1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Báo chí cách mạng Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước, góp phần nâng cao nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân, thúc đẩy phong trào hành động cách mạng, đưa sự nghiệp cách
mạng của Đảng và dân tộc đến thắng lợi. Hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang
thực hiện sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
đất nước, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế theo định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN). Đây là sự nghiệp cách mạng vĩ đại, nhưng đầy khó khăn, thử
thách. Trong sự nghiệp đó, Đảng cần phát huy vai trò của báo chí để báo chí
tham gia, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao tính tự giác cách
mạng của các tầng lớp nhân dân, tranh thủ thời cơ, khắc phục các nguy cơ,
thật sự xứng đáng là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và diễn đàn của nhân dân.
Báo chí nước ta hiện nay đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Báo chí phải không ngừng
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động; bảo đảm tính tư tưởng, tính chân
thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí, góp
phần tích cực vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình
hình mới. Để đáp ứng yêu cầu đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm khóa
X “về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” yêu cầu phải
đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước đối với hoạt động báo chí.
Báo điện tử là loại hình báo chí mới, truyền tải thông tin trên các trang
thông tin điện tử. Báo điện tử ra đời từ sự kết hợp của ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông. Báo điện tử có tác dụng và tiện ích hơn hẳn các loại
hình báo chí truyền thống, với dung lượng thông tin rất lớn, tương tác thông tin
nhanh, phát hành không bị trở ngại về không gian, thời gian, biên giới quốc gia.
Đặc điểm nội bật nhất của báo điện tử là thông tin luôn được cập nhật và độc giả
phát triển của báo chí, nhất là với báo điện tử. Thiếu sự phối hợp chặt chẽ,
đồng bộ giữa các cơ quan liên quan trong chỉ đạo, quản lý về lĩnh vực này.
3
Xuất phát từ tình hình nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo báo điện tử trong giai đoạn hiện nay”, làm rõ thêm
những vấn đề lý luận và thực tiễn để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
hệ thống báo điện tử ở nước ta, thúc đẩy phát triển và phát huy mạnh mẽ vai
trò, tác dụng của loại hình báo chí tiện ích này có tính cấp thiết cả về lý luận và
thực tiễn.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của
Đảng đối với báo điện tử ở Việt Nam, luận án đề xuất các giải pháp khả thi
nhằm góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo điện tử ở Việt
Nam đáp ứng yêu cầu công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- Làm rõ vai trò, đặc điểm của báo điện tử và những vấn đề lý luận liên
quan đến sự lãnh đạo của Đảng đối với báo điện tử ở Việt Nam.
- Đánh giá đúng thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với báo điện tử ở
Việt Nam, xác định rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với báo điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của Đảng đối với báo
điện tử ở Việt Nam.
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo điện tử ở Việt Nam.
- Rút ra 5 bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp có tính khả
thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo điện tử ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu các cấp ủy, tổ chức
đảng tham khảo trong lãnh đạo báo điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả sự
5
lãnh đạo và xây dựng báo điện tử ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ.
- Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy và xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước ở Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài,
kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương, 6 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.1.1. Đề tài khoa học và sách
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
và các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối
ngoại của một số cơ quan thông tấn, báo chí chủ lực thời gian tới, nhất là giai
đoạn từ nay đến năm 2020: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của
Nhà nước đối với các cơ quan thông tấn, báo chí chủ lực; mở rộng và nâng
cao hiệu quả sự phối hợp hoạt động thông tin đối ngoại của các cơ quan thông
tấn, báo chí chủ lực; đa dạng hóa nội dung, hình thức hoạt động của các cơ
quan thông tấn, báo chí chủ lực; đổi mới cơ chế thông tin, bảo đảm tính nhanh
nhạy, tính sắc bén, tính thuyết phục trong hoạt động thông tin đối ngoại của
các cơ quan thông tấn, báo chí chủ lực; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,
nhanh chóng áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin;
nâng cao bản lĩnh chính trị, chất lượng chuyên môn của cán bộ, phóng viên.
- Sách “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị khóa
VIII về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản”
do Ban TT-VH Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin, Hội Nhà báo (HNB) Việt
Nam phối hợp phát hành [19] đã khẳng định, báo chí là một bộ phận cấu thành
quan trọng trong toàn bộ công tác tư tưởng - văn hóa (TT-VH) của Đảng; là
một trong những công cụ sắc bén, hiệu quả để xây dựng, bồi đắp nền tảng tư
tưởng chính trị của Đảng; tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, cổ vũ, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, là chiếc cầu hữu nghị để Việt Nam mở
rộng giao lưu, hội nhập với thế giới.
Cuốn sách cũng nêu, để nâng cao hiệu quả lãnh đạo đối với báo chí,
Đảng phải không ngừng đổi mới tư duy, phong cách, phương thức lãnh đạo
đối với công tác báo chí. Đảng lãnh đạo báo chí bằng việc đề ra nghị quyết,
8
chỉ thị, định hướng quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống báo chí và định
nước, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân; báo chí luôn cần có sự
lãnh đạo của Đảng, tăng cường công tác xây dựng Đảng và nâng cao vai trò
lãnh đạo của tổ chức đảng, ý thức trách nhiệm của đảng viên trong các cơ quan
báo chí. Các cấp ủy đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng và lãnh đạo các cơ quan
báo chí chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan báo chí hoạt động theo
đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, tuân thủ nghiêm các quy định
pháp luật của Nhà nước. Cuốn sách nêu một số yếu kém, khuyết điểm và
nguyên nhân dẫn đến yếu kém, khuyết điểm của một số cơ quan báo chí, như
thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hóa của báo chí
cách mạng, thậm chí có biểu hiện xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
Nhà nước; xa rời tôn chỉ, mục đích; thông tin không trung thực, suy diễn chủ
quan, áp đặt vô lối, sa đà vào những tiêu cực, yếu kém, mặt trái xã hội mà xem
nhẹ việc phát hiện, biểu dương nhân tố mới, điển hình tiên tiến; khuynh hướng
tư nhân hóa báo chí, tư nhân núp bóng Nhà nước để ra báo; một số báo có vị trí
quan trọng, nhưng chậm đổi mới và chưa đủ sức làm chủ, chi phối thông tin.
Đồng thời, cuốn sách đề ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu có tính
trước mắt và lâu dài nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà
nước đối với báo chí.
- Sách “Báo chí và dư luận xã hội” do PGS, TS Nguyễn Văn Dững chủ
biên [53] đã đề cập đến tính chất tương tác, đa phương tiện của báo điện tử,
loại hình báo chí gắn với nhóm công chúng - đối tượng trẻ và giới trí thức cũng như những người có trình độ văn hóa cao, nhóm cư dân mạng. Những đặc
điểm của báo điện tử đã và đang đặt ra cho nhà báo - chủ thể hoạt động báo chí
- nhiều yêu cầu không chỉ về nhận thức, quan điểm và thái độ hành nghề, mà
còn về phong cách sống, phong cách tác nghiệp và tích hợp đa kỹ năng cũng
như tính trung thực, trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp. Mặt khác,
sách nêu vai trò của báo chí trong việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động
tới công chúng. Cuốn sách cũng nêu các đặc điểm nhận diện báo chí hiện đại;
chức năng TT-VH, xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ.
11
Tác giả cuốn sách cũng nêu hạn chế của báo điện tử và mạng xã hội ở
Việt Nam: thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hóa,
xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ. Cùng với những báo, tạp chí điện
tử đã được cấp phép đúng luật, xuất hiện nhiều trang điện tử (Website) không
phải là cơ quan báo chí, nhưng hoạt động và đăng tải thông tin như một cơ
quan báo chí, vi phạm Luật Báo chí và các quy định pháp luật khác... Từ thực
trạng báo chí Việt Nam, tác giả nêu một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm tăng
cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với báo chí.
Các tác giả nhấn mạnh công tác chỉ đạo, quản lý báo chí, nhất là báo chí điện
tử, trang tin điện tử và mạng xã hội trên internet, thúc đẩy đầu tư hạ tầng dịch
vụ công nghệ thông tin, tạo ra những đơn vị tiên phong đủ mạnh để cạnh tranh
chiếm lĩnh thị trường.
Từ thực trạng báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng, tác giả nêu một
số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý
của Đảng, Nhà nước đối với báo chí trong tình hình mới.
1.1.2. Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
- Luận án “Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong thời kỳ đổi
mới”, của Nguyễn Vũ Tiến [122] đã nêu về mặt lý luận, tác giả đã làm sáng
tỏ các quan niệm báo chí, quản lý báo chí, sự lãnh đạo, vị trí tầm quan trọng
của công tác quản lý báo chí, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng về báo chí Việt Nam. Về thực tiễn, tác giả đã phân
tích, đánh giá thực trạng báo chí và sự lãnh đạo báo chí của Đảng ở Việt Nam,
nêu ra những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những kết quả, hạn chế và rút
ra một số kinh nghiệm, nêu lên những vấn đề đặt ra đối với việc lãnh đạo,
quản lý báo chí trong thời kỳ đổi mới. Từ đó, tác giả nêu phương hướng và đề
tính khả thi để nâng cao tính hấp dẫn của báo đảng trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn “Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Đồng Nai đối với báo chí trong
giai đoạn hiện nay” của Dương Thanh Tân [111] đã làm sáng tỏ khái niệm về
báo chí, sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, vị trí, vai trò, chức năng của báo
chí. Ngoài ra, tác giả đề cập phải làm gì để đổi mới nội dung, phương thức lãnh
đạo báo chí, những tiêu chí để lựa chọn con người làm báo đúng tôn chỉ, mục
đích, đúng quy ước đạo đức nhà báo, công tác quản lý hoạt động báo chí sao cho
13
đúng luật pháp. Tác giả nêu rõ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về báo chí và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo
chí. Trong phần thực tiễn, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo
của Tỉnh ủy Đồng Nai đối với báo chí của tỉnh, nêu lên những kết quả đạt được
và những hạn chế, yếu kém, chỉ ra các nguyên nhân của hạn chế yếu kém, rút ra
một số kinh nghiệm và nêu lên một số vấn đề đặt ra trong quá trình lãnh đạo của
Tỉnh ủy Đồng Nai đối với báo chí. Từ đó, tác giả nêu phương hướng và đề xuất
một số giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Đồng Nai đối với
báo chí trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn “Phản biện xã hội của báo chí góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác tư tưởng” của Nguyễn Văn Minh [92] đã làm
sáng tỏ khái niệm phản biện xã hội của báo chí, công tác tư tưởng; các chức
năng, nhiệm vụ, tính chất phản biện của báo chí. Về thực tiễn, tác giả đã phân
tích, đánh giá thực trạng phản biện xã hội của báo chí ở nước ta hiện nay,
những kết quả đạt được và các hạn chế, yếu kém, chỉ ra những nguyên nhân
của kết quả, nguyên nhân của hạn chế, yếu kém và rút ra một số kinh nghiệm
trong thực hiện phản biện xã hội báo chí hiện nay, từ đó tác giả nêu phương
hướng và các pháp giải pháp nhằm cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của
phản biện báo chí đối với xã hội.
làm sáng tỏ khái niệm báo chí, quản lý nhà nước về báo chí, vấn đề lý luận và
thực tiễn của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí; quan
niệm về quản lý nhà nước đối với báo chí và vị trí, vai trò và đặc điểm của
quản lý nhà nước đối với báo chí. Trong phần thực tiễn, tác giả đã phân tích,
đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở
Việt Nam hiện nay; những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những mặt
còn hạn chế và những vấn đề đang đặt ra đối với báo chí hiện nay. Trên cơ sở
đó, tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay. Nhiệm vụ
hàng đầu là phải thường xuyên rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về báo chí nhằm loại bỏ những quy
định pháp luật bị chồng chéo, mâu thuẫn nhau và lạc hậu, đồng thời ban hành
mới các văn bản pháp luật có chất lượng pháp lý cao có sức sống dài hơn.
15
Đẩy mạnh cải cách bộ máy, cơ chế quản lý, đội ngũ cán bộ công chức để thực
hiện tốt pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí; tăng cường
công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và thanh tra, xử lý nghiêm vi phạm
pháp luật trong hoạt động báo chí.
- Luận văn “Tính chủ động, kịp thời trong công tác chỉ đạo, định hướng
nội dung thông tin báo chí” của Nguyễn Thị Mỹ Linh [82], phần lý luận của
luận văn, tác giả đã làm sáng tỏ các khái niệm lãnh đạo, báo chí, Đảng lãnh đạo
báo chí, quản lý, nhà nước quản lý báo chí. Luận văn đề cập các nội dung Đảng
lãnh đạo báo chí: Đảng định hướng chính trị tư tưởng cho báo chí; Đảng chủ
động, kịp thời cung cấp thông tin và định hướng thông tin cho báo chí, coi đây
là cách tốt nhất để định hướng và thông tin cho toàn Đảng và toàn xã hội; Đảng
lãnh đạo, tổ chức sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí. Ngoài ra, tác giả còn
đề cập đến việc Đảng chỉ đạo, định hướng nội dung thông tin báo chí trên các
quả của báo chí đối với xã hội. Phát triển báo chí cần bảo đảm cả số lượng,
chất lượng nội dung, công nghệ, sự hợp lý về loại hình trong hệ thống, đáp
ứng tốt nhất những yêu cầu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,
giải trí của nhân dân, phục vụ tích cực việc thực hiện đường lối và các chính
sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Báo chí phải tác động tích cực
và có hiệu quả vào việc hình thành bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn, khí phách con
người Việt Nam trong thời kỳ mới, hình thành dư luận xã hội lành mạnh góp
phần cổ vũ sức mạnh toàn dân tộc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng…
- Trương Tấn Sang trong bài viết: Tiếp tục phát triển nền báo chí cách mạng,
góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
[105] đã đánh giá cao vai trò của báo chí, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng
và Nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò của báo chí, coi trọng đội ngũ cán bộ báo
chí, quan tâm tới công tác lãnh đạo, quản lý báo chí để báo chí đóng góp tích cực
vào sự nghiệp cách mạng của đất nước. Báo chí đã hoạt động đúng định hướng
chính trị, đúng pháp luật, thực hiện tốt chức năng vừa là cơ quan ngôn luận của
Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các đoàn thể
quần chúng, vừa là diễn đàn của nhân dân. Báo chí đã tích cực tuyên truyền chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng
17
chính đáng của nhân dân đến với Đảng, Nhà nước; góp phần tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu lý luận, cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, biểu
dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt; tham gia tích
cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, chống “diễn biến hòa bình”,
góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao
lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Tác giả chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của báo chí, đồng thời nêu
theo thị hiếu tầm thường, đưa tin và viết bài theo kiểu giật gân, câu khách, thiếu
trung thực, làm ảnh hưởng chung đến uy tín của báo chí nước ta. Qua đó, tác
giả nêu ra một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của báo chí, để
báo chí nước ta sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ để làm tốt sứ mệnh cao cả là tiếng
nói của Ðảng, Nhà nước, đồng thời là diễn đàn của nhân dân, đóng góp ngày
càng xứng đáng vào sự nghiệp vẻ vang của Ðảng và dân tộc.
- Nguyễn Công Dũng trong bài viết: “Vì sao cần tăng cường quản lý
báo điện tử?” [49] đã nêu tầm quan trọng của báo điện tử hiện nay, việc cung
cấp nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, thông tin nhanh, nhạy của báo
điện tử, thực trạng công tác quản lý báo điện tử hiện nay. Sự phát triển của
loại hình báo điện tử, trang tin điện tử ở Việt Nam đã góp phần đa dạng hóa
các nguồn thông tin, phương tiện chuyển tải thông tin đến độc giả. Bên cạnh
đó, tác giả nêu một số hạn chế của báo điện tử cần khắc phục: chất lượng
thông tin cả về nội dung và hình thức còn sơ suất, nhiều khi thiếu chính xác,
thiếu khách quan; khuynh hướng “thương mại hóa”, lợi nhuận kinh tế thuần
túy, chạy theo thị hiếu tầm thường, khai thác đời tư cá nhân, những chuyện
giật gân, tiêu cực...; ít chú ý đến việc bồi dưỡng những nét đẹp về nhân cách,
lối sống, phát hiện, cổ vũ, biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt;
buông lỏng tính định hướng dư luận, dẫn dắt quần chúng, làm “nóng” lên
những vấn đề không đáng “nóng”; nhiều báo điện tử hoạt động xa rời tôn chỉ,
mục đích, đối tượng phục vụ, coi nhẹ chức năng chính trị, tư tưởng của báo
chí cách mạng. Từ đó, tác giả chỉ ra những giải pháp nhằm tăng cường sự
quản lý của Nhà nước đối với báo điện tử. Cần quy hoạch, định hướng sự phát
triển của hệ thống báo điện tử; hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp
19
luật để lãnh đạo, quản lý hệ thống báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng,
quản lý chặt chẽ việc đăng ký, cấp phép hoạt động báo điện tử; nâng cao
- TS Nguyễn Thị Trường Giang trong bài viết, “Xu hướng phát triển báo
mạng điện tử ở Việt Nam” [66] đã đề cập đến internet và ưu thế của các loại
hình báo chí truyền thống đã tạo ra bước ngoặt, làm thay đổi cách truyền tin và
tiếp nhận thông tin. Báo mạng điện tử có sự tổng hợp của công nghệ đa phương
tiện, nghĩa là không chỉ văn bản, hình ảnh mà cả âm thanh, video và các
chương trình tương tác khác. Báo mạng điện tử không bị giới hạn bởi khuôn
khổ, số trang, không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý, nên có khả năng
truyền tải thông tin đi khắp toàn cầu với số lượng không giới hạn. Thông tin từ
khi thu nhận đến khi phát hành đều được diễn ra rất nhanh chóng, với những
thao tác hết sức đơn giản nên báo mạng điện tử có thể tức thời và phi định kỳ,
luôn sống 24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần. Báo mạng điện tử chiếm ưu thế tuyệt đối
trong việc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực
tuyến… nhằm tăng mối quan hệ giữa tòa soạn với độc giả, giữa độc giả với
nhau, tạo cơ hội cho độc giả có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan
tâm, yêu thích. Báo mạng điện tử là một thư viện đúng nghĩa, người đọc không
chỉ xem các tin, bài hiện tại, mà còn đọc được những tin, bài trong quá khứ. Bài
viết cung cấp cho người đọc một công cụ tìm kiếm thông tin khoa học và hiệu
quả. Với những ưu thế không thể phủ nhận, báo mạng điện tử đang trở thành
kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn.
Tác giả nhận định, những tờ báo điện tử thuộc cơ quan báo in, đài phát
thanh, đài truyền hình lớn đang dần khẳng định vị thế của mình, có triển vọng
trở thành những tờ báo mạng điện tử hàng đầu Việt Nam.
- ThS Nguyễn Minh Huế trong bài viết: “Nâng cao hiệu quả hoạt động
tương tác trên báo mạng điện tử” [72] đã nêu vị trí, vai trò của báo điện tử
trong điều kiện hiện nay, đồng thời đánh giá hiệu quả hoạt động, làm rõ một
số đặc trưng của báo điện tử hiện nay, các tính năng của báo điện tử, nhất là
tính tương tác. Hoạt động tương tác trên báo điện tử có vai trò quan trọng đối
với mỗi tòa soạn và đối với công chúng. Mặt khác, hiện nay, mỗi tờ báo luôn
dựa trên những thế mạnh riêng để khai thác, tận dụng những hoạt động tương
- ThS Doãn Thị Thuận trong bài viết: “Thực trạng phát triển báo chí
điện tử, mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay” [121] đã nêu thực trạng báo điện tử
22
và mạng xã hội ở nước ta hiện nay, nhất là vai trò của báo điện tử, những tác
động tích cực và tiêu cực trong đời sống xã hội. Thực tiễn phát triển mạnh mẽ
của báo chí điện tử và các loại hình truyền thông mới trên internet trong hơn
một thập niên qua đang đặt ra những vấn đề mới cần giải quyết trong lãnh đạo,
quy hoạch, phát triển, quản lý. Tác giả đề cập đến vấn đề phát triển của báo
điện tử và mạng xã hội hiện nay, nêu ra những vấn đề mới cần giải quyết trong
lãnh đạo, quy hoạch, phát triển, quản lý ở nước ta hiện nay. Các cơ quan chức
năng cần nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng sự phát triển của các loại
hình truyền thông trên internet, đặc biệt là hệ thống báo chí điện tử, trên cơ sở
đó có những giải pháp để chủ động, khai thác, tận dụng triệt để những mặt
mạnh, đồng thời giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của báo chí điện tử, mạng
xã hội, các phương tiện truyền thông trên internet.
1.1.3.2. Các tham luận khoa học trong kỷ yếu hội thảo
- PGS, TS Đinh Văn Hường trong bài viết: “Nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác báo chí truyền thông hiện nay - thực trạng và giải pháp” [73] đã
đề cập thực trạng công tác báo chí truyền thông hiện nay ở Việt Nam, chỉ ra
những khó khăn, thử thách, từ đó đề ra giải pháp khắc phục cho tốt hơn, chất
lượng và hiệu quả hơn của công tác báo chí truyền thông Việt Nam. Tiếp tục
quán triệt và triển khai thực hiện các quan điểm nhất quán của Đảng về báo
chí, Nghị quyết Trung ương năm khóa X về “Công tác tư tưởng, lý luận và
báo chí trước yêu cầu mới”; báo chí phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật; có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và hiệu quả giữa các
cơ quan đảng, nhà nước, hội nhà báo (HNB) và các cơ quan chủ quan. Đặc
biệt, cơ quan chủ quản báo chí phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nhiệm vụ và
tưởng nói chung, báo chí nói riêng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tác giả nêu ra những bài học kinh
nghiệm, đồng thời chỉ ra những nhiệm vụ mà báo chí cần thực hiện trong thời
gian tới: tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương
năm khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; tăng
cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản; thực hiện nghiêm túc
quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, rà soát, kiện toàn, bố trí đúng cán bộ
lãnh đạo và đội ngũ phóng viên báo chí, biên tập viên; các cơ quan chủ quản
24
báo chí phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chịu trách
nhiệm về hoạt động của cơ quan báo chí; thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn
và làm tốt công tác khen thưởng; sớm hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức, nhân sự của
cơ quan quản lý báo chí, xuất bản.
- Đỗ Quý Doãn trong bài viết: “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
quản lý nhà nước thúc đẩy báo chí xuất bản không ngừng phát triển, xứng
đáng là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng” [47] đã
cho rằng vấn đề nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước thúc
đẩy báo chí xuất bản phát triển là góp phần tích cực vào việc nâng cao chất
lượng công tác tư tưởng trong tình hình mới. Tác giả cũng đánh giá, báo điện
tử trên mạng internet đã góp phần quan trọng đưa thông tin Việt Nam ra với
bạn bè quốc tế và giúp bạn bè quốc tế ngày càng hiểu rõ hơn về đất nước, con
người và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam... Tác giả chỉ ra một số hạn chế, yếu
kém của báo chí, xuất bản, từ đó chỉ ra 6 nhiệm vụ cần tập trung thực hiện đối
với công tác quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản trong tình hình mới: tiếp
tục quán triệt và triển khai thực hiện các nội dung của Nghị quyết Trung ương
năm khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; tăng
cường vai trò quản lý nhà nước về báo chí, sớm ban hành các văn bản quy
nước trên thế giới, thể chế chính trị được xây dựng trên cơ sở học thuyết tam
quyền phân lập của Môngtétxkiơ. Quyền lực nhà nước được phân bổ cho hệ
thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp theo nguyên tắc độc lập ngang bằng - chế ước lẫn nhau, nhằm mục đích phòng ngừa lạm dụng quyền
lực. Vì vậy, quyền được biết của công chúng trở thành hạt nhân của triết lý
báo chí tự do và nó định hướng con đường đi cho báo chí trong quan hệ với
hệ thống chính trị.
- A.A. Grabennhicốp trong cuốn sách: Báo chí trong kinh tế thị trường
[67] đã đề cập những đặc trưng của báo chí trong điều kiện thị trường; những
phương diện hoạt động chủ yếu của phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên
trong tòa soạn; cơ cấu, chức năng của tòa soạn; quan hệ giữa ban biên tập và
độc giả - khán, thính giả; quy trình tổ chức in ấn, xuất bản báo; những thể loại
báo chí… Tác giả đề cập báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng
trong việc quản lý xã hội về mặt chính trị - xã hội. HNB có tư cách là người tổ
chức sản xuất thông tin đại chúng. Muốn tồn tại được trong nền kinh tế, báo