BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn
lớp 4A”.
Họ và tên: Nguyễn Văn Hải.
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phước Ninh B.
1. Lý do chọn đề tài:
- Xuất phát từ mục tiêu giáo dục là đào tạo học sinh trở thành một con người
toàn diện.
- Xuất phát từ thực tế giảng dạy là học sinh lớp mình phụ trách có nhiều em
không biết làm tập làm văn, làm tập làm văn chưa hay.
- Xuất phát từ mục tiêu của phân môn Tập làm văn là rèn luyện cho học sinh
kĩ năng viết văn, viết đúng, viết hay; giúp các em yêu thích phân môn Tập làm văn,
học tốt môn phân môn Tập làm văn cũng là học tốt môn Tiếng Việt và các môn học
khác.
2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phân
môn Tập làm văn lớp 4A.
- Các phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu, thống kê, điều tra.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Cung cấp kiến thức mới (vốn từ) một cách khoa học.
- Hướng dẫn học sinh nắm cách viết văn, sử dụng các biện pháp tu từ.
- Giúp học sinh viết được một bài văn hoàn chỉnh và hay.
- Sử dụng nhiều hình thức học tập nhằm tạo hứng thú cho học sinh.
- Dùng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
4. Hiệu quả áp dụng:
Trang 1
Qua việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi nhận thấy có hiệu quả cao,
chất lượng tăng so với đầu năm.
truyền thống quý báu của ông cha ta. Đồng thời phải có vốn từ phong phú, biết
cách đặt câu, biết liên kết các câu thành một đoạn văn, biết thể hiện cảm xúc của
người viết trong bài văn, biết cảm nhận cái hay, cái đẹp trong bài văn, bài thơ, cuộc
sống xung quanh và thể hiện cái đẹp, hình ảnh bằng ngôn ngữ viết,…
Phân môn Tập làm văn có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục tình cảm, tình
yêu: Học sinh yêu cái đẹp, rung cảm trước cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong
xã hội, cái đẹp trong văn chương. Phân môn này có thể rèn luyện cho học sinh tư
duy trừu tượng và cả tư duy logic. Giờ tập làm văn ngoài việc hướng dẫn học sinh
viết đoạn văn, viết bài văn, còn giúp các em biết cách sử dụng từ. Dùng từ như thế
nào để viết được câu văn phù hơp, câu văn hay, câu văn có hình ảnh. Các câu văn
trong một đoạn văn có sự liên kết với nhau về ý. Ngoài ra học sinh còn được rèn
luyện óc tưởng tượng, ghi nhớ.
Phân môn Tập làm văn không chỉ có nhiệm vụ trên mà còn kết hợp chặt chẽ
với chương trình Tiếng việt. Qua các bài văn chọn lọc học sinh vừa cảm thụ được
cái hay, cái đẹp vừa học được cách sử dụng từ chính xác, cách đặt câu văn gãy gọn,
sinh động, có hình ảnh, đúng chính tả.
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của phân môn Tập làm văn mỗi
giáo viên phải nhận thức rõ các phương pháp giảng dạy của mình.
Trong quá trình dạy Tập làm văn lớp 4, tôi nhận thấy chất lượng làm tập làm
văn của học sinh lớp 4 nói chung và của lớp tôi nói riêng còn yếu. Đặc biệt ngày
nay xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu đòi hỏi về tri thức con người ngày càng
Trang 3
cao, trong đó việc viết văn bản là vô cùng cần thiết cho mỗi người. Muốn thành
công không phải tự nhiên mà có được, phải trải qua một quá trình rèn luyện kiên trì
ngay từ đầu. Để góp phần nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh, tôi mạnh dạn
chọn đề tài « Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn ở lớp
4A» để thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cách làm văn của học sinh, cách dạy
của đồng nghiệp. Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến rèn kĩ năng làm tập làm
văn ở lớp 4:
+ Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt 4; Sách hướng dẫn thực hiện
chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học lớp 4, của Nhà xuất bản Giáo
dục; Sách hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp Tiểu
học, của nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam; Chương trình Giáo dục Phổ thông cấp
Tiểu học, của Nhà xuất bản Giáo dục; Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn
học lớp 4 – tập 1, của Nhà xuất bản Giáo dục; Giáo trình phương pháp dạy học
Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học sư phạm năm 2006; Các loại sách, báo, …
- Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại trực tiếp với học sinh; họp tổ, dự giờ
trao đổi với đồng nghiệp.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm dạy theo cách đang
nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê toán học: Kiểm tra, thống kê, tổng hợp, đối chiếu
kết quả thực nghiệm với kết quả ban đầu và đưa ra kết quả thu được.
6. Giả thuyết khoa học:
Trang 5
Nếu giáo viên có sự đầu tư thích đáng và chọn được những phương pháp dạy
học phù hợp trong các giờ dạy Tập làm văn thì nhất định chất lượng bài tập làm
văn của học sinh lớp 4A sẽ ngày càng tốt hơn.
II. PHẦN NỘI DUNG
1 . Cơ sở lý luận của đề tài:
- Trong quá trình dạy học trên lớp, làm thế nào để học sinh viết được một bài
văn hoàn chỉnh và hay là một việc làm không mấy dễ dàng. Chúng ta là người trực
tiếp dạy dỗ các em hàng ngày, giúp các em học, đồng thời cũng là người chịu trách
nhiệm về kết quả học tập của các em. Vì thế, ngay từ đầu năm học, giáo viên phải
đúng đắn về chuẩn kiến thức cơ bản tối thiểu của từng môn học, bài học; đồng thời
cũng giúp người giáo viên có cơ sở đánh giá học sinh đạt ở mức độ nào mà có kế
hoạch dạy học cho phù hợp.
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài:
Trang 7
Từ năm học 2008 – 2009 đến nay tôi được trực tiếp giảng dạy các em học
sinh lớp 4, cũng như quá trình quan sát, dự giờ việc dạy và học của các đồng
nghiệp và của học sinh trong thời gian trước đây tôi thấy có những nhận xét sau:
Về người dạy học: Giáo viên khá tôn trọng việc đổi mới phương pháp dạy
học: “Thầy thiết kế, trò thi công” lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cố gắng
tìm tòi nghiên cứu để giảng dạy tốt phân môn Tập làm văn. Khi dạy riêng từng
phần thì giáo viên có quan tâm đến: mở bài trực tiếp hay gián tiếp; thân bài: tả bao
quát, tả chi tiết, có sử dụng các biện pháp nghệ thuật nhân hóa hay so sánh; kết bài
mở rộng hay không mở rộng, ... Nhưng khi học sinh làm một bài văn hoàn chỉnh thì
giáo viên chỉ quan tâm đến bài văn có đủ ba phần: mở bài, thân bài, kết bài hay
không, có hướng dẫn học sinh cách sử dụng từ, cách đặt câu, sử các giác quan, các
biện pháp so sánh, nhân hóa, ... nhưng chỉ lướt qua. Thể hiện rõ nhất là ở tiết trả bài
văn viết.
Về người học: Đa số học sinh đã viết được mở bài, thân bài, kết bài. Số học
sinh còn lại thì không biết viết tới đâu là mở bài, tới đâu là thân bài, tới đâu là kết
bài. Cả một bài văn chỉ có một đoạn, không có chấm xuống hàng lần nào. Thậm chí
cả một bài văn không có dấu chấm, phẩy nào cả.
Đa số học sinh đều làm bài văn rất ngắn và chậm so với thời gian quy định
của tiết học. Ý thì sơ sài; câu văn không hay, câu văn lủng củng, câu văn không rõ
ý; dùng từ không hay, lặp lại từ, thường là các từ: và, còn, ... và viết sai lỗi chính tả.
Qua điều tra khảo sát chất lượng của học sinh ngay từ đầu năm học, tôi thấy
học sinh làm tập làm văn rất sơ sài, viết hết một ý các em không biết xuống hàng,
viết ý nọ lẫn sang ý kia, câu văn lủng củng, sai nhiều lỗi chính tả, ... nên đạt điểm
19,1
2
9,5
15
71,4
Trước thực trạng đó, tôi đã phân tích và tự đặt ra cho mình câu hỏi: Phải làm
gì? Làm như thế nào? Để khắc phục tình trạng đó cần có biện pháp kịp thời để nâng
cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho các em. Nhằm giúp các em có một kĩ
năng làm tập làm văn vững vàng, tối thiểu nhất cũng đạt được yêu cầu chuẩn kiến
thức, kĩ năng của phân môn Tập làm văn, đồng thời cũng giúp giáo viên và nhà
trường đạt chỉ tiêu kế hoạch năm học.
3. Nội dung vấn đề :
a. Vấn đề đặt ra:
Từ yêu cầu thực tiễn của việc dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 4A, tôi đã tự
đặt cho mình một nhiệm vụ là phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, yêu cầu của
bộ môn, đặc biệt về nội dung và phương pháp rèn kĩ năng làm tập làm văn để đáp
ứng yêu cầu đề ra.
Trong giảng dạy phân môn Tập làm văn, qua nhiều năm gần đây, tôi đã tích
cực nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy, cách truyền thụ kiến thức, đặc biệt
là việc rèn luyện kĩ năng làm tập làm văn cho học sinh. Muốn rèn cho học sinh làm
văn tốt, trước hết trong mọi tiết Tập làm văn giáo viên cần hướng dẫn kĩ cho học
sinh từng bước một:
Đầu tiên, giáo viên giúp học sinh hiểu được khái niệm, rồi cấu tạo, cách viết
các phần: mở bài, thân bài, kết bài và cuối cùng là viết thành một bài văn hoàn
chỉnh của từng loại tập làm văn: Viết thư; Kể chuyện; Miêu tả đồ vật, cây cối, con
vật; Trao đổi ý kiến với người thân; Luyện tập giới thiệu địa phương; Điền vào giấy
tờ in sẵn.
b. Quá trình thực hiện giải pháp khoa học:
Để đạt được những yêu cầu trên tôi đã tiến hành các biện pháp rèn tập làm
văn cho học sinh như sau:
được như vậy là sự thành công của giáo viên đã được một nửa rồi.).
Tiến hành bài dạy:
Trang 10
- Trước tiên, tôi cho học sinh nắm vững khái niệm và cấu tạo của từng thể
loại tập làm văn, sau đó rèn cho học sinh viết đoạn văn ở phần thân bài và cuối
cùng rèn cho học sinh viết đoạn mở bài, kết bài rồi ghép lại thành một bài văn hoàn
chỉnh.
+ Để làm được điều đó, sau khi học sinh tìm hiểu kiến thức và rút ra khái
niệm, cấu tạo của từng thể loại tập làm văn, tôi yêu cầu học sinh phải học thuộc để
nhớ và khi làm bài phải thể hiện đủ các phần trong cấu tạo của từng thể loại tập làm
văn đó.
+ Rèn viết phần thân bài:
Thông thường phần thân bài gồm có hai phần:
Viết thư:
Thăm hỏi
Kể tình hình học tập của bản thân, cuộc sống gia đình,…
Kể chuyện: Gồm nhiều sự việc nối tiếp nhau theo một trình tự thời
gian. Mỗi sự việc được viết thành một đoạn.
Miêu tả đồ vật, cây cối, con vật:
Thông thường gồm có 2 phần: Tả bao quát và tả chi tiết (nhưng riêng mỗi
loại văn cũng có đôi chút khác nhau, như: Tả đồ vật, có thể tả từ ngoài vào trong
hoặc từ trong ra ngoài (trường hợp này ít). Tả cây cối, có thể tả theo từng thời kỳ
phát triển của cây hay từng bộ phận của cây, hoặc cũng có thể tả từ xa tới gần, từ
gần đến xa. Tả con vật, có thể tả hình dáng rồi tới tả hoạt động của con vật hoặc có
thể tả hình dáng và hoạt động lồng vào nhau.)
Trao đổi ý kiến với người thân: thì phải nói làm sao cho người thân của
mình đồng tình với ý kiến mình đưa ra, ủng hộ mình.
Luyện tập giới thiệu địa phương: Muốn giới thiệu được địa phương của
giờ học ghi vào sổ tay bổ sung vào vốn từ của mình các từ ngữ, hình ảnh:
- khẳng khiu, cao vút, thẳng đuột, chiều quằn, chiều lượn.
- nhỏ như vảy cá, giống cánh sen con, giống những tổ kiến.
Trang 12
- thơm mùi thơm của mít chín, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của
mật ong già hạn.
Bài: Con chuồn chuồn nước (Tiếng Việt lớp 4, tập 2, trang 127)
- Từ: lấp lánh, long lanh, bay vọt lên, mênh mông, thung thăng, cao vút.
- Đặt câu:
+ Đồng lúa mênh mông.
+ Mặt biển mênh mông.
+ Cánh đồng bát ngát.
+ Biển rộng bao la.
Các từ: mênh mông, bát ngát, bao la đều nói về rộng.
Vậy qua phân môn Tập đọc học sinh tích lũy được rất nhiều từ ngữ có ít cho
phân môn Tập làm văn. Ngoài ra cuối mỗi tiết Tập đọc, tôi thường cho học sinh
tìm những câu văn hay trong bài, những câu văn mang tính nghệ thuật cao để các
em vận dụng vào bài văn của mình.
Ví dụ:
- Lá xanh um, mát rượi, ngon lành như lá me non.
- Lá ban đầu xếp lại, còn e ấp, dần dần xòe ra cho gió đưa đẩy.
(Hoa học trò)
- Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh.
(Chợ Tết)
câu hỏi, câu cảm, …
Loại câu này không khó, qua các tiết Luyện từ và câu. Học sinh xác định các
yêu cầu cơ bản và thường xuyên luyện tập để củng cố.
Câu phải có hai bộ phận chính: chủ ngữ, vị ngữ.
- Chủ ngữ trả lời câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì?
- Vị ngữ trả lời câu hỏi: Làm gì? Thế nào? Là gì?
Sau khi dạy lý thuyết, tôi cho học sinh luyện viết câu, phân tích tìm chủ ngữ,
vị ngữ, lấy ngay các từ học sinh đã học được trong tiết Tập đọc để đặt câu:
Trang 14
Ví dụ: Sau khi học xong bài “Hoa học trò” (Tiếng Việt 4, tập 2)
+ Học sinh cần tích lũy các từ: xanh um, mát rượi, e ấp, đưa đẩy, phơi phới,
chói lọi.
+ Đặt câu và phân tích:
Cây bàng/ cao lớn, xanh um tỏa bóng mát khắp cả sân trường.
CN
VN
Sân nhà em/ có hai cây sanh lúc nào cũng tỏa bóng mát rượi.
VN
CN
Cứ như vậy, luyện tập nhiều sẽ giúp học sinh có một kiến thức vững chắc về
câu.
Dạy viết một vài dạng câu có kết cấu phức tạp:
Nếu một đoạn văn chỉ viết bằng một loại câu đơn thì không hấp dẫn người
đọc. Bởi vậy, ta cần trang bị những kiến thức nâng cao về câu cho những nhà văn
tương lai. Một số dạng câu phù hợp với lứa tuổi học sinh là:
- Câu có trạng ngữ.
- Câu có nhiều chủ ngữ, nhiều vị ngữ.
Có thể viết gộp lại thành một câu như sau: Cây khoai nói bằng củ,
bằng rễ.
Bằng cách này, bài văn sẽ không bị lặp lại từ và bớt đi sự cứng nhắc, khô
khan, kể lể. Học sinh có thể viết câu văn hay hơn.
- Hoa lan, hoa cúc, hoa huệ đua nhau khoe sắc.
- Các thầy giáo, cô giáo đã dìu dắt, dạy dỗ chúng em nên người.
- Chúng em ca hát, nhảy múa.
Sau khi được luyện tập nhiều, học sinh có thói quen kết hợp để diễn đạt. Bài
văn không rời rạc, khô khan bởi chỉ được viết từ các câu đơn.
Dạy các biện pháp nghệ thuật:
Một bài văn hay là một bài văn có tính nghệ thuật. Để đưa nghệ thuật vào
trong văn có rất nhiều biện pháp. Nhưng đối với học sinh ở lứa tuổi này, chỉ sử
dụng hai biện pháp nghệ thuật là so sánh và nhân hóa.
Trang 16
A. Biện pháp so sánh:
Tôi hướng dẫn học sinh các câu có biện pháp so sánh trong các bài tập đọc
đã học.
Ví dụ:
- Thân cây cao vút, thẳng như một cột nước từ trên trời rơi xuống.
- Lá trám đen chỉ to bằng bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dài chừng một gang.
- Cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới.
- Với những cánh tay quều quào xòe rộng, nó như con quái vật già nua cau
có và khinh khỉnh đứng giữa đám bạch dương tươi cười.
- Cà chua ra quả, xum xuê, chi chít, quả lớn quả bé vui mắt như đàn gà mẹ
đông con.
Với những câu văn này, tôi sẽ giới thiệu để các em nắm chắc được biện pháp
so sánh bằng cách sau:
Cá thu Biển Đông như đoàn thoi
Biển cho ta cá như lòng mẹ.
Bốn cái cánh như giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy
tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu.
Dạng bài này không khó đối với học sinh nhưng không phải học sinh nào cũng
cảm nhận được cái đẹp, cái mới mẻ trong đoạn văn, đa phần các em chỉ nhận ra
hình ảnh so sánh.
b. Diền từ thích hợp vào chỗ trống tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh
gợi tả.
- Mùa xuân, lá bàng mới nảy trông … những ngọn lửa xanh.
- Những trái chuối cong cong … vầng trăng khuyết.
- Những chiếc gai … những chú lính đứng trang nghiêm gác cho nàng công
chúa hoa hồng.
Ở dạng bài này hướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như, giống như,
tựa, tựa như, tựa hồ, như là, giống hệt.
Trang 18
c. Hãy thêm vế câu để được hình ảnh so sánh thích hợp vào mỗi chỗ trống
để mỗi dòng dưới trở thành câu văn có ý nghĩa mới mẻ, sinh động.
- Lá cọ xòe ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như (bàn tay vẫy hoặc mặt trời
mới mọc)
- Hoa bỏng treo lủng lẳng từng chùm trên cây như (những chiếc đèn lồng nhỏ
xíu hoặc chùm quả).
- Đôi cánh mẹ gà xòe ra như (hai mái nhà hoặc chiếc ô dù vững chải) che chở
cho các chú gà con.
- Ánh mắt dịu hiện của mẹ là (ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời con hoặc ngôi sao
dẫn đường cho con đi lên phía trước).
Với dạng bài này, tôi giúp học sinh thường xuyên luyện tập chọn từ điền thoải
1. Thân chuối màu đen khô ráp vì nắng gió.
2. Chị chuối thật giản dị trong bộ áo đen khô ráp vì nắng gió.
1. Những con gà chạy lung tung khắp nơi.
2. Những bé gà hiếu động tung tăng chạy khắp nơi.
1. Gốc hồng màu đen xám.
2. Gốc hồng như một người mẹ già đi trong bộ áo xám đen nhường sắc non
xanh cho hoa, cho lá.
1. Nắng chiếu đầy vòm lá.
2. Những tia nắng tinh nghịch đùa trên vòm lá.
v.v.
Không khó khăn cho học sinh trong việc lựa chọn, tất cả đều có chung một
câu trả lời: Câu văn thứ hai hay hơn câu văn thứ nhất.
“Nó hay hơn vì sao?”. Nhiều học sinh lúng túng trước câu hỏi này. Giáo viên
lí giải: Câu thứ hai hay hơn vì đã sử dụng biện pháp nhân hóa: Chị Mái Mơ, chị
chuối, bé gà, cụ hồng nhung, … trở nên sinh động, đáng yêu vì đã có những suy
nghĩ, tính cách của con người.
Sau khi các em nắm được tác dụng của biện pháp này, tôi giới thiệu cho các
em cách nhân hóa sự vật.
Trang 20
a. Gọi tên sự vật.
Chúng ta có thể gọi tên sự vật như khi gọi tên người: Cụ trăng, chị gió, bác
mặt trời, anh gà trống, chị Mái Mơ, bác mèo mướp, chị chuối tiêu.
b. Gắn suy nghĩ, tính cách, hoạt động của người vào sự vật.
- Phong lan yểu điệu.
- Chị Mái Mơ hiền lành.
- Những bé gà ngơ ngác.
- Nắng nhảy nhót.
- Trăng tinh nghịch nhòm qua cửa sổ. v.v.
chỉnh, hay. Một bài viết hay là một bài văn được kết hợp hài hòa nhiều yếu tố: Nội
dung, nghệ thuật, cảm xúc. Nhiệm vụ của người giáo viên là làm sao để bài văn của
học sinh cần có tất cả các yếu tố đó. Muốn vậy trong mỗi tiết làm văn ta tập chung
giải quyết 3 nhiệm vụ.
Xây dựng nội dung.
Một bài văn hay, việc đầu tiên nội dung phải được phong phú. Điều này
tương đối khó nên giáo viên cần hướng dẫn kĩ. Khi dạy giáo viên cần lưu ý hệ
thống câu hỏi trong sách giáo khoa vì chương trình tập làm văn được soạn theo
trình độ phổ cập. Đích đầu tiên học sinh cần đạt là phải hoàn thiện về bố cục (có đủ
ba phần: mở bài, thân bài, kết bài) ý phong phú có trọng tâm.
Khi đã hoàn thiện về bố cục. Tôi tiếp tục chú ý đến nội dung bài văn. Muốn
làm văn phong phú học sinh phải biết cách trả lời câu hỏi. thường mỗi câu hỏi học
sinh phải trả lời bằng một đoạn văn chứ không phải một câu. ví dụ như câu hỏi:
- Thân cây thế nào? (trong bài quan sát cây hoa hồng). Tôi không bằng lòng
với câu trả lời kiểu: “Thân cây khẳng khiu, cành đâm ra mọi phía.” Ở đây, tôi đòi
hỏi ở học sinh sự quan sát tỉ mỉ (màu sắc, độ cao, to, cách bố trí, các cành, cành
non, cành già, gai) và trả lời bằng một đoạn văn.
- Thân cây thâm thấp, màu xanh tươi. Cành cây khẳng khiu đan chéo vào
nhau, vươn ra mọi phía. Đôi ba mầm non mới trồi lên mập mạp đầy sức sống. Rải
rác trên cành là những chú gai nhọn hoắt đứng nghiêm trang như những chú lính
gác cho nàng công chúa hoa hồng.
Trang 22
Rèn luyện thói quen quan sát nhiều góc cạnh của sự vật sẽ giúp học sinh có
được những bài văn hay, nhiều ý. Tuy nhiên không thể dàn trải mênh mông mà bài
văn phải có trọng tâm. Học sinh biết lựa chọn chi tiết nổi bật để viết. Ví dụ bài: Tả
cây hoa hồng. Học sinh phải tả kĩ. Nhìn bao quát cây, tổng thể hoa trên cây, nhìn
chi tiết từng bông: Bông nở to, bông chúm chím, nụ. Phát hiện vẻ đẹp riêng của
từng câu của bài văn. Đối với học sinh nhỏ thì điều này thật là trừu tượng.
Bởi vậy, giáo viên nên gợi ý cụ thể như sau:
- Hoa hồng đẹp đến khó tả được. Khi ngắm nhìn hoa em cảm thấy như thế
nào? (hoa đẹp lộng lẫy, say đắm lòng người).
- Hương chuối chín thơm lừng gợi cho em cảm giác như thế nào? (thèm,
muốn ăn)
- Được ăn trái ngon em có suy nghĩ gì về người trồng? (biết ơn)
Tương tự như vậy ta cần bắt học sinh đưa ra những suy nghĩ, nhận xét cảm
xúc của mình trước một vật, sự việc. Bài văn sẽ không đơn giản là sự liệt kê. Nó
thấm đẫm các suy nghĩ, cảm xúc của người viết.
Kết hợp được ba yếu tố trên: Nội dung, nghệ thuật, cảm xúc thì bài văn của
học sinh cũng đạt tới một thành công lớn.
4. Kết quả đề tài:
Qua quá trình giảng dạy, nhờ sự kiên trì bền bỉ áp dụng những biện pháp rèn
kĩ năng làm tập làm văn như đã nêu ở trên. Tôi đã tiến hành khảo sát, lấy riêng
phần Tập làm văn ở hai thời điểm đầu năm học và cuối học kì I với thang điểm là
điểm 5. Để có được thang điểm 10, tôi lấy thang điểm 5 đó nhân với 2 và có số liệu
như sau:
Thời điểm
TS
Đầu năm
Cuối HKI
21
21
Điểm 1-2
TS
Qua kết quả khảo sát, tôi nhận thấy từ khi áp dụng “Kinh nghiệm giúp học
sinh học tốt phân môn Tập làm văn lớp 4A” học sinh học có tiến bộ hơn, số lượng
học sinh ở các điểm 1 – 2; 3 – 4; 5 – 6 đều giảm và có khá nhiều học sinh đạt các
Trang 24
điểm 7 – 8; 9 - 10. Tôi thấy phấn khởi hơn khi nhìn thấy trong các tiết Tập làm văn
học sinh say mê học, lớp học sôi nổi, kỹ năng làm văn được nâng cao rõ rệt. Có
nhiều em đầu năm học không biết đặt câu, không biết dùng từ để diễn đạt, không
viết được bài văn gãy gọn, mạch lạc. Nay viết được câu văn tương đối hay, giàu
hình ảnh, ý phong phú hơn, tự tin hơn, đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo
dục và Đào tạo quy định. Làm nền tảng vững vàng cho các em học phân môn Tập
làm văn ở lớp 5. Tuy kết quả chưa được mỹ mãn, như ý còn hai học sinh chưa hoàn
thành nhưng đó cũng là thành công trong bước đầu nghiên cứu, mày mò tìm ra biện
pháp rèn kĩ năng viết tập làm văn cho học sinh của lớp mình.
5. Phạm vi áp dụng:
Đề tài đã được áp dụng ở lớp 4A Trường Tiểu học Phước Ninh B năm học
2014 – 2015 với kết quả khả quan, có thể vận dụng cho cả khối 4 và khối 5 của
trường.
Trang 25