%

7

19,4
%

9

25%

16

44,6
%

6

16,7
%

9

25%

chơi, lao động, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe,…
3.1. Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục BVMT trong các chủ đề:
Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là một môn học mà nó là một nội dung
được tích hợp vào tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ theo các chủ đề. Vì vậy
giáo viên cần phải lựa chọn nội dung GDBVMT cho trẻ sao cho phù hợp với nội
dung của từng chủ đề một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả, tạo ra mối liên hệ
chặt chẽ giữa nội dung tích hợp với nội dung chính của từng hoạt động.
Quá trình khai thác nội dung GDBVMT trong các chủ điểm giáo dục được tiến
hành theo 3 bước. Cụ thể:
* Bước 1: Phân tích chủ đề giáo dục. Qua bước này giáo viên sẽ lựa chọn được
nhứng nội dung GDBVMT sao cho phù hợp khả năng của trẻ, tình hình thực tế
nhóm (lớp), địa phương, phù hợp chủ đề đang thực hiện.
* Bước 2: Xác định nội dung GDBVMT trong mỗi chủ đề. Mức độ của các nội
dung phụ thuộc vào đặc trưng của chủ điểm, đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ,
đảm bảo được tính hợp lý, logic trong quá trình khám phá, có hệ thống và vừa sức
đối với trẻ. Ưu tiên lựa chọn các nội dung hấp dẫn, thiết thực, gần gũi với trẻ…
* Bước 3: Cụ thể hóa nội dung GDBVMT vào các hoạt động của trẻ. Dựa vào các
giai đoạn phát triển nhận thức của trẻ để xây dựng các nội dung giáo dục.
- Giai đoạn I: Khảo sát. Giai đoạn này giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo về môi
trường, tâm thế cho trẻ và điều khiển hợp lý hoạt động thì trẻ sẽ hứng thú, tích cực,
chủ động và tích lũy được nhiều tri thức liên quan đến đối tượng.
- Giai đoạn II: Hình thành khái niệm. Tri thức do trẻ tự tìm kiếm được trong giai
đoạn khảo sát thường không đầy đủ, đôi khi thiếu chính xác, thiếu tính hệ thống và
8


tính khái quát. Do vậy cần giúp trẻ có biểu tượng, khái niệm đúng về sự vật hiện
tượng xuang quanh để làm cơ sở tạo ra thái độ đúng của trẻ.
- Giai đoạn III: Ứng dụng. Giai đoạn này giúp trẻ lưu giữ thông tin lĩnh hội được
về đối tượng. Với ý nghĩa GDBVMT thì đây là cơ hội cho trẻ thể hiện thái độ đúng

Cần xử lý nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt hợp lý. Trẻ biết tiết
kiệm nước trong nhà trường và ở nhà, không mở vòi nước chảy bừa bãi. Biết khóa
vòi nước khi xử dụng xong…
Con người với các hiện tượng thiên nhiên : Gió, nắng, mặt trời, hạn hán, bão
lũ…Giải thích cho trẻ biết lợi ích và tác hại của gió, nắng, mưa. Các biện pháp
tránh nắng, tránh gió, tránh mưa. Không ngồi lâu chỗ có gió lùa, mặc ấm khi có gió
rét. Khi có giông bão phải đóng cửa kín; khi đi dưới trời nắng phải đội mũ, đeo
khẩu trang, không ở ngoài trời lâu, trồng nhiều cây xanh, bóng mát. Đi dưới trời
mưa phải che ô, đội mũ, nón hoặc mặc áo mưa, không chơi đùa dưới trời mưa…để
bảo vệ sức khỏe. Khi trời mưa to sấm sét không đứng dưới gốc cây to, không cầm
những vật bằng sắt… Cho trẻ biết trời nắng nóng lâu ngày không có mưa sẽ dẫn
đến hạn hán. Con người, con vật thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước để sản xuất và
cây cối thiếu nước sẽ bị khô héo cằn cỗi…
* GDBVMT thông qua các hoạt động học: Trẻ được tham gia nhiều vào các
hoạt động khác nhau: phát triển thể chất, khám phá khoa học, âm nhạc, làm quen
tác phẩm văn học, tạo hình...mỗi hoạt động trên đều có những đặc trưng riêng và có
ưu thế khác nhau như: trẻ quan sát, đàm thoại, thực hành trải nghiệm, thí nghiệm,
chơi các trò chơi.....với trẻ để trẻ nhận ra được những việc làm tốt, không tốt,
những hành động đúng – hành động không đúng kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ
tình cảm, có thái độ phù hợp với môi trường trong và ngoài lớp học.
Chủ điểm: “Trường mầm non”: Tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Hành vi
đúng – hành vi sai”. Cô làm tranh vẽ về việc giữ gìn bảo vệ môi trường của một
bạn nhỏ như: bé vứt rác vào thùng, vứt rác bừa bãi, bé quét nhà, giẫm lên cỏ, bé đu
cành cây, bé ngồi lên bàn, bé tranh giành đồ chơi...Sau đó chia trẻ làm hai đội, mỗi
đội có một bức tranh yêu cầu trẻ phải bật qua các vòng và yêu cầu đội khoanh tròn
các hành vi đúng và một đội khoanh vào những hành vi sai. Thời gian sau một bản
nhạc đội nào khoanh được đúng theo yêu cầu là chiến thắng
10





máy, đi xe không đeo kính khẩu trang, người đi bộ đi trên vỉa hè, đi đúng luật giao
thông, trẻ em đá bóng dưới lòng đường hình ảnh người đi xe máy đeo khẩu trang,
đeo kính đội mũ bảo hiểm... Yêu cầu trẻ đánh dấu những hành động đúng (sai) khi
tham gia giao thông, tô tranh những phương tiện giao thông bảo vệ môi trường, lựa
chọn những lô tô phương tiện giao thông không gây ô nhiễm môi trường...
Giáo dục trẻ đi đường biết bịt khẩu trang, đội mũ bảo hiểm tránh tai nạn, bố mẹ
đưa đến trường phải để xe đúng quy định, không cho xe đi vào sân trường khói bụi
làm ô nhiễm môi trường...
Như vậy việc lồng ghép GDBVMT cho trẻ thông qua các chủ đề rất phong phú,
đa dạng khi chúng ta biết lồng ghép tích hợp để giúp trẻ có những kiến thức hiểu
biết về chăm sóc cho bản thân, về môi trường xung quanh gần gũi với bản thân,
biết sử dụng và giữ gìn đồ dùng luôn sạch sẽ gọn gàng, ngăn nắp.... biết sống vì
môi trường, bảo vệ và giữ gìn môi trường, có thái độ đúng với môi trường một cách
tích cực và hiệu quả.
3.2. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động khác.
Nội dung GDBVMT trong trường mầm non được tích hợp trong các hoạt động
giáo dục dưới nhiều hình thức: Theo định hướng của giáo viên, theo ý thích của trẻ
hoặc trong thời gian dạo chơi ngoài trời, tham quan...
3.2.1. Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động vui chơi:
Hoạt động chơi mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ. Hoạt động chơi được
tổ chức đáp ứng nhu cầu của trẻ, đồng thời tích hợp nội dung giáo dục, trong đó có
các nội dung GDBVMT.
- Thông qua các trò chơi phân vai: trẻ được đóng vai và thể hiện các công việc của
người làm công tác bảo vệ môi trường như: Trồng cây, chăm sóc cây, thu gom rác,
xử lý các chất thải...Trò chơi bác sĩ, y tá (Khám chữa bệnh cho mọi người, chú ý
giữ gìn vệ sinh phòng khám, xử lý rác thải y tế...); đóng vai cảnh sát giao thông đi
bắt những người vi phạm lấn chiếm vỉa hè, gây mất trật tự công cộng, đi sai đường,
bán hàng rong... giáo dục trẻ luật lệ an toàn giao thông và bảo vệ môi trường. Trò

giữ gìn và bảo vệ. Tôi cho trẻ được đi thăm quan môi trường trong lớp học của
những lớp học khác, khu vực quanh trường, thăm quan nghĩa trang liệt sĩ,...Yêu cầu
trẻ nhận xét về vệ sinh môi trường ở tại nơi đó và tìm ra cách khắc phục BVMT.
13


3.2.4. Thông qua hoạt động lao động.
Nội dung BVMT được thực hiện thông qua hoạt động lao động và được triển
khai, tích hợp vào các chủ đề, gồm các dạng lao động như:
- Lao động tự phục vụ (đại tiểu tiện đúng chỗ, để đồ dùng cá nhân gọn gàng, ngăn
nắp...) giúp trẻ tự khẳng định được khả năng của mình, góp phần tham gia vào lao
động thực sự của người lớn và các bạn cùng tuổi nhằm BVMT ở gia đình, trường
lớp sạch đẹp...
- Lao động chăm sóc vật nuôi, cây trồng.
- Lao động vệ sinh môi trường (lau chùi đồ chơi, xếp dọn đồ dùng ngăn nắp, nhặt
rác, thu gom lá ở sân trường...
Tôi hướng dẫn trẻ làm một số đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên và
vật liệu đã qua sử dụng: Lấy lá chuối làm kèn, nhặt hoa cỏ dại tập gói hoa tặng cô,
tặng mẹ.... Thông qua đó tôi giáo dục trẻ ý thức tiết kiệm và lao động sáng tạo.
Thường vào các buổi thứ 6 cuối tuần tôi cho trẻ lao động vệ sinh MTXQ trường lớp
như: Tổ Hoa Hồng: Thu gom rác xung quanh trường (nhặt giấy vụn, vỏ bimbim, vỏ
hộp sữa, thu gom lá bỏ vào thùng rác...); Tổ Hoa Cúc: Lau đồ dùng, đồ chơi, các
giá để đồ chơi của lớp; Tổ Hoa Mai: Sắp xếp đồ chơi đúng nơi quy định...
3.2.5. Thông qua hoạt động nêu gương.
Hoạt động nêu gương cũng là một trong những hoạt động để tôi tích hợp
GDBVMT, giúp cho trẻ có ý thức bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất. Vào
những buổi nêu gương cô cho trẻ nêu kể những việc làm tốt giúp cô giáo và các
bạn như: biết kê bàn ăn, biết gấp khăn, biết nhặt rác bỏ vào thùng, biết chào hỏi,
khi mắc lỗi với cô hoặc bạn thì biết xin lỗi, khi có người khác giúp đỡ hay cho quà
thì biết cảm ơn...

Đây là một hoạt động thực hành, giáo viên có thể đưa ra các tình huống giả định
khác nhau có thể xảy ra trong thực tiễn hoặc tận dụng các tình huống thực đang xảy
ra để yêu cầu trẻ giải quyết. Trong khi trò chuyện với trẻ tôi đưa ra những tình
huống giả định có tính chất BVMT như:
- Khi thấy vòi nước đang chảy tràn ra ngoài các con sẽ làm gì? Vì sao?
- Khi đi qua những nơi có nhiều khói, bụi các con phải làm gì? Vì sao?
- Nếu con thấy bạn ăn bánh xong không bỏ vỏ vào thùng rác mà vứt xuống sân
15


trường con sẽ làm gì?....
Ngoài ra tôi luôn tận dụng những tình huống xảy ra trong lớp học để GDBVMT
cho trẻ chẳng hạn như: Trong giờ học Tạo hình khi có giấy thủ công vụn rơi ra lớp;
Khi đồ dùng, đồ chơi có bụi bẩn; Trong khi ăn có cơm rơi vãi….
Bên cạnh đó tôi còn sử dụng tranh ảnh, câu chuyện có tình huống để trẻ tự suy
nghĩ và giải quyết…
3.5. Công tác phối kết hợp cùng phụ huynh.
Tôi trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua buổi đón trả về những hành vi tốt và
chưa tốt của trẻ về BVMT,...nhắc nhở để phụ huynh cùng phối hợp rèn nề nếp cho
trẻ, tuyên truyền cho các bậc phụ huynh khác cùng ý thức để bảo vệ môi trường...
Qua các buổi họp phụ huynh trao đổi về tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ
môi trường, tuyên truyền phụ huynh rèn nề nếp cho trẻ ở nhà như nhắc trẻ biết chào
hỏi người lớn, mời bố mẹ ăn cơm, ăn cơm xong biết lấy tăm, lấy nước, biết tự gấp
quần áo để vào tủ của mình, cùng bố mẹ tham gia chăm sóc bảo vệ cây cối trong
gia đình, giữ gìn vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, tích cực diệt ruồi, muỗi...
Vận động phụ huynh tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh..., hỗ
trợ nguyên vật liệu phế thải làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ...
3.6. Xây dựng cảnh quan, tạo môi trường cho trẻ hoạt động BVMT một cách
tích cực, hiệu quả.
Việc tạo cảnh quan trong lớp học là việc làm vô cùng quan trọng. Cuối tuần tôi

1.1. Về phía trẻ:
- 100% học sinh đã biết bỏ rác đúng nơi quy định.
- 95% trẻ đạt bé chăm - ngoan - sạch, biết đi vệ sinh đúng chỗ, biết tiết kiệm điện,
nước, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh…
- Trẻ có thái độ gần gũi với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, yêu quý chăm
sóc bảo vệ cỏ cây hoa lá trong gia đình, nhà trường và ở khắp mọi nơi, yêu quý
chăm sóc bảo vệ vật nuôi gần gũi, quý trọng bảo vệ đồ dùng đồ chơi, biết lau chùi
đồ dùng đồ chơi bị bụi bẩn....
- Trẻ biết yêu quý và bảo vệ thiên nhiên không bẻ cành ngắt lá, biết chăm sóc cây
cối, biết làm một số đồ chơi đơn giản từ vật liệu thiên nhiên.
17


- Trẻ tích cực, hào hứng tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường một cách,
tự nguyện. Trẻ mong muốn được làm những công việc phù hợp liên quan đến bảo
vệ môi trường.
- Trẻ đã biết động viên bố mẹ cùng tham gia BVMT như: nhắc bố mẹ không đi xe
máy, xe đạp vào sân trường làm bụi bẩn sân trường, nhắc bố mẹ thu gom phế liệu,
đóng góp tranh ảnh để làm đồ dùng, đồ chơi trang trí lớp, góc tuyên truyền.
BẢNG KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ TRẺ
(Sau khi áp dụng các biện pháp)
T

Nội dung khảo sát

T

(Tổng số trẻ được khảo
sát: 36 cháu)



Trẻ đạt
Khá
Số
TL%

Chưa đạt
Trung bình
Số
TL% Số trẻ TL%

trẻ

trẻ

trẻ

12

33,3
%

18

50%

6

16,7
%

3

8,4%

0

0

15

41,6
%

16

44,4
%

5

14%

0

0

15

41,6
%


Công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh lớp học, vệ sinh trẻ luôn đảm bảo tốt đã

được nhà trường cũng như PGD đánh giá cao.
2. Bài học kinh nghiệm.
- Giáo viên phải nhận thức đầy đủ đúng đắn về nội dung GDBVMT đối với sự
phát triển của trẻ. Nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, tích cực tìm
tòi, sáng tạo áp dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy để GDBVMT cho trẻ
đạt hiệu quả...
- Các nội dung GDBVMT phải được thực hiện thường xuyên và lặp đi lặp lại để
trẻ khắc sâu kiến thức, tạo cho trẻ thói quen, hành vi, thái độ bảo vệ môi trường.
- Giáo viên phải luôn gương mẫu cho trẻ làm theo, luôn kiên trì hướng dẫn trẻ. Bố
trí, sắp xếp lớp học khoa học, gọn gàng phù hợp với chủ đề.
- Giáo viên cần dành thời gian nhiều hơn đến những cháu cá biệt để có biện pháp
giáo dục phù hợp. Luôn khích lệ giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của mỗi việc trẻ làm
đối với bảo vệ môi trưòng.
- Tích cực sưu tầm tranh ảnh đẹp, hấp dẫn đảm bảo tính thẩm mỹ có nội dung
GDBVMT. Luôn có ý thức tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có, phế thải trong sinh
hoạt hàng ngày để làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ công tác giảng dạy trẻ.
- Giáo viên cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, bài giảng điện tử, sưu tầm
hình ảnh, băng đĩa chất lượng cao có nội dung về môi trường và GDBVMT để lưu
giữ và sử dụng trên tiết học và các hoạt động.
19


- Luôn phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, đồng nhất trong công tác GDBVMT
cho trẻ ở gia đình và nhà trường.
3. Đề xuất, kiến nghị:
* Đối với nhà trường:
- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc nhắc nhở, dự giờ rút kinh nghiệm, hướng dẫn

Trịnh Thị Lan
PHỤ LỤC I
LỒNG GHÉP NỘI DUNG GDBVMT VÀO CÁC THỜI ĐIỂM
TRONG 1 NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON
Các hoạt động giáo dục trẻ diễn ra trong một ngày ở trường mầm non được bắt
đầu từ khi đón trẻ cho đến lúc trả trẻ về với bố mẹ. Tôi đã áp dụng các phương
pháp như: Quan sát, trò chuyện, giải quyết tình huống thực tế…để đưa các kiến
thức và kỹ năng BVMT đến với trẻ một cách tự nhiên.
1. Đón trẻ - chơi tự chọn:
- Giáo viên đến sớm mở cửa thông thoáng lớp học.
- Quan sát nhắc nhở trẻ cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định, ăn quà sáng vứt rác
vào thùng rác.
2. Trò chuyện với trẻ:
- Cô và trẻ trò chuyện. Ví dụ: Hôm nay ai đưa con đi học? Bố mẹ đưa các con bằng
phương tiện giao thông gì? Khi được bố mẹ đưa đi học các con nhìn thấy hai bên
đường có gì? (Cây xanh). Các con có biết cây xanh có còn làm giảm ô nhiễm môi
trường, giảm bụi tiếng ồn của xe cộ.
c. Hoạt động ngoài trời
- Cho trẻ lao động tập thể : Cho trẻ nhặt rác trong luống rau
- Khi cho trẻ quan sát luống rau trong trường, cô phát hiện trong luống rau có
1 số vỏ hộp sữa cho trẻ quan sát và hỏi trẻ:
+ Trong luống rau có những gì?
+ Điều gì xảy ra nếu trong luống rau ngày càng có nhiều vỏ hộp sữa?
+Vỏ hộp sữa phải để ở đâu?
+ Ai có thể giúp cô nhặt vỏ hộp sữa nào?
- Sau đó cô cùng trẻ nhặt rác ở luống rau bỏ vào thùng rác. Như vậy trẻ đã
học được cách bảo vệ môi trường.
21



Hát, đọc thơ về cây xanh, con vật, trường lớp có nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường
Làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu, phế liệu: vỏ hộp, vỏ bia, lá cây khô…
- Góc thiên nhiên:
Cô cho trẻ quan sát góc thiên nhiên xem sự phát triển của cây. Thực hành kỹ năng
chăm sóc cây như: Lau lá, tưới cây, xới đất, nhổ cỏ, nhặt lá vàng, lá rụng.
h. Giờ ăn:
Nhắc nhở trẻ ăn hết xuất, không bỏ dở cơm, nhặt cơm rơi cho gọn vào đĩa, không
nói chuyện trong khi ăn, khi ăn nhai từ từ không nuốt vội, trẻ ăn xong cất bát thìa
đúng nơi quy định. Nhắc trẻ lau miệng sạch sẽ. Lớp 5 tuổi cho trẻ cất ghế, vệ sinh
cùng cô.
i. Giờ ngủ:
Cho trẻ đi ngủ đúng giờ, ngủ đủ giấc, không nói chuyện to, ngủ dậy dạy trẻ cùng
cô cất gói chăn gọn gàng đúng nơi quy định.
k. Hoạt động chiều:
Giáo viên và học sinh cùng vệ sinh trong và ngoài lớp học, lau bàn ghế, lau đồ
chơi
Cô và trẻ làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải
Sau mỗi việc trẻ làm giáo viên cần giải thích giúp trẻ hiểu ý nghĩa của mỗi việc
làm đó: Vệ sinh lớp học giúp cho không khí lớp học được trong lành, đồ dùng đồ
chơi sạch giúp các con phòng bệnh như: chân tay miệng, tiêu chảy… để cho cơ thể
các con luôn khoẻ mạnh. Làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải là một
việc làm có ý nghĩa bảo vệ môi trường vì cô và các con đã tiết kiệm được nguyên
liệu và góp phần giảm bớt đi lượng rác thải rất lớn đang thải ra môi trường. Trẻ
hiểu được từng việc làm của mình sẽ là động cơ để trẻ thể hiện những hành vi giúp
cô tham gia bảo vệ môi trường
l. Hoạt động nêu gương và trả trẻ:
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status