DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Viết tắt
GV
GD&ĐT
HS
KHTN
NST
PPCT
PPDH
SBT
SGK
SGV
THPT
Viết đầy đủ
Giáo viên
Giáo dục và đào tạo
Học sinh
Khoa học tự nhiên
Nhiễm sắc thể
Phân phối chương trình
Phương pháp dạy học
Sách bài tập
Sách giáo khoa
Sách giáo viên
Trung học phổ thông
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
học, từng hoạt động cụ thể thì mới giúp người học dễ dàng tiếp cận, yêu thích và
học tốt nội dung “Xác suất”.
Sau khi học nội dung “Xác suất” , yêu cầu đặt ra là học sinh không chỉ
nắm vững những kiến thức cơ bản, những quy tắc, những công thức để vận dụng
vào giải những bài toán trong SGK, trong các kì thi mà học sinh còn phải biết
vận dụng vào thực tiễn, chẳng hạn học sinh bằng toán học cần giải thích được
bản chất lừa bịp của một số trò chơi đang đầu độc thế hệ trẻ ( như lô đề, xèng, cá
cược…) từ đó giúp cho bạn bè, người thân hiểu và tránh xa các tệ nạn đó.
Những lí do nêu trên là cơ sở để tôi chọn đề tài nghiên cứu:
Vận dụng kiến thức liên môn, kiến thức thực tiễn nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học bài “Các quy tắc tính xác suất” - SGK 11 Nâng cao
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.
Cơ sở lý luận của đề tài
2
1.1. Cơ sở triết học
Quan điểm triết học Mac – Lê Nin cho rằng: con đường biện chứng của
quá trình nhận thức đó là “ từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư
duy trừu tượng đến thực tiễn”. Việc đổi mới phương pháp dạy học tựu chung lại
cũng với mục đích giúp cho người học nhận thức đúng nhất, nhanh nhất và hiệu
quả nhất. Điều đó có thể hiểu là đổi mới phương pháp dạy học không thể đi
ngược hay tách rời quan điểm triết học nêu trên. Thực tế là minh chứng rõ nhất
cho điều này, phương pháp dạy học truyền thống “thầy đọc, trò chép” là không
hiệu quả, không thích hợp bởi người dạy không đưa được đầy đủ những yếu tố
trực quan, những yếu tố thực tiễn cho người học từ đó người học không chủ
động tiếp thu kiến thức. Việc học có thể được xem là một quá trình lâu dài được
Ở trường phổ thông học sinh cần phải học nhiều môn, nhiều nội dung có
liên quan đến kiến thức ở các môn học khác. Chẳng hạn với nội dung “xác suất”
3
có liên quan nhiều đến môn Sinh học. Cụ thể trước khi được học về “Các quy
tắc tính xác suất” học sinh đã được học các quy luật di truyền của Men – Đen
hay một số bệnh có tính di truyền, họ cần biết hoặc đã gặp những vấn đề phải
giải quyết chẳng hạn như:
+ Một cặp vợ chồng có nhóm máu A và đều có kiểu gen dị hợp về nhóm
máu. Nếu họ sinh hai đứa con thì xác suất để một đứa có nhóm máu A và một
đứa có nhóm máu O là bao nhiêu?
+ Bệnh mù màu ở người do đột biến gen lặn trên NST X không có alen
tương ứng trên Y. Một người phụ nữ bình thường có bố bị mù màu, lấy người
chồng không bị bệnh mù màu thì xác suất (khả năng) họ sinh một người con bị
mù màu là bao nhiêu….
Từ thực tiễn và thông qua các môn học xã hội khác học sinh đã có những
hiểu biết nhất định về những vấn nạn cờ bạc đang là điều nhức nhối của toàn xã
hội, họ cần thiết phải hiểu, trả lời được các vấn đề đặt ra như:
Tệ nạn xã hội trong đó có nạn chơi lô đề, cờ bạc, cá độ đang ngày càng
phát triển, là những u nhọt nhức nhối của xã hội cần phải tìm mọi cách ngăn
chặn và loại bỏ. Riêng đối với nạn chơi lô đề, cờ bạc, cá độ đang bùng phát rất
nguy hại bởi hiện nay nhiều học sinh THPT đã tham gia, ham mê các trò chơi
này. Nhiều hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như cướp của, giết người,
trộm cắp tài sản, lừa đảo đều xuất phát từ nhu cầu kiếm tiền để tham gia vào các
trò chơi đỏ đen nêu trên hòng làm giàu nhanh chóng, bất chính. Vậy tại sao với
tác hại như vậy nhưng vẫn có nhiều người tham gia, hãy giải thích bằng cơ sở
khoa học để những người chơi biết bản chất xấu của những trò chơi đó từ đó
giúp họ không tham gia chơi?....
Trong quá trình dạy học GV cần phải khéo léo đặt ra những câu hỏi, những
- Học sinh vẫn thường quan tâm nhiều đến việc nắm được quy tắc để làm
những bài tập tương tự trong các kỳ thi mà ít quan tâm đến sử dụng kiến thức đã
học giải quyết các vấn đề liên quan khác từ thực tế.
3. Các biện pháp tổ chức thực hiện
Ý thức được tầm quan trọng của việc vận dụng kiến thức liên môn, kiến
thức thực tiễn vào dạy học nội dung “xác suất” tôi đã áp dụng vào dạy học với
đối tượng học sinh lớp 11 ban KHTN, bài dạy “Các quy tắc tính xác suất ” –
SGK 11 Nâng cao, tiết 35 – 36 (theo PPCT). Cách thức chuẩn bị và tổ chức thực
hiện cụ thể được trình bày dưới đây:
3.1. Chuẩn bị
Giáo viên: Ngoài kiến thức về chuyên môn, nghiên cứu kỹ SGK, SGV tôi
còn chuẩn bị thêm cho bài dạy như sau:
+ Nghiên cứu kỹ các vấn đề liên môn như: Ba quy luật di truyền của
Men – Đen, một số bệnh di truyền thường gặp( mù màu, bạch tạng…); các kiến
thức xã hội về tệ nạn liên quan đến các trò chơi may rủi (chơi lô đề, xèng, cá
độ…)
+ Chuẩn bị các tư liệu, vi deo, hình ảnh sử dụng trong bài dạy như: Vi
deo, hình ảnh về các tệ nạn cờ bạc len lỏi vào học đường, hình ảnh về các căn
bệnh mù màu, bạch tạng…
+ Chuẩn bị các phương tiện của nhà trường cần thiết sử dụng trong bài
dạy như: Máy chiếu, ti vi …
Học sinh:
Tôi đã yêu cầu học sinh chuẩn bị trước cho bài học đó là: Ôn tập kiến
thức về các quy luật dy truyền của Men-Đen, về các căn bệnh di truyền (mù
màu, bạch tạng) đã học, tìm hiểu về các trò chơi cờ bạc may rủi mà cả xã hội
đang tìm mọi cách loại bỏ…
3.2. Tổ chức thực hiện
Sau quá trình chuẩn bị tôi đã tiến hành tổ chức dạy học bằng phương pháp
giải quyết vấn đề đan xen hoạt động nhóm và thực hiện theo các bước sau :
lời.
hiện một phép thử ngẫu nhiên với không
gian mẫu là tập hợp các số có hai chữ số
HS: Hoạt động nhóm để trả lời câu (kể cả số 0 đứng đầu). Gọi A là biến cố:
hỏi của giáo viên
“Người chơi mua một số và trúng thưởng”
khi đó:
P (A) =
ΩA
Ω
=
1
100
Câu hỏi 2:
Bố và mẹ bình thường mang gen gây bệnh
nên có kiểu gen dị hợp.
*Qui ước : A: bình thường; a: bạch tạng
Ta có: P:
G
Aa
A, a
F : KG:
KH:
họa về nạn lô đề, cá độ và hình ảnh
về người bị bệnh bạch tạng để học
sinh quan sát.
HS: Quan sát, ý thức thêm tệ nạn
này đang ngày càng bùng nổ. Biết
thêm về căn bệnh bạch tạng ở
người.
đầu lòng không mắc bệnh là
3
.
4
+ Treo hình ảnh bằng tranh minh họa hoặc
bằng trình chiếu Power point.
+ Đưa một vài video ngắn hay hình ảnh
về nạn lô đề, cá độ và về một số căn bệnh
di truyền.
Vấn đề 1: Nếu người chơi mua một lúc 10
số đề thì xác suất họ trúng thưởng là bao
GV: Đặt vấn đề để dẫn dắt học sinh
nhiêu? Vì sao không nên chơi đề thường
học bài mới.
xuyên vì nếu chơi ắt sẽ bị mất tiền?
HS: Tiếp thu vấn đề GV đưa ra,
suy nghĩ tìm cách trả lời câu hỏi.
Vấn đề 2: Cặp vợ chồng trên (trong câu
hỏi 2) nếu sinh 2 hay 3 người con thì xác
sinh suy nghĩ trả lời
1. Quy tắc cộng xác suất
HS: Thảo luận, tìm cách trả lời câu
Câu hỏi: Chọn ngẫu nhiên một học
hỏi của giáo viên
sinh trong trường em. Gọi A là biến cố
“Học sinh đó học giỏi Toán”, B là biến cố
“Học sinh đó học giỏi Văn” , C là biến cố
“ Học sinh đó giỏi Toán hoặc giỏi Văn”.
Em hãy nhận xét quan hệ giữa biến cố C
GV: Nhận xét trả lời của HS từ đó với hai biến cố A và B?
dẫn dắt để họ hiểu về khái niệm biến
cố hợp, biến cố xung khắc.
+ Khái niệm biến cố hợp, biến cố xung
HS: Thông qua việc trả lời câu hỏi khắc (SGK)
của GV và việc nghiên cứu tài liệu
SGK hiểu được khái niệm biến cố
hợp, biến cố xung khắc.
GV: Đưa ra câu hỏi để học sinh vận
dụng kiến thức
Câu hỏi:
+ Từ những phép thử ngẫu nhiên ở
thực tiễn em hãy lấy ví dụ về biến cố
hợp, biến cố xung khắc, biến cố
không xung khắc?
+ Ω A ; Ω B lần lượt là số kết quả thuận + Học sinh lấy ví dụ từ thực tiễn, chẳng
lợi của biến cố A; B. Nếu A và B hạn:
Gieo ngẫu nhiên một con súc sắc
8
cố A và B
HS: Nhận xét được A ∪ B=Ω ;
P(A)+P(B)=1
+ Định lý: Cho biến cố A. Xác suất của
biến cố đối A là P(A)=1-P(A)
GV: Hai biến cố A và B trên gọi là
hai biến cố đối nhau. Vậy thế nào là
hai biến cố đối?
HS: Kết hợp với tìm hiểu kiến thức
ở SGK đưa ra được định nghĩa biến
cố đối và định lý về biến cố đối.
Nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện bước 2:
9
+ Học sinh hứng thú với cách dẫn dắt bài học và đặt câu hỏi của giáo
viên.
+ Học sinh lấy được nhiều ví dụ từ thực tiễn liên quan đến các khái niệm
về biến cố đã được học.
Bước 3: Thông qua các câu hỏi liên môn giúp học sinh củng cố kiến
thức về quy tắc cộng xác suất
Sau khi thực hiện bước 2 tôi tiến hành tổ chức cho học sinh hoạt động để
củng cố kiến thức. Tôi không chỉ đơn thuần sử dụng các câu hỏi gợi ý trong
SGK, SGV mà tùy từng đối tượng học sinh để khéo léo đưa những câu hỏi liên
môn, câu hỏi thực tiễn để dẫn dắt, tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm để
trả lời.
Ví dụ 3: Tiến trình dạy học để củng cố kiến thức về quy tắc cộng
Các câu hỏi liên môn có thể được đưa ra để học sinh trả lời bằng vận dụng
kiến thức về quy tắc cộng vừa học:
6 6 3
lại hoàn toàn ngược lại. Không
những vậy, một số trò chơi khả Vậy xác suất để trúng thưởng nhỏ hơn 50%
10
năng thắng cược và thua cược có
xác suất xảy ra như nhau nhưng
cũng không nên chơi bởi: Thứ
nhất người tổ chức chơi có thể sử
dụng chiêu trò để bịp người chơi,
thứ hai nếu họ không bịp thì
người chơi có thắng cược cũng
mất một lượng tiền nhất định gọi
là “phế”, chơi nhiều lần thì dù số
lần được mất tương đương nhau
nhưng người chơi cũng sẽ mất
một số lượng tiền “phế” lớn. Ví
dụ điển hình cho điều này đó là
các trò chơi như xóc đĩa, cá cược
bóng đá, cá ngựa đang bùng nổ
hiện nay.
HS: + Thông qua hoạt động củng
cố kiến thức đã học về quy tắc
cộng xác suất.
+ Qua kết quả hoạt động
cùng với những kiến thức mà giáo
viên truyền tải để hiểu biết sâu
sắc về các trò chơi đỏ đen nêu
B=A1 ∪ A 2 ∪ A 3 ∪ A 4 ∪ A 5
Theo quy tắc cộng xác suất mở rộng thì:
P(B)=P(A1 )+P(A 2 )+P(A 3 )+P(A 4 )+P(A 5 )=
20
52
Kết luận: Không nên tham gia trò chơi này
vì xác suất trúng thưởng nhỏ hơn 50%
trong khi đó số tiền thua cược và thắng
cược lại bằng nhau.
Nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện bước 3:
+ Học sinh rất hứng thú, các nhóm thảo luận sôi nổi để trả lời các câu
hỏi giáo viên đưa ra.
+ Học sinh vận dụng khá tốt quy tắc cộng xác suất để tính toán và trả lời
câu hỏi. Về cơ bản học sinh bằng kiến thức toán học giải thích được các vấn đề
giáo viên đã đặt ra.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh học tập về quy tắc nhân xác suất
Với phương pháp, cách thức tổ chức tương tự như trên. Sau khi học sinh
học tập, củng cố kiến thức về quy tắc cộng xác suất tôi đã tiến hành cho học sinh
học tập về quy tắc nhân xác suất
Ví dụ 4: Tiến trình dạy học về quy tắc nhân xác suất
Hoạt động của GV và HS
Nội dung ghi bảng và trình chiếu
GV: Yêu cầu học sinh thảo luận, + Biến cố giao (SGK)
nghiên cứu SGK và nêu định
nghĩa về biến cố giao, biến cố độc + Biến cố độc lập (SGK)
dụng quy tắc nhân
a. Chứng tỏ P(AB) = 0
HS: Hoạt động nhóm trả lời câu
b. Nếu P(A) f 0 và P(B) f 0 thì hai biến
hỏi của giáo viên
cố A và B có độc lập với nhau không
Câu hỏi 2: Hai xạ thủ cùng bắn vào một
mục tiêu, xác suất bắn trúng của hai xạ thủ
lần lượt là 0,7 và 0,8. Hãy tính xác suất để
sau một lượt bắn:
a. Cả hai xạ thủ đều bắn trúng
b. Có ít nhất một xạ thủ bắn trúng
Trả lời:
Câu 1: a. Vì A và B xung khắc nên AB=Φ
⇒ P(AB) = 0
b. Vì P(A) f 0 và P(B) f 0 nên P(A).P(B) f 0
⇒ P(AB) ≠ P(A).P(B) . Vậy A và B không
xung khắc.
GV: Nhận xét, đánh giá hoạt động Câu 2: a. Gọi A, B lần lượt là biến cố xạ
của các nhóm học sinh
thủ thứ nhất, xạ thủ thứ 2 bắn trúng. Gọi C
HS: Tiếp thu, khắc sâu kiến thức là biến cố cả hai xạ thủ đều bắn trúng khi
12
đã học
đó C = AB, vì A và B độc lập nên:
P(C) = P(AB) = P(A).P(B) = 0,56
b. Gọi D là biến cố “Có ít nhất một xạ thủ
như sau: Nếu thắng cuộc người chơi sẽ được hưởng số tiền thưởng lên đến 10
lần số tiền bỏ ra để đặt cược. Để giành được giải thưởng người chơi buộc phải
đoán đúng kết quả của cả 4 trận đấu. Biết rằng xác suất để đoán đúng hay sai
mỗi trận đấu là 0,5. Hãy tính xác suất để người chơi thắng cuộc? Theo em có
nên tham gia trò chơi này không? Vì sao?
Câu hỏi 4: Liên môn sinh học ( giải quyết vấn đề đặt ra ở Ví dụ 1)
13
Bệnh bạch tạng ở người do đột biến gen lặn trên NST thường. Vợ và
chồng đều bình thường nhưng mang gen gây bệnh, hãy tính:
a. Xác suất để họ sinh 2 người con, có cả trai và gái đều không bị bệnh
b. Xác suất để họ sinh 2 người con có cả trai và gái trong đó có một người
bệnh, một không bệnh.
c. Xác suất để họ sinh 2 người con cùng giới tính và đều bình thường
d. Xác suất để họ sinh 2 người con cùng giới tính và một người bình thường,
một người bị bệnh bạch tạng.
Theo em hai người bình thường nhưng đều mang gen gây bệnh bạch tạng
có nên lấy nhau không? Nếu lấy nhau thì họ nên làm gì?
Hoạt động của GV và HS
GV: Đưa ra các câu hỏi từ thực tiễn, các
câu hỏi sử dụng kiến thức liên môn trên
và yêu cầu học sinh hoạt động nhóm sử
dụng quy tắc tính xác suất để trả lời.
HS: Hoạt động nhóm trả lời các câu hỏi,
các bài tập mà giáo viên đưa ra.
HS: Các nhóm trình bày kết quả
Nội dung ghi bảng và trình chiếu
4
50
3
Xác suất để đạt 0 điểm là ÷ .
4
Câu hỏi 3:
4
1
1
Xác suất thắng cuộc là ÷ =
2 16
Mặc dù nếu thắng cuộc được số
tiền thưởng gấp 10 lần số tiền đặt
cược nhưng vì
1
1
p
nên nếu chơi
16 10
Câu hỏi 2
nhiều thì xác suất để người chơi mất
Nhận xét: Cả hai bạn Nam và Minh tiền là rất lớn.
a. Xác suất để họ sinh hai người con
trong đó có cả trai và gái và đều
không bị bệnh là:
Câu hỏi 3:
Nhận xét: Trò chơi trong câu hỏi trên
tưởng như người chơi sẽ có lợi, nhưng
thực tế người chơi gần như chắc chắn sẽ
bị mất nhiều tiền nếu ham mê chơi với
số lượng tiền lớn hay chơi nhiều lần.
Câu hỏi 4:
Nhận xét: Hai người bình thường nhưng
mang gen bệnh nếu lấy nhau thì khi họ
sinh con khả năng con của họ bị bệnh là
khá cao, vì vậy họ không nên lấy nhau.
Nếu họ đều biết mình mang gen
bệnh nhưng vẫn lấy nhau thì trước hết
họ phải chuẩn bị tinh thần bởi rất có
thể con của họ sẽ mắc bệnh. Nếu họ lấy
nhau và sinh con đầu lòng không bị mắc
bệnh với xác suất là
3
cũng khá cao
4
thì tốt nhất nên dừng lại không nên sinh
thêm một hay nhiều con nữa.
1
cùng giới và đều bình thường là:
1 3
3
9
.
.
=
2 4
4
32
d. Xác suất để họ sinh hai người con
cùng giới và một không bị bệnh, một
bị bệnh là:
1
3
1
1
3
1
. C21 .
.
=
.2 .
.
=
2
4
4
2
thức sâu sắc về tác hại của các tệ
nạn như lô đề, cờ bạc, cá độ...
+ Nhấn mạnh vai trò của bài học
áp dụng trong môn sinh học và
một số môn học khác.
+ Giao thêm bài tập về nhà cho
học sinh.
Nội dung ghi bảng và trình chiếu
+ Trình chiếu một số hình ảnh về các tệ nạn
đỏ đen cần loại bỏ.
+ Trình chiếu bảng tổng kết những kiến
thức trọng tâm đã học.
Một số bài tập về nhà có sử dụng kiến
thức liên môn:
Bài 1: Ở chuột màu lông do một gen
có hai alen, alen B quy định lông đen trội
hoàn toàn so với alen b lông trắng. Cho
phép lai: Bb X bb, tính xác suất để thu được
một con đen, một con trắng?
Bài 2: Một người tham gia vào trò
chơi đánh đề trong 3 ngày liên tiếp (luật
chơi đã nêu ở hoạt động 1) . Tính xác suất
để anh ta:
a. Trúng (thắng cược) trong cả ba
ngày.
HS:
b. Trúng ít nhất một ngày
+ Tiếp thu, lĩnh hội, ý thức sâu sắc
tôi đã đúc rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
+ Cần phải không ngừng học hỏi để tiếp tục đổi mới bài dạy sao cho phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Không thể lấy một giáo án để dạy cho tất cả
các lớp, các câu hỏi đặt ra phải được chuẩn bị kỹ thông qua việc tìm hiểu kỹ về
mỗi đối tượng học sinh.
+ Việc vận dụng tích hợp kiến thức liên môn, kiến thức thực tiễn không
được quá lạm dụng dẫn đến thiếu tập trung vào nội dung chính của bài học.
+ Cần phải tạo ra không khí học tập thoải mái nhưng vẫn phải luôn định
hướng, tổ chức cho các nhóm học sinh thực sự thi đua để trả lời các câu hỏi.
+ Cần cập nhật thông tin thường xuyên, đưa hình ảnh hay vi deo ngắn để
tăng thêm sức thuyết phục cho bài dạy nhưng cũng không được sử dụng quá
nhiều dễ dẫn đến lạc chủ đề và không đạt được mục đích dạy học theo yêu cầu.
+ Cần tìm hiểu, lắng nghe phản hồi từ học sinh để nắm bắt được suy nghĩ
của các em đối với cả bài học cũng như mỗi hoạt động cụ thể từ đó để có những
bổ sung, thay đổi phù hợp.
4. Kết quả thực nghiệm của đề tài
4.1. Cách thức kiểm tra, đánh giá
Sau khi tiến hành dạy học theo các bước nêu trên tôi đã tiến hành kiểm tra,
đánh giá kết quả dạy học bằng các hình thức:
- Phỏng vấn trực tiếp một số học sinh sau bài học.
- Phát phiếu thăm dò để nắm bắt suy nghĩ, cảm giác, mức độ hứng thú của
học sinh sau bài học.
- Kiểm tra định lượng bằng những câu hỏi kết hợp kiến thức bộ môn với
kiến thức liên môn, chẳng hạn một số câu hỏi sau:
17
Câu 1: Trong giải thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc được nhà nước tổ
* Về phỏng vấn, thăm dò học sinh:
+ 100 % học sinh được hỏi trả lời rất hứng thú với các câu hỏi xã hội, câu
hỏi liên môn mà giáo viên đặt ra trong bài học.
+ 100 % học sinh trả lời những vấn đề liên môn đặt ra trong bài học giúp các
em dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức bộ môn.
+ 100 % học sinh trả lời cần thiết phải đưa vào dạy học môn toán nhiều
những câu hỏi, ví dụ, bài toán mang tính thực tiễn, liên môn.
* Kết quả bài kiểm tra
Năm học 2014 – 2015 tôi đã tiến hành áp dụng đề tài vào giảng dạy thực
nghiệm ở hai lớp 11B2 và 11B5. Sau khi thực hiện đối với lớp 11B2 tôi đã có
những điều chỉnh, bổ sung để thực hiện đề tài với lớp 11B5. Để đánh giá định
lượng việc thực hiện đề tài tôi đã dạy học đối chứng ở lớp 11B8. Kết quả bài
kiểm tra (với các câu hỏi nếu trên) như sau:
18
TT
1
2
3
Sĩ
9-10
số
11B2 46 21 45,7% 20
11B5 46 24 52,2% 19
11B8 46 5 10,9% 15
Lớp
nhiều vấn đề từ thực tiễn, từ các môn học khác. Đối với môn Sinh học đề tài
không chỉ giúp học sinh củng cố một số kiến thức đã học mà còn giúp họ có ý
thức trong việc phòng, tránh một số bệnh di truyền có thể mắc phải trong các thế
hệ sau.
+ Đề tài đã đưa ra được một loạt các câu hỏi, các vấn đề cần giải quyết từ
thực tiễn, từ các môn khoa học khác để học sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp thu
kiến thức bộ môn và vận dụng tốt những kiến thức đó.
+ Đề tài đã xây dựng được các bước hoạt động sư phạm cụ thể, phù hợp để
từ đó giúp giáo viên tổ chức tốt bài dạy “Các quy tắc tính xác suất” cho học sinh
lớp 11 THPT.
+ Đã đưa ra được các bài học kinh nghiệm và tổ chức thực nghiệm sư phạm
để minh họa tính khả thi, hiệu quả của những biện pháp được đề xuất.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, thực hành rồi hoàn
thành đề tài song đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót. Tôi rất
mong các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp góp ý để tôi hoàn thiện hơn đề tài
của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10/5/2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của tôi không sao chép nội dung
của người khác.
Tác giả
Trịnh Trọng Trung
PHỤ LỤC I
20
màu, mắt đỏ, rối loạn thị giác, giảm thị lực và sợ ánh sáng. …
(a)
(b)
(c)
Ảnh chụp mắt người bạch tạng
a. Mắt màu đỏ ở người bạch tạng toàn phần
b. Đáy mắt của người bạch tạng toàn phần
c. Đáy mắt của người bình thường
Chứng bệnh bạch tạng toàn phần khiến Nguyễn Xuân Huy và Nguyễn Xuân
Hùng - Hương Khê, Hà Tĩnh rất khó khăn mỗi khi phải tiếp xúc ánh sáng
Cả gia đình ông Roseturai và bà Mani cùng các con trai Vijay (25 tuổi),
Shankar (24 tuổi), Ramkishan (19 tuổi) và các con gái Deepa (21 tuổi) và
Pooja (18 tuổi)- Delhi, Ấn Độ.
2. Hình ảnh nạn lô đề, cờ bạc, đánh xèng
22
Xổ số kiến thiết
Ích nước lợi nhà, không vi phạm pháp luật
23
11. Trần Văn Hạo - Vũ Tuấn - Nguyễn Mộng Hy - Lê Văn Tiến - Vũ Viết
Yên - Đào Ngọc Nam (2004), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy chương trình và
sách giáo khoa thí điểm lớp 11 môn Toán học (Bộ 2), Viện Nghiên cứu sư
phạm, Hà Nội.
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của đề tài
2. Thực trạng của đề tài
3. Các biện pháp tổ chức thực hiện
4. Kết quả thực nghiệm của đề tài
III. KẾT LUẬN
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Tài liệu tham khảo
Trang
1
2
2
3
3
16
18
19
20
22
25