Thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp tại xã chiềng en, huyện sông mã, tỉnh sơn la - Pdf 34

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đặc điểm nổi bật của vấn đề nông thôn và nông dân trong hơn mười
năm qua là sự đối diện với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa song hành
với toàn cầu hóa và thị trường hóa. Theo dự tính đến năm 2020 Việt Nam cơ
bản trở thành một nước công nghiệp. Những gì các nước Âu Mỹ vượt qua
trong hàng trăm năm, các nền kinh tế Đông Á đi qua hàng chục năm, thì nay
Việt Nam đang nếm trải gần như cùng một lúc [17].
Đô thị hóa là một đòi hỏi của phát triển. Đô thị hóa không chỉ là sự
thay đổi của cảnh quan bên ngoài, mà là sự thay đổi lối sống, tác động mạnh
đến tâm trạng con người. Vì vậy, vấn đề đô thị hóa xảy ra tự phát theo một
quy luật tất yếu không cưỡng lại được hay là tự giác và chủ động để thuận
theo quy luật ấy một cách thông minh, có tính toán, có “quy hoạch” là điều
đang rất được quan tâm.
Những năm qua ở nước ta, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển
sang công nghiệp và đô thị đã diễn ra rất nhanh, diện tích đất nông nghiệp ngày
càng bị thu hẹp, và có nguy cơ tiếp tục giảm mạnh. Theo phương án quy hoạch sử
dụng đất cả nước đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người
của cả nước sẽ giảm từ 0,113 ha (năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010) và
trong vòng 10 năm, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người đã giảm 50m².
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài
người [7]. Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế
trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy
đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác. Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn
tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang
trở thành vấn đề toàn cầu. Mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây
dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế xã hội, môi trường một cách
bền vững. Để thực hiện mục tiêu trên cần bắt đầu từ việc nâng cao hiệu quả sử
dụng đất trong nông nghiệp toàn diện, như Bùi Huy Đáp đã viết "phải bảo vệ

1

và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với
cuộc sống của con người. Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay
đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày. Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối
đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu
quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu
ha rừng nhiệt đới bị tán phá ở Châu Mỹ La Tinh và Châu á. Cân bằng sinh thái
bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá [23]. Sự thoái hoá đất đai tập
trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Theo kết quả điều tra của UNDP và
trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC), thế giới có khoảng 13,4 tỷ
ha đất thì đã có khoảng 2 tỷ ha đất bị hoang hoá ở các mức độ khác nhau trong
đó Châu á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích bị thoái hoá [11].
Lịch sử của thế giới đã chứng minh bất kỳ nước nào dù là nước phát
triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương
thực quốc gia. Đối với các nước đang phát triển, sản phẩm nông nghiệp và
còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ. Tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước
có thể lựa chọn những nông sản phù hợp để xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao
đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành
khác trong nền kinh tế quốc dân.

4


Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tình
hình hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội về nông sản đang trở thành
một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất
2.1.2. Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Nông nghiệp nhiệt đới được tiến hành ở các vùng trong vành đai nhiệt
đới. Diện tích vùng nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện
tích đất nông nghiệp có ích khoảng 1,4 tỷ ha. Điều kiện khí hậu - đất đai đặc

trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác
sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Chính vì vậy, đất nông nghiệp cần
được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”, phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng vùng [28].
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Nông nghiệp bền vững được phát triển vào những năm 70 của thế kỷ
này nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước không khí bởi hệ thống nông
nghiệp và công nghiệp cùng với sự mất mát của các loài động thực vật, suy
giảm các tài nguyên thiên nhiên không tái sinh. Vấn đề nông nghiệp bền
vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan
tâm [4]. Đi cùng với vấn đề phát triển nông nghiệp là sử dụng đất bền
vững. Thuật ngữ sử dụng đất bền vững được dựa trên 5 quan điểm sau:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất;
- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất;
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước;
- Có hiệu quả lâu bền và được xã hội chấp nhận [22].
Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững. Nếu
sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất được bảo vệ cho phát
triển nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài. Một
trong những cơ sở quan trọng nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập
được các hệ thống sử dụng đất hợp lý. Altieri và Susanna B.H.1990 cho rằng
nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi
thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại
6


của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro… Quan điểm đa canh và đa dạng
hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được Ngân hàng thế giới
đặc biệt khuyến khích đối với các nước nghèo [44].

tiền. Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong
quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất. Riêng đối với ngành
nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng
lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là
sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý
nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định
về kinh tế - xã hội đất nước [3].
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện
pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi
thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những
hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền
kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [3].
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ
cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu
hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp
mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản
xuất nông nghiệp [40].
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử
dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó
mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã
hội và hiệu quả môi trường.
2.2.1.1. Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động
theo các ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì
“Hiệu quả là không lãng phí”. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau,
Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm
8



10


Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt
nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử
dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
2.2.2. Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.2.1. Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem
xét ở các mặt [28];
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu
vào kinh tế. Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên
phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể
(thường là 1 ha), tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động.
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân
canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức
luân canh.
- Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác
động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài. Vì thế, cần
phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên
cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất.
- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết
làm cho môi trường cùng phát triển. Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp
đến môi trường xung quanh.
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Vì vậy,
khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác
động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết
việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…

+ K: Kết quả
+ C: Chi phí
+ 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
12


* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất
thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu
vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí
trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
GTGT = GTSX - CPTG
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,
GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử
dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có
(GTSX/LĐ, GTGT/LĐ). Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống
cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí
cơ hội của người lao động.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau [15]:
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường

lý nhằm tận dụng những điều kiện thuận lợi của tự nhiên đồng thời tránh được
những thiệt hại mà thiên tai gây ra.
Cây trồng khác nhau yêu cầu về cường độ ánh sáng cũng khác nhau,
trong quá trình sống của cây trồng hàng năm cường độ ánh sáng tới ảnh
hưởng có quan hệ thuận với năng suất cây trồng ở giai đoạn cuối khoảng 45 60 ngày trước khi thu hoạch cây trồng.
Cây trồng sống trong điều kiện nhiệt độ khác nhau đã thích nghi với
14


nhiệt độ khác nhau.
Nước là yếu tố sinh trưởng quan trọng của cây trồng, nước vừa tham
gia cấu trúc nên cơ thể thực vật vừa quyết định các biến đổi sinh hoá và các
hoạt động sinh lý trong cây cũng như quá trình sinh trưởng, phát triển của cây
cho nên nước được xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất quyết định năng
suất cây trồng.
- Đất (loại đất, địa hình, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, chua mặn,...): Có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, các yếu tố của
đất đai là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối, do vậy cần đánh giá đúng
điều kiện đất đai để trên cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp, tuỳ theo vị
trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng của từng vụ thích hợp trên
từng loại đất mới cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao, bố trí sản xuất hợp
lý, thực hiện đa dạng hoá sản xuất và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
2.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức
- Cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố có vị trí quan trọng ảnh hưởng lớn
đến cây trồng, bởi muốn phát triển hệ thống cây trồng phải có những điều
kiện chủ yếu như các công trình thuỷ lợi, các công trình phúc lợi,...
- Vốn cũng là một nhân tố quyết định đến cây trồng, hộ nông dân muốn
có các loại giống mới có giá trị kinh tế cao đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn.
Trong sản xuất nông nghiệp, nông hộ phải quyết định tất cả các khâu sản xuất
và làm nảy sinh hàng loạt khó khăn, đa số nông hộ đều thiếu vốn cho sản xuất
nông nghiệp, vì vậy chi phí về vật tư cho sản xuất thường là không đủ và

việc làm cho người dân.
2.4.2. Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong tương lai
Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương
thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt
tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu.
Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa
trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương
hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
+ Tập trung sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành, nhóm sản
16


phẩm [8], dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước,
thế giới và khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng [39].
+ Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế,
xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định
cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản
hàng hoá [8].
+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành
chăn nuôi, nhóm cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực. Giảm tỷ
trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50% [8], tăng quỹ đất nông nghiệp
bình quân trên một lao động nông nghiệp [39]. Đồng thời đẩy mạnh công
nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp.
Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông
nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn.
+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn
của công nghiệp hoá [8]. Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, tăng
sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị
trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển đất nông

ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác nhau, thực chất đây là vấn đề có
liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mục tiêu đặt ra là sử dụng tối đa
và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất của quốc gia, nhằm phục vụ phát triển nền
kinh tế quốc dân và phát triển xã hội. Việc sử dụng đất dựa trên nguyên tắc là
ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp.
Ngoài những tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên như: khí hậu,
thuỷ văn, thảm thực vật và quy luật sinh thái tự nhiên, đất đai còn chịu ảnh
hưởng của yếu tố con người, các quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ
thuật. Đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là
yếu tố quyết định chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai, còn phương hướng sử
dụng đất đai được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong
từng thời kỳ nhất định.
Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử dụng đất
của người dân còn hạn chế đã dẫn tới nhiều diện tích đất đai đang bị thoái
hoá, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người. Diện tích đất đai
18


thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người
phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp và
hậu quả đã gây ra quá trình thoái hoá, rửa trôi và phá hoại đất một cách
nghiêm trọng.
Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho
sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người. Chính vì vậy việc nghiên cứu
và đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà
khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm. Thuật ngữ “sử dụng đất bền
vững” (Sustainable Land Use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay.
Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay có nhiều cách hiểu
khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí với nhận định của
FAO, 1992 [42]: “Phát triển bền vững là sự quản lý, bảo vệ cơ sở của nguồn

thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt
xã hội. FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương
lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác.
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm
việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp.
- Duy trì và chỗ nào có thể thì tăng cường khả năng sản xuất của các cơ
sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên
tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở cân
bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng sống
ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường.
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng
tin trong nông dân.
Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ
bản là duy trì độ phì nhiêu của đất được lâu bền. Độ phì nhiêu đất là tổng hoà
của nhiều yếu tố vật lý, hoá học và sinh vật học để tạo ra môi trường sống
thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển.
2.4.3.2. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất gắn với các mục đích kinh tế, xã hội và môi trường là vấn
20


đề hiện đang được nhiều nước và người sử dụng đất quan tâm. Trong thời kỳ
cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, việc sử dụng đất luân hướng tới mục
tiêu kinh tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên mọi đơn vị diện tích đất nhất
định (xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, chuồng trại chăn nuôi quy
mô lớn...). Bên cạnh đó, một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để
phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của
con người (xây dựng nhà cửa, hệ thống giao thông, các công trình dịch vụ thể
thao, văn hóa xã hội, mở mang phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn...) .

mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn
hơn có lúc trùng nhau và có lúc không trùng nhau.
Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất của mình luôn đặt ra mục tiêu
làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, nếu thấy việc đó không có lợi họ
có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác
không có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho người nông dân khác, những
người mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có
thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình kể cả việc bán đất sét cho nhà
máy gạch, bán cát dưới dạng vật liệu xây dựng hoặc sử dụng đất làm khu vui
chơi giải trí cho khách du lịch...
Trong khi đó cộng đồng (xã, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mối
quan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất, trước hết đó là đảm bảo các mục
tiêu kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toàn lương
thực; có đất để mở mang đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu
cụm công nghiệp, bảo vệ môi trường và các khu vui chơi giải trí...
Như vậy các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ
thể mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng.
Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế được xem là hợp lý không có nghĩa
là thoả mãn được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất và toàn thể cộng
đồng mà là quá trình xem xét cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích
của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể. Trong vấn đề này bao
giờ cũng đặt ưu tiên cho việc sử dụng đất lâu dài và mối quan tâm chung của
toàn thể cộng đồng.
* Sử dụng đất với mục tiêu xã hội
Sử dụng đất trước tiên liên quan đến những người sống trên mảnh đất
22


đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xã hội rõ rệt
của bất cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có

NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và
thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất. Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là
quỹ đất nông nghiệp và một số yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất
nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng En, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu là xã Chiềng En Huyện
Sông Mã tỉnh Sơn la
+ Giới hạn về thời gian: Các số liệu thống kê được lấy từ năm 2005 –
2011. Số liệu giá cả vật tư và nông sản phẩm hàng hoá điều tra vào thời điểm
năm 2011.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có liên quan
đến đất đai
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết,
thuỷ văn,…
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: dân số và lao động, trình độ dân trí,
cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, thực trạng sản xuất nông nghiệp của xã, thị
trường tiêu thụ nông sản phẩm,... Từ đó rút ra những thuận lợi và hạn chế
trong sản xuất nông nghiệp.
- Đánh giá chung.
3.2.2. Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã
- Nghiên cứu hiện trạng các kiểu sử dụng đất.
- Diện tích và sự phân bố diện tích đất nông nghiệp.
- Mức độ biến động diện tích các kiểu sử dụng đất trong xã.
24



việc pháp triển ngành chăn nuôi, trồng cây lâu năm, các loại cây khác. Có độ
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status