SKKN giải pháp giúp học sinh lớp 5d trường tiểu học cầu khởi a học tốt phân môn tập làm văn tiết trả bài viết - Pdf 34

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài: “GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5D TRƯỜNG TIỂU HỌC
CẦU KHỞI A HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN TIẾT TRẢ BÀI
VIẾT”
Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hạnh
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Cầu Khởi A
1. Lí do chọn đề tài:
Trong chương trình Tiếng Việt ở bậc tiểu học thì phân môn Tập làm
văn tiết Trả bài viết có một vị trí rất quan trọng vì nó mang tính thực hành cao,
rèn cho học sinh kĩ năng kiểm tra, kĩ năng đánh giá, tự điều chỉnh bài viết của
các em. Nhưng thực tế học sinh lớp tôi các em điều mắc phải lỗi về viết không
đúng yêu cầu đề bài, sai về bố cục, dùng từ chưa chính xác, câu văn thiếu thành
phần chủ ngữ, vị ngữ, viết sai lỗi chính tả, sai về câu, dấu câu, cách diễn đạt,
cách liên kết câu trong đoạn văn dẫn đến bài văn không đạt kết quả như mong
muốn. Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp giúp học sinh lớp 5D
trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết”.
Trong bài viết này tôi muốn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh lớp 5
học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói chung, mà cụ thể là học sinh
lớp 5D của tôi nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói riêng nhằm
giúp các em học tập tốt hơn và có kết quả cao trong học tập.
3. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
Giải pháp giúp học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân
môn Tập làm văn tiết Trả bài viết.
Phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp đọc tài liệu; phương pháp quan
sát; phương pháp trao đổi, trò chuyện; phương pháp kiểm tra, đánh giá; phương
pháp so sánh, đối chiếu.
1


nhưng thiết thực nhất, cụ thể nhất để các em thấy được ưu điểm, khuyến điểm
trong bài viết cũng như trong kiến thức của mình, của bạn và học hỏi trao đổi
lẫn nhau biết cách sửa chữa để cùng nhau tiến bộ.
Nhưng thực tế cho thấy rằng các bài viết của học sinh lớp tôi các em đều mắc
phải lỗi về viết không đúng yêu cầu đề bài, sai về bố cục, dùng từ chưa chính
xác, các em thường viết theo sự phát âm của mình, câu văn thiếu thành phần chủ
ngữ, vị ngữ, viết sai lỗi chính tả, sai về câu, dấu câu, cách diễn đạt, cách liên kết
các câu trong đoạn văn dẫn đến bài văn không đạt kết quả như mong muốn.
Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp giúp học sinh lớp 5D trường
Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết”. Trong
bài viết này tôi muốn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh lớp 5 học tốt
phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói chung, mà cụ thể là học sinh lớp 5D
của tôi nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng
Việt nói chung và phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói riêng nhằm giúp
các em học tập tốt hơn và có kết quả cao trong học tập.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp giúp học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu
Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết.
Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A.
4. Phạm vi nghiên cứu:
3


Trong đề tài này tôi nghiên cứu: Một số giải pháp Sửa lỗi về làm bài không
đúng yêu cầu, bố cục, chính tả, cách dùng từ, đặt câu, dấu câu, về diễn đạt, cách
liên kết các câu trong đoạn văn cho học sinh lớp 5 khi dạy phân môn Tập làm
văn tiết Trả bài viết.
Học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A.

bài viết thì nhất định chất lượng học tập môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
Tập làm văn tiết Trả bài viết nói riêng của học sinh lớp 5D sẽ ngày càng được
nâng cao.

5


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Trong những năm gần đây, Nghị quyết của đại hội Đảng, những văn kiện
khác của Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều nhấn mạnh rằng: cần đổi
mới phương pháp giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của đất nước, đồng
thời dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Chính vì thế Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã có những công văn hướng dẫn thực hiện chương trình,
sách giáo khoa và chỉ đạo dạy học phù hợp với đối tượng học sinh như:
- Công văn 9832/BGDĐT- GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 về Hướng
dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1,2,3,4,5.
- Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 về tài liệu
Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học.
- Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 Thông tư
Ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
Chúng ta đã biết học các tiết Tập làm văn, học sinh có điều kiện tiếp cận
với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi
phân tích đề tập làm văn, học sinh lại có dịp hướng tới cái thiện, cái thẩm mĩ
được định hướng trong các đề bài. Đặc biệt là tiết Trả bài viết chiếm vị trí rất
quan trọng trong phân môn Tập làm văn, đối với học sinh tiểu học nói chung, ở
lớp tôi nói riêng. Nếu học tốt phần này sẽ giúp các em có thêm kĩ năng nói, kĩ
năng viết, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với
mục đích giao tiếp yêu cầu cần đạt, sửa chữa về nội dung và hình thức diễn đạt
hình thành cho các em kĩ năng và thói quen tự điều chỉnh, tự học tập để luôn

đúng

học

yêu

sinh

cầu đề
bài

Viết

Dùng

sai

từ

về

chưa

bố

chính

cục

xác

3. Vận dụng các giải pháp vào thực tiễn giảng dạy:
Trong quá trình dạy học, tôi luôn áp dụng nhiều phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học. Nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, không áp đặt. Kĩ
năng nói, kĩ năng viết, kĩ năng kiểm tra, đánh giá tự điều chỉnh bài viết của mình
là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình lâu dài, các em cần phải chiếm
7


lĩnh các kĩ năng này. Muốn nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn tiết Trả
bài viết của các em thì tôi cần phải giảng dạy theo nguyên tắc: “Thầy chủ đạo,
trò chủ động”
Để giờ học nhẹ nhàng, đem lại hiệu quả thiết thực, khi dạy tôi tập trung vào
các yêu cầu cơ bản, linh hoạt phương pháp dạy học của tiết Trả bài viết nhằm
đạt hiệu quả đúng với yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng. Để đạt được yêu cầu này
tôi sử dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật tổ chức dạy học giúp các em
hứng thú hơn, thích học hơn, sửa chữa những lỗi sai một cách chủ động hơn. Từ
đó các em hiểu bài sâu sắc hơn, chắc chắn hơn. Các giải pháp đó là:
3.1. Nhận xét nội dung bài văn:
Đây cũng chính là bước mà tôi không thể coi thường, nhận xét bài qua loa,
sơ sài. Nếu như thế tôi sẽ không thấy được ưu, khuyết điểm bài làm của các em,
bản thân các em cũng không thấy được lỗi sai của mình. Vì vậy đòi hỏi tôi phải
kiểm tra, nhận xét bài một cách nghiêm túc, kĩ càng, chính xác, đảm bảo được
tính khoa học, khách quan, vô tư. Qua bài làm thấy được khả năng sáng tạo của
các em, có thái độ đúng đắn, phải công nhận cách sử dụng từ ngữ của các em
cho dù đó là một sản phẩm rất nhỏ. Khi kiểm tra, nhận xét tôi cần ghi rõ những
lỗi sai của các em trong bài, phân loại cụ thể.
. Làm bài đúng với yêu cầu đề bài chưa?
. Xem bố cục bài của các em đạt chưa?
. Sai những lỗi chính tả nào?
. Những từ nào dùng chưa chính xác?

A. Kiểm tra bài cũ.
B. Bài mới:
*Hoạt động 1: Nhận xét kết quả bài làm của học sinh.
Mục tiêu: HS biết những ưu điểm, khuyết điểm chính trong bài làm.
Giáo viên mở bảng phụ đã viết sẵn các đề bài của tiết kiểm tra; một số lỗi
điển hình về chính tả, dùng từ, đặt câu, ý …của học sinh.
Giáo viên nhận xét chung về kết quả bài làm của học sinh: Nêu những ưu
điểm, khuyết điểm chính trong bài làm.
Giáo viên trả bài cho từng học sinh.
*Hoạt động 2: Hướng dẫn HS chữa lỗi trong bài.

9


Mục tiêu: Nhận biết được lỗi trong bài văn, viết lại một đoạn văn cho đúng
hoặc hay hơn.
a. Hướng dẫn chữa lỗi chung.
GV ghi các lỗi cần chữa đã viết sẵn ở bảng phụ.
Một số học sinh lên bảng chữa lần lượt từng lỗi. Cả lớp tự chữa trên nháp.
Học sinh cả lớp trao đổi về bài chữa trên bảng. Giáo viên chữa lại cho đúng
bằng phấn màu (nếu sai).
b. Hướng dẫn từng học sinh sửa lỗi trong bài.
Học sinh đọc lời nhận xét của cô giáo, phát hiện thêm lỗi trong bài làm của
mình và sửa lỗi.
Giáo viên theo dõi, kiểm tra học sinh sửa bài.
c. Hướng dẫn học tập những đoạn văn, bài văn hay.
Giáo viên đọc những đoạn văn, bài văn hay có ý riêng, sáng tạo của học
sinh trong lớp (hoặc ngoài lớp mà mình sưu tầm được). Học sinh trao đổi, thảo
luận dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tìm ra cái hay, cái đáng học của đoạn
văn, bài văn, từ đó rút kinh nghiệm cho bản thân các em.


Viết đúng chính tả

Máy tóc bạc phơ.

Mái tóc bạc phơ.

Bà em rất khẻo mạnh.

Bà em rất khỏe mạnh.

Mái tóc mùa múi tiêu.

Mái tóc màu muối tiêu.

Làng da trắng hồng

Làn da trắng hồng.

Khuông mặt bà phút hậu.

Khuôn mặt bà phúc hậu.

d) Sai về cách dùng từ:
Đối với những trường hợp này tôi ghi những câu sai lên bảng và gọi các em
nhận xét câu cô viết. Em thấy chỗ nào chưa hay, có sai không? Tại sao chưa hay
có thể tìm từ khác thay thế không? Các em đọc lại câu đúng tôi ghi bên phải
bảng.
Ví dụ 1: Hai năm nay em mới có dịp gửi cho cô Nhu một bức thư.
Em có nhận xét gì về câu văn trên? (dùng từ chưa phù hợp)

bóng.”
đ) Sai lỗi về câu, dấu câu, về diễn đạt:
Thông thường các em mắc lỗi này là do các em viết thiếu chủ ngữ hoặc
thiếu vị ngữ nên ý câu chưa trọn vẹn, câu có nhiều từ ngữ thừa, rườm rà, lủng
củng. Do đó để sửa lỗi sai này tôi thường cho các em đọc lại lỗi sai và ghi câu
đó lên bảng.
Ví dụ 1: Câu thiếu chủ ngữ: “Được rải bằng đá mi.” (Bài viết số 2-Tuần
10)
12


Khi kiểm tra bài tôi gạch bằng mực đỏ, gọi em đó đọc lại câu em viết và
hỏi: Đây có phải là một câu không? Nếu em viết như thế người đọc sẽ hiểu được
không? Theo em cái gì được rải bằng đá mi? (Sân trường)
Lúc bấy giờ các em sẽ nhận ra câu thiếu chủ ngữ và tự sửa chữa vào vở câu
hoàn chỉnh: Sân trường được rải bằng đá mi.
Ví dụ 2: Đứng từ xa. Nhìn ngôi trường thật đẹp. Mái lớp được lợp tôn,
tường vôi trắng. (Bài viết số 2-Tuần 10)
Em có nhận xét gì về đoạn văn trên? (dùng dấu câu chưa phù hợp)
Dấu câu nào chưa phù hợp? (dấu chấm thứ nhất và dấu chấm thứ hai)
Tại sao? (đứng từ xa chỉ là một cụm từ không phải là câu)
Vậy em thay thế hai dấu câu trên như thế nào? (dấu chấm thứ nhất thay
bằng dấu phẩy; Dấu chấm thứ hai được thay thế bằng dấu hai chấm.
Vì sao? (Dấu hai chấm được giải thích cho bộ phận đứng trước nó - Ngôi
trường đẹp)
Gọi các em viết lại câu hoàn chỉnh. “Đứng từ xa, nhìn ngôi trường thật
đẹp: mái lớp được lợp tôn, tường vôi trắng.”
Ví dụ 3: Diễn đạt nội dung rườm rà. “Trong gia đình em có một người mà
em rất kính mến, đó là ông em rất kính yêu.” (Bài viết số 3-Tuần 16)
Với câu trên tôi cho các em đọc trên bảng phụ và yêu cầu các em nhận xét

phần kết bài), dùng từ lặp lại (Hiếu Hiền), dùng từ xưng hô chưa chính xác (chú,
anh, ổng), ý câu cuối chưa đúng với thực tế cuộc sống)
Cho học sinh đọc lại đoạn văn trên và suy nghĩ sửa lại cho hay hơn.
Học sinh nêu đoạn văn đã sửa: Em rất thích danh hài Hiếu Hiền vì anh ấy
diễn hài rất hay và có duyên. Em xin hứa sẽ học thật giỏi để được ba mẹ chở đi
xem anh Hiếu Hiền biểu diễn lần nữa.
Ví dụ 2: Tả đồ vật (bài viết số 6 – Tuần 25)
HS tả hình dáng cái bàn như sau:
Cái bàn nhỏ của em xinh xắn. Cái bàn được đặt ngay cửa sổ. Cái bàn có
bốn chân. Cái bàn có nắng gió, hương hoa từ ngoài vườn theo gió đưa vào. Cái
bàn hình chữ nhật, chiều dài khoảng một mét, chiều rộng khoảng bảy mươi
xăng-ti-mét. Ở dưới mặt bàn có hai ngăn vừa đủ để em bỏ cặp, sách vở vào.
Em có nhận xét gì về các câu trong đoạn văn trên?
14


Học sinh đọc lai đoạn văn nhận ra và nêu: Các câu trên chưa có sự liên kết
chặt chẽ về ý, sắp xếp các ý chưa hợp lí và chưa rõ ràng, mỗi câu đều lặp lại từ
(cái bàn), câu 5 dùng từ chưa đúng (cái bàn)
Em có thể sửa lại các câu trong đoạn văn trên như thế nào cho hay hơn?
Học sinh sửa lại (câu 2 và câu 4 nên kết hợp thành một câu bỏ từ cái bàn ở
đầu câu 4, câu 3 nên viết ở cuối đoạn văn, thay từ cái bàn bằng một từ đồng
nghĩa: nó, từ cái bàn ở câu 5 thay thành từ mặt bàn mới chính xác hơn)
HS nêu đoạn văn hoàn chỉnh:
Cái bàn nhỏ của em xinh xắn. Nó được đặt ngay cửa sổ có nắng gió,
hương hoa từ ngoài vườn theo gió đưa vào. Mặt bàn hình chữ nhật, chiều dài
khoảng một mét, chiều rộng khoảng bảy mươi xăng-ti-mét. Ở dưới mặt bàn có
hai ngăn vừa đủ để em bỏ cặp, sách vở vào. Cái bàn có bốn chân rất chắc chắn.
h) Đọc bài văn hay, đoạn văn hay trước lớp.
Khi đã sửa xong các lỗi, tôi cho các em nghe một đoạn hay hoặc một bài

thì đứng lại. Ông bắt đầu tỏa ra những cánh tay dài màu vàng nhạt ra khắp
xung quanh, xuyên qua kẽ lá, rọi xuống mặt đất.
g) Những điểm cần lưu ý khi kết thúc tiết học:
Sau khi đọc bài văn mẫu xong tôi dặn dò các em một số lưu ý sau:
. Cần học kĩ các nội dung kiến thức thông qua tiết chính tả, tiết luyện từ và
câu ở trên lớp, nhằm khắc phụ việc viết sai chính tả, cách dùng từ, cách đặt câu.
. Khuyến khích các em thường xuyên đọc sách, báo và ghi lại những từ ngữ
giàu hình ảnh, giàu cảm xúc nhằm làm giàu vốn từ cho các em, từ đó giúp các
em có thể vận dụng một cách sáng tạo hơn trong bài viết của mình.
3.3.2.GIẢI PHÁP II:
a) Các em tự sửa lỗi sai trong bài làm của mình.
Đối với những em sai tôi ghi tên các em trong thiết kế bài dạy, trong sổ
theo dõi, nhưng khi trả bài sửa lỗi tôi không nêu tên các em lên, vì tránh trường
hợp các em mặc cảm để tự các em phát hiện lỗi sai của mình và tự sửa chữa.
Trong quá trình kiểm tra, nhận xét bài tôi có gạch chân những chỗ sai bằng mực
đỏ. Tôi gọi các em đọc những chỗ gạch mực đỏ và hỏi: Em có nhận xét gì về
câu văn em vừa đọc? Em định trình bày như thế nào? Lúc này các em dễ dàng
diễn đạt theo ý của mình. Theo em phải sửa lại như thế nào?
16


Ví dụ: Ở quê em có một cánh đồng rất đẹp cánh đồng rất là rộng. (Bài
viết số 1-Tuần 4)
Em có nhận xét gì về câu văn em vừa đọc? (lặp lại từ ngữ).
Theo em câu trên được sửa lại như thế nào?
Học sinh hiểu và sửa lại lỗi: Ở quê em có một cánh đồng rất đẹp và rộng.
Có những trường hợp các em viết sai từ theo sự phát âm của mình, trường
hợp này tôi cho các em đọc lại câu văn đó để các em phân biệt các từ các em ghi
trong câu đúng chưa?
Ví dụ: Cả nhà đang ngồi uống chà và đón tết trong phòng khách.

các em phát triển ý kiến của bản thân. Tuy nhiên khi các em thực hiện tốt yêu
cầu này tôi luôn động viên khuyến khích, tuyên dương các em để các em hứng
thú trong học tập.
c) Trao đổi ý kiến với phụ huynh:
Tôi trao đổi với phụ huynh về việc học tập ở nhà của các em. Kết hợp với
phụ huynh nhắc nhở các em đọc thêm sách báo, những bài văn hay và ghi lại
những từ ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc nhằm làm giàu vốn từ cho các em, từ
đó giúp các em có thể vận dụng một cách sáng tạo hơn trong bài viết của mình.
Vào 15 phút đầu giờ tôi cho các em học tập tốt viết lại những từ ngữ hay,
những câu văn hay mà các em đã đọc thêm ở nhà. Khi các em ghi xong tôi cho
các em học chậm đọc lại. Đồng thời tôi cũng kiểm tra sự ghi chép của các em
học chậm ở nhà (Nếu các em này ghi được những câu văn hay, những từ ngữ
hay tôi tuyên dương các em để động viên, khuyến khích các em.)
Để tiết học đạt hiệu quả tôi áp dụng cả hai giải pháp trên vào tiết dạy phân
môn Tập làm văn tiết Trả bài viết để phát huy được tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh.
TÓM LẠI:
Về phía học sinh:
 Nắm vững dàn ý, yêu cầu đề bài – hoàn thành bài văn.
 Các em tự giác, tích cực trong học tập.
 Biết nhận xét, đánh giá bài của bạn.
 Mạnh dạn trong học tập.
 Đọc thêm sách, báo.
Về phía giáo viên:
18


 Trao đổi với phụ huynh, nhắc nhở các em đọc thêm sách, báo, các bài
văn hay.
 Không áp đặt kiến thức. Không làm bầu không khí lớp học nặng nề.

Viết

Dùng

sai

từ

về

chưa

bố

chính

cục

xác

3
0

7
4

Viết
sai

Sai về câu, dấu


19


III. KẾT LUẬN:
Trên đây là một số giải pháp viết về “Giải pháp giúp học sinh lớp 5D
trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết”.
Tôi sẽ tiếp tục thực hiện đề tài này đến cuối năm học để giảng dạy cho học sinh,

20


để các em học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết và tạo cơ sở cho các
em học tốt các môn học khác.
1. Bài học kinh nghiệm:
Trong thực tế giảng dạy và trong quá trình nghiên cứu tôi rút ra bài học
kinh nghiệm đó là:
a. Đối với giáo viên:
Có lòng say mê nghề nghiệp, luôn có ý thức tìm tòi và sáng tạo trong dạy
học.
Giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, phải nghiên cứu kĩ
nội dung chương trình để nắm mục tiêu và kĩ năng cần đạt đối với từng bài dạy.
Tham khảo thêm các tài liệu có liên quan đến môn học để từ đó có thể vận dụng
vào tiết dạy đạt hiệu quả.
Giáo viên chuẩn bị thật chu đáo trước khi lên lớp, để chọn cho mình một
phương pháp và hình thức tổ chức phong phú, phù hợp với nội dung kiến thức
cần truyền đạt vào tình hình thực tế của học sinh nhằm phát huy tối ưu tính tích
cực sáng tạo của học sinh.
Giáo viên mạnh dạn giao việc cho học sinh dưới mọi hình thức thích hợp.
Qua những bài tập cụ thể giúp học sinh vận dụng những điều đã học để làm bài.

Tôi rất mong được sự góp ý của Hội đồng Khoa học các cấp để đề tài của tôi
được hoàn thiện hơn nữa.
Cầu Khởi, ngày 10 tháng 3 năm 2015
Người thực hiện

Trần Thị Hạnh

22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 1, tập 2.
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 5 tập 1, tập 2.
23


3. Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học môn Tiếng Việt.
4. Tài liệu “Đổi mới phương pháp dạy học các môn học ở lớp 5 tập 1” của
BGD&ĐT.
5. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên chu kì 2003- 2007.
6. Sách học tốt Tiếng Việt 5 của BGD&ĐT.
7. Chuyên đề 34 về hướng dẫn học theo chuẩn kiến thức kĩ năng.

24


MỤC LỤC

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................Trang 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status