Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
PHẦN I . MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Mục đích của việc dạy học ở trường tiểu học là cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ bản và toàn thể về tự nhiên và xã hội để trẻ tiếp
tục ở cấp II, đồng thời chuẩn bò cho trẻ những kiến thức, kỹ năng cần
thiết cho công việc lao động của trẻ sau này.
Trong các môn học, môn toán đóng một vai trò quan trọng. Môn
toán cung cấp những kiến thức cơ bản về số, những phép tính, đại lượng
và khái niệm cơ bản về hình học. Bên cạnh đó môn toán còn giúp cho
học sinh suy nghó để xác đònh mối quan hệ giữa các đại lượng và làm
quen với những yếu tố đại số. Môn toán ở tiểu học là một môn học thống
nhất không chia thành các phân môn khác nhau. Như vậy môn toán góp
phần vào việc phát triển tư duy khả năng suy luận, trao đổi trí nhớ, kích
thích học sinh tìm hiểu, khám phá và góp phần hình thành nhân cách trẻ
ngay từ ở tiểu học.
Giải toán có lời văn là một những vấn đề cần được coi trọng, vì nó
được coi là hoạt động nhằm mục đích : giúp học sinh biết cách vận dụng
những kiến thức về toán, được rèn luyện kỹ năng thực hành với những
yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc dạy học
giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư
duy, rèn luyện phương pháp suy luận . Giải toán là một hoạt động bao
gồm những thao tác : xác lập được mối liên hệ giữa các dữ kiện, giữa cái
đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán mà thiết lập được các
phép tính số học tương ứng: chọn được phép tính thích hợp trả lời đúng
câu hỏi của bài toán. Để tiến hành được điều đó, giáo viên cần phải xác
đònh cho được 3 mức độ sau để hướng dẫn học sinh :
-Mức độ thứ nhất : Hoạt động chuẩn bò cho việc giải toán.
-Mức độ thứ hai : Hoạt động làm quen với việc giải toán.
dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở toán lớp 5 “
II . Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu chương trình môn toán – sách giáo khoa mới
- Tìm hiểu lý luận dạy học tích cực
- Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy học các về toán chuyển
động đều ở toán lớp 5
- Thực nghiệm đề xuất ý kiến một số ý kiến, giải pháp để thực hiện
tốt hơn khi áp dụng dạy học tích cực vào vào dạy học về Toán chuyển
động đều .
III/. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu: đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đến vấn
đề dạy học tích cực.
- Điều tra thực trạng việc dạy và học của giáo viên và học sinh khi
dạy về toán chuyển động đều (thông qua dự giờ).
- Thực nghiệm, rút kinh nghiệm.
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
2
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
PHẦN II . NỘI DUNG
CHƯƠNG I
DẠY HỌC TÍCH CỰC LÀ GÌ ?
I/-Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
3
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
-Lớp học là cộng đồng của chủ thể, là thực tiễn của xã hội ngày
nay và mai sau, lớp học được tổ chức nhằm giáo dục làm môi trường
trung gian giữa thầy và trò.
Hành động giáo dục diễn ra trong môi trường xã hội lớp học không
thể nào là hành động cá nhân thuần túy mà phải là một hành động hợp
tác.
-Lớp học là nơi giao tiếp thường xuyên giữa trò với trò, giữa trò với
thầy phải bố trí lại không gian cho phù hợp theo nhóm không gian hình
tròn hoặc chữ U để biểu tượng cho vai trò cụ thể, trung tâm của người học
và mối quan hệ giữa thấy – trò mới.
Trong quá trình tự lực kham phá tri thức, người học có thể tự ra sản
phẩm giáo dục ban đầu (gồm tri thức mới và phương pháp hành động mới
), song sản phẩm đó có thể chưa mang tính khách quan khoa học nay đủ.
Thông qua việc trình bày bảo vệ sản phẩm của mình ở tập thể lớp học,
trao đổi tranh luận với các bạn, kiến thức khách quan của người học mới
giảm bớt phần chủ quan phiến diện tăng thêm tính khách quan khoa học.
Học bạn, biết cách học bạn, hợp tác với bạn trong các hoạt động học tập
người học mới có thể nâng mình lên trình độ mới “Học thầy không tày
học bạn”
Tuy vậy, cả cá nhân và cộng đồng các chủ thể lớp học có thể gặp
trường “suy nghó tức là hành động”, nhà triết học Kant (Đức) cũng viết
“cách tốt nhất để hiểu là làm”.
Chương trình dạy học phải giúp cho từng cá nhân người học phải
biết hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hoạt động của
cộng đồng.
Từ những năm 70 đến nay đã có đònh hướng lại chức năng giảng
dạy khoa học, từ chỗ học sinh phải biết những gì chuyển sang mục tiêu
nhấn mạnh học sinh có thể làm được những gì, tiến lên một bước cao hơn
là người học sinh sẽ trở thành người như thế nào.
Như vậy mục đích học tập đã phát triển cao hơn từ học để biết đến
học đến học để hành và học để thành người.
Từ những tiền đề trên cho ta thấy phương pháp tích cực, học và
hành, học chữ và học làm người gắn chặt với nhau.
2/-Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Qua sự phân tích về bản chất của phương pháp tích cực ta nhận
thấy dù ở thời điểm nào vai trò của người học luôn tập trung và chú
ý,xem người học là chủ thể của quá trình dạy học.
Hoạt động học tập có thể đạt được hiệu quả nếu học sinh tiến hành
các hoạt động học tập tích cực,chủ động,tự giác với động cơ nhận thức
sâu sắc.Bằng những hoạt động động học tập của học sinh tự hình thành
và phát triển nhân cách của mình mà không ai có thể làm thay được
Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trọng tâm phát triển ở mỗi
học sinh kó năng và năng lực học tập, giải quyết vấn đề, học sinh và giáo
viên cùng nhau giải quyết vấn đề, cùng nhau khảo sát các khía cạnh của
vấn đề đặt ra. Vai trò của giáo viên là tạo ra những tình huống để phát
hiện vấn đề, thu thập tư liệu đề làm sáng tỏa và thử nghiệm giải quyết,
rút ra kết luận.
3/-Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự nghiên cứu
Xã hội càng phát triển khối lượng thông tin, kiến thức càng phong
phú. Đối với mỗi con người việc học tập, tiếp thu kiến thức là quan trọng
sang học tập chủ động, tích cực.
4/. Dạy học giúp học sinh phát triển năng lực tự đánh giá
Việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận đònh thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà qua đó còn có điều kiện
nhận đònh thực trạng và đònh hướng điều chỉnh hoạt động dạy học của
thầy
Hiện nay, trong dạy học đã chú ý rèn luyện phương pháp tự học
cho học sinh, đồng thời giáo viên phải hướng tới rèn luyện cho học sinh
khả năng tự đánh giá để họ có khả năng tự điều chỉnh cách học.
Trong dạy học tích cực, việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng ở
yêu cầu tài liệu kiến thức và lặp lại các kó năng mà phải khuyến khích
sáng tạo phát hiện ra sự chuyển biến về thái độ và xu hướng, hành vi của
người học trước những vãn đề của đời sống, của xã hội, như vậy phải có
phương pháp và kó thuật đánh giá phù hợp.
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
6
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
Người ta có thể dựa vào mục tiêu của từng chương, từng bài cụ thể
để đánh giá và tự đánh giá.
Trong quá trình tự tìm ra kiến thức, người học tạo được sản phẩm
ban đầu. Sản phẩm này mặc dù chưa chính xác, chưa khoa học, sau khi
trao đổi trước lớp được sự góp ý của giáo viên, người học tự đánh giá lại
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
Đònh hướng GQVĐ
Giải quyết VĐ
7
Phân tích VĐ
Mở rộng VĐ
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
Trong phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, giáo
viên là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức triển khai tình huống,
gợi cho học sinh hướng đi, giúp đỡ học sinh thực hiện phương pháp học để
đạt mục đích học tập đã đặt ra; học sinh là người tìm cách học, biết huy
động kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm đã có, bằng nỗ lực của chính
mình, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự chiếm lónh tri thức và sắp xếp
nó vào hệ thống hiện có.
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một đònh hướng xuyên
suốt quá trình học toán từ tiểu học đến trung học phổ thông. Do đặc điểm
tâm lí và nhận thức của học sinh tiểu học trong học tập toán , vấn đề được
hướng tới thường đơn giản, việc phát hiện và giải quyết vấn đề dựa vào
trực quan (nhất là trực quan tượng trưng), không cần một quá trình suy
luận dài.
lớp 5
một cách hợp lý để giờ học đạt hiệu quả tốt không bò nhàm chán, đơn
điệu.
2/.Tổ chức dạy học nhóm
Trong dạy học nói chung và môn Toán nói riêng ba hình thức dạy
học: dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm và dạy học theo lớp, thường
được phối hợp chặt chẽ với nhau. Có thể nói giáo viên đã nắm khá vững
cách tổ chức dạy học theo lớp do đó sau đây chỉ trao đổi thêm về hình
thức tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm.
Học tập nhóm là một phương pháp học tập mà theo phương pháp
đó học sinh trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và hợp tác với nhau trong học
tập. Học sinh trao đổi ý tưởng và nguồn kiến thức với các thành viên
trong nhóm. Những học sinh có khả năng cao hơn giúp đỡ học sinh có khả
năng yếu hơn trong học tập. Các thành viên của nhóm tham gia tích cực
và hợp tác với nhau để lónh hội những kỹ năng mới. Trong không khí học
tập nhóm, người học không chỉ có trách nhiệm với các việc học của mình
mà còn có trách nhiệm với việc học của bạn khác.
Học theo nhóm sẽ tạo bầu không khí hợp tác học tập : học tập có tổ
chức, có trách nhiệm giữa các thành viên trong một nhóm học sinh. Khi
học theo nhóm, mỗi học sinh phải phát biểu ý kiến riêng của mình, phải
thực hiện nhiệm vụ cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ chung của cả nhóm.
Tùy nội dung bài học và số lượng đồ dùng dạy học chuẩn bò được,
giáo viên quyết đònh số học sinh ở mỗi nhóm là 2, 3 hay 4, 5 em. Có thể
chia nhóm theo trình độ học sinh hoặc theo hoạt động. Cần cử một nhóm
trưởng và có thể một thư ký trong trường học cần thiết khi nhóm làm
việc. Nên cho học sinh luân phiên nhóm trưởng và thư ký để em nào cũng
có cơ hội tập điều hành công việc trong nhóm.
Điều quan trọng khi tổ chức học nhóm là nhiệm vụ được giao cho
mỗi nhóm phải thật rõ ràng. Nhiệm vụ đó đòi hỏi học sinh phải thực
hóa về mức độ khó dễ của nội dung bài học, bài tập cho từng đối tượng.
Thường chia làm 4 nhóm : nhóm gồm các học sinh giỏi, nhóm gồm các
học sinh khá, nhóm gồm các học sinh trung bình, nhóm gồm các học sinh
yếu. Nếu sự chênh lệch giữa các nhóm về trình độ học tập quá cao chẳng
hạn có sự khác biệt về trình độ giữa các lớp này với lớp khác, khi đó sự
chia nhóm này trở thành sự chia nhóm trong một lớp ghép.
+ Chia nhóm gồm đủ trình độ: cách chia này thông thường được sử
dụng khi nội dung hoạt động hỗ trợ lẫn nhau chẳng hạn khi tổ chức thực
hành ngoài lớp học, ôn tập hoặc giải bài toán khó.
Hình thức tổ chức dạy học theo nhóm tuy không phải là biện pháp
duy nhất để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập. Tuy nhiên
so với các hình thức dạy học trước đây thì việc tổ chức dạy học theo
nhóm sẽ gây hứng thú cho học sinh suy nghó gợi lên sự tìm tòi thích thú
trong học tập.
Mặt khác để sử dụng tốt hình thức này giáo viên cần phải biết lựa
chọn cách tổ chức phù hợp với nội dung từng bài cụ thể. Bên cạnh đó
việc tổ chức học nhóm cũng phải phối hợp chặt chẽ với các hình thức học
tập khác để tiết học thêm phong phú sinh động.
Khi tiến hành dạy toán dưới các hình thức tổ chức dạy học nào đều
cần có phương tiện hỗ trợ. Phiếu học tập là một trong các phương tiện đó.
Phải nói rằng dạy học toán bằng các phiếu học tập chỉ là một trong các
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
10
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
toán là hết sức cần thiết, rèn luyện tư duy trừu tượng cho học sinh dựa
trên những biểu tượng cụ thể để hình thành kiến thức. Đồ dùng dạy học
toán phải sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách. Đúng chỗ ở đây hiểu là
phải biết sử dụng đồ dùng nào là dạy học kiến thức nào. Chẳng hạn, khi
cần thì sử dụng, khi không cần thì không sử dụng. Ví dụ trong quá trình
dạy học về bảng cộng thì lúc đầu cần sử dụng các que tính để lập bảng,
nhưng dần dần phải buộc học sinh đọc được kết quả phép cộng mà không
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
11
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
cần que tính. Trong quá trình giảng dạy giáo viên không nên lạm dụng
việc sử dụng đồ dùng dạy học mà cũng làm hạn chế kết quả dạy học
không kém gì dạy “chay”.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học đúng lúc, đúng chỗ sẽ tăng thêm
hiệu quả của tiết dạy, học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức mà giáo
viên đỡ phải tốn thời gian để giảng lại nhiều lần. Mặt khác thông quan
việc sử dụng đồ dùng dạy học có thể đánh giá được giáo viên có vững về
kiến thức của tiết dạy không.
Khi tiến hành dạy một bài hay một nội dung nào đó, việc áp dụng
nhiều hình thức dạy học là rất cần thiết. Trò chơi toán học là trò chơi
trong đó có chứa một yếu tố toán học nào đó. Thực tế cũng cho thấy hình
thức tổ chức trò chơi toán học để được học sinh hưởng ứng và tích cực
tham gia. Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi toán học
lớp 5
Đối với môn Toán, hoạt động chủ yếu của HS trong giờ học có thể
là: hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lý thuyết , nhưng trong giờ
dạy theo đònh hương đổi mới , chúng ta cần tăng cường hoạt động giao
tiếp .
Các hoạt động này được tổ chức theo các hình thức khác nhau
- Làm việc độc lập. (trường hợp các câu hỏi, bài tập đã cụ thể)
- Làm việc theo nhóm. (trường hợp các câu hỏi, bài tập trừu tượng,
đòi hỏi một sự khái quát nhất đònh; nếu làm việc chung theo lớp sẽ có ít
HS hoạt động)
- Làm việc theo lớp ( trường hợp GV giới thiệu bài, củng cố bài ;
những câu hỏi không yêu cầu phải suy nghó lâu ; HS trình bày kết quả
làm việc)
Học sinh <---> Học sinh
+ Trao đổi
+ Giải thích thắc mắc về bài tập, bài học
+ Phân công thực hiện theo lệnh của GV
+ Theo dõi bạn, góp ý
+ Đặt câu hỏi, bổ sung ý kiến
+ Tự đánh giá mình, đánh giá bạn.
Hoạt động của GV trong giờ học theo PPDH mới:
* Giao việc cho HS:
+ Cho HS trình bày yêu cầu của câu hỏi.
+ Cho HS làm bài mẫu một phần.
+ Tóm tắt nhiệm vụ, dặn dò HS (gọn, không dài dòng).
*Kiểm tra HS:
+ Xem HS có làm việc không.
+ Xem HS có hiểu việc phải làm không.
+ Trả lời thắc mắc của HS.
theo hướng tích cực.
Giáo viên đã dạy học tích cực như thông qua hoạt động, hướng dẫn
thực hiện một số vấn đề lấy học sinh làm khâu trung tâm từ khâu xây
dựng bài mới đến khâu luyện tập. Giáo viên nêu vấn đề cho học sinh giải
quyết. Giáo viên cho học sinh tự xác đònh yêu cầu để giải bài tập, đồng
thời chiếm lónh kiến thức được.
Tuy bên cạnh những mặt tốt đó còn có một số hạn chế như sau :
-Sử dụng phương pháp còn đơn điệu, giáo viên chỉ là người thông
báo kiến thức là chủ yếu.
-Ít chú ý đến sự phát triển của học sinh về nhiều mặt như : nhu cầu,
hứng thú, hay các vốn sống kinh nghiệm thực tế của các em.
-Chưa chú ý và thực hiện đến phương pháp học tập, nhất là phương
pháp học tập mạng tính chủ động sáng tạo của học sinh.
-Chưa đặc biệt quan tâm đến phương tiện dạy học như đồ dùng trực
quan, mô hình… vì giáo viên cho rằng các phương tiện phục vụ môn toán
ở trường chưa thật đày đủ. Điều này đã làm tăng khảng cách giữa lí
thuyết với thực hành.
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
14
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
CHƯƠNG II
Nội dung dạy học giải toán chuyển động đều
quen, dễ nhận thức )thì học trước, các đơn vò đo tuy cơ bản nhưng khó
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
15
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
nhận thức hơn (như giấy) thì học sau. Trong một số kiến thức (chẳng hạn
tuần lễ, xem lòch...) hai mặt “thời điểm” và thời gian thường được dạy
xen kẽ. Chẳng hạn, khi dạy về “tuần lễ” , thì vừa dạy “tuần lễ” coi như
một đơn vò thời gian, vừa dạy các ngày trong tuần lễ với tư cách là các
thời điểm. Nhiều kiến thức về thời gian tuy học sinh chưa học nhưng đã
có kó năng sử dụng trong thực tế.
II/.Phương pháp dạy – học phép đo thời gian
Phương pháp dạy – học phép đo thời gian do đặc điểm của phần
này nên phương pháp chung cần được vận dụng và cụ thể hóa một cách
thích hợp. Sau đây là những gợi ý cho những vận dụng đó.
1/.Tận dụng và khai thác vốn sinh sống của học sinh
Trên cơ sở nâng cao và chính xác hóa từng bước nhận thức khi hình
thành khái niệm (khoảng) thời gian. Chẳng hạn từ giữa lớp 2, học sinh đã
được giới thiệu khái niệm “tuần lễ” nhưng khi đó các em đều đã biết
ngày và đem theo nghóa thông dụng. Khi nói tuần lễ có 7 ngày, giáo viên
cần trước hết uốn nắn cách hiểu “ thông dụng” đó để làm cho học sinh có
ý niệm về ngày theo nghóa khoa học và hiểu được tuần lễ có 7 ngày là
khoảng thời gian như thế nào. Nhưng khi nói 7 ngày trong tuần lễ là : chủ
nhật..., thứ bảy cần lưu ý đến thứ tự các tên gọi các ngày mà không phải
quan sát vừa đếm nhòp nhàng đều đặn (theo hiệu lệnh hoặc theo sự
chuyển dòch của kim giây) từ 1 đến 60 hoặc quan sát chuyển động của
kim giây trọn 1 vòng. Khoảng thời gian đó là một phút. Để tiếp tục củng
cố nhận thức về phút, cần nêu ra các thí dụ khác, gần gũi như : tiết học 40
phút, giữa buổi học được nghỉ ra chơi 20 phút, đi từ nhà đến trường mất 5
phút.
Giờ được đưa ra và nhận thức quan hệ với phút, nhận thức về ngày
được chính xác hóa trong quan hệ với giờ...
Việc dạy về đơn vò thời gian cần chú ý dạy cho học sinh các cách
ghi kí hiệu. Trong khoa học, giờ và giây đợc kí hiệu là h và s. Ở tiểu học,
nên giới thiệu kí hiệu thông dụng là giờ và giây, (phút).
Trong bảng đơn vò đo thời gian, cần làm cho học sinh nắm chắc
quan hệ giữa ba đơn vò giờ, phút, giây : 1 giờ = 60 phút, 1 phút = 60 giây
và những ngoại lệ trong quan hệ giữa các đơn vò : 1 ngày = 24 giờ, ngày
với tháng, năm và một số ngoại lệ của chúng.
Qua việc dạy này, lưu ý cho học sinh về tính cộng được của thời
gian và tính xếp các thứ tự của thời điểm.
III/. Các phép tính đối với số đo thời gian
1)-Hệ ghi số đo thời gian
Hệ ghi số đo thời gian không phải là một hệ ghi số đo vò trí, nó có
nhiều quy đònh riêng thể hiện trên bảng đơn vò đo thời gian.
Khi dạy – học các số đo thời gian, cần làm cho học sinh nắm chắc
quy tắc “lập nhóm – chuyển đổi” đối các đơn vò này. Chẳng hạn 60 giây
thì chuyển đổi thành một đơn vò kế cận cao hơn là 1 phút ....
Đối với tháng, năm thì việc lập nhóm–chuyển đổi lại còn có các
quy đònh riêng khác nữa mà giáo viên sẽ làm cho học sinh nhớ và vận
dụng.
2)-Các phép tính đối với số đo thời gian
Ở tiểu học, thường sử dụng các số đo hỗn hợp (dùng nhiều đơn vò
đo). Khi thực hiện phép cộng hay trừ các số đo thời gian, nhân hay chia
phận học sinh chỉ nên là các bài tập ít phức tạp.
Đối với học sinh khá, giỏi, có thể đưa ra thêm một số bài tập dễ,
biểu diễn các số đo thời gian dưới dạng số thập phân đơn giản. Khi dạy
vè chuyển đổi các số đo, cần tiếp tục làm rõ nguyên tắc “lập nhóm –
chuyển đổi” trong hệ ghi số, trong sự so sánh với việc chuyển đổi các số
đo độ dài và diện tích đã học.
IV.Các bài toán về chuyển động thẳng đều
Đó là các bài toán xoay quanh 3 đại lượng chủ yếu : quãng đường,
vận tốc và thời gian, khi biết giá trò của hai đại lượng và tìm giá trò của
đại lượng thứ ba tương ứng.
Ngoài ra còn có các bài toán về hai chuyển động thẳng đều cùng
chiều hay ngược chiều.
1/.Bài toán về tìm vận tốc – quãng đường – thời gian
Khi dạy các bài toán loại này, cần làm cho học sinh nắm được khái
niệm vận tốc, các quy tắc và công thức để áp dụng giải toán :
-Muốn tìm vận tốc, ta lấy quãng đường chia cho thời gian (v = s : t)
-Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian (s= v ×
t)
-muốn tính thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc (t = s : v)
2/.Loại toán về chuyển động ngược chiều và cùng chiều :
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
18
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
đi cùng chiều và bắt đầu đi cùng một lúc (người ở A đi về phía B) vận tốc
của xe đạp là 14km/h, của người đi bộ là 5km/h. Quãng đường từ AB dài
18km. Sau mấy giờ người đi xe đạp đuổi kòp người đi bộ.
Dựa vào sơ đồ
18km
A
B
C
14km/h
5km/h
Giáo viên giúp cho học sinh suy luận
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
19
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
-Khi người đi xe đạp đuổi kòp người đi bộ ở C thì người đi xe đạp đi
được hơn người đi bộ một quãng đường là 18km.
-Vậy để tính được thời gian này, ta phải biết mỗi giờ người đi xe
đạp đi nhanh hơn người đi bộ bao nhiêu kilômét ?
Bài giải
Mỗi giờ người đi xe đạp đi nhanh hơn người đi bộ :
14 – 5 = 9 (km)
Người đi xe đạp đuổi kòp người đi bộ sau :
18 : 9 = 2 (giờ)
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
- Hệ thống hóa và khái quát hóa ở mức độ hoàn chỉnh hơn lớp 4 đối
với các kiến thức về số tự nhiên ( đặc điểm cấu trúc của số tự nhiên , hệ
thập phân các phép tính, tính chất các phép tính và quy tắc tính , bổ sung
kiến thức về dấu hiệu chia hết cho 2 , 5 , 3 , 9 ) nó mở rộng khái niệm số
tự nhiên sang phân số và số thập phân , cách đọc và viết bốn phép tính
trên phân số , số thập phân .
- Bổ sung và hệ thống hóa các bảng đơn vò đo đại lượng thông
thường , trong đó các bảng đơn vò đo thời gian . Bảng đơn vò đo khối
lượng, đo độ dài , đo diện tích , đo thể tích . Các đơn vò đo đại lượng dược
viết dưới dạng số tự nhiên , phân số và số thập phân . Do đó các phép
tính trên số đo đại kượng , về thực chất là đưa về các phép tính trên số tự
nhiên , phân số và số thập phân .
- Tiếp tục sử dụng các biểu thức chữ để khái quát hóa bằng công
thức chữ tất cả các tính chất phép tính . Các quy tắc tính chu vi , diện tích
và thể tích các hình đã học . Giúp học sinh tiếp tục thực hiện giải phương
trình và bất phương trình đơn giản trên phân số và số thập phân .
- Tiếp tục củng cố kỹ năng giải toán và trình bày bài giải càc bài
toán đơn toán hợp với các số tự nhiên , phân số , số thập phân , số đo đại
lượng bổ sung các bài toán về vận tốc , quảng đường , thời gian trong
chuyển động đều
- Giới thiệu những biểu tượng về chu vi và diện tích hình tròn , về
thể tích hình hộp chữ nhật , hình lập phương , hình trụ , giới thiệu quy tắc
tính diện tích và thể tích các hình đã học .
II/.- Yêu cầu về kiến thức – kỹ năng của môn toán lớp 5
- Nắm được khái niệm về phân số và số thập phân biết đọc viết các
1 ngày = 24 giờ
1 năm có 365 ngày
1 giờ = 60 phút
1 năm nhuận có 366ngày
1 phút có 60 giây
-Biết đổi đơn vò đo thời gian.
Ví dụ : Viết số thích hợp vào chỗ chấm :
a)6 năm = ……..tháng
3
giơ ø= ……….phút;
4
3 năm rưỡi = ………….tháng ;
0,5 ngày = ………..giờ
2 giờ 15 phút =…………………phút.
b) 60 giờ =……..ngày……….giờ ; 182 phút = ………..giờ………phút
75 giây = …….. phút ……… giây.
-Biết cách thực hiện :
• Phép cộng, phép trừ các số đo thời gian (có đến hai tên đơn vò
đo).
Ví dụ :Tính :
a)12 phút 43 giây + 5 phút 37 giây
b)5 giờ 20 phút – 2 giờ 45 phút.
• Phép nhân, phép chia số đo thời gian (có đến hai tên đơn vò
đo)với (cho)một số tự nhiên khác 0.
Ví dụ : Tính :
a). 12 phút 25 giây x 5;
b). 7 giờ 40 phút : 4
2- Vận tốc
Gọi v là vận tốc, s là quãng đường, t là thời gian, ta có qui tắc sau
để tính vận tốc (v)
V=s:t
Ví dụ 2 : Một người đi xe đạp trong 2 giờ 30 phút với vận tốc 12,6
km/giờ. Tính quãng đường đi được của người đó.
Ví dụ 3 : Một ca nô đi với vận tốc 36 km/giờ trên quãng đường sông
dài 42 km. Tính thời gian đi của ca nô trên quãng đường sông đó.
Giải :
Thời gian đi của ca nô là :
7
42 : 36 = 6 (giờ)
7
1
1 giờ = 1 giờ 10 phút.
giờ
=
6
6
Đáp số : 1 giờ 10 phút.
Đáp số : 2 giờ
-Từ đó rút ra qui tắc : muốn tìm thời gia ta lấy quãng đường chia
cho vận tốc.
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
23
Người thực hiện :
B
C
48 km
Hướng dẫn :
Sau mỗi giờ xe máy gần xe đạp là :
36 – 12 = 24 (km)
Thời gian đi để xe máy đuổi kòp xe đạp là :
48 : 24 = 2 (giờ)
Đáp số : 2 giờ
V/- Thực trạng việc dạy và học hiện nay về số đo thời gian và toán
chuyển động đều
1/.Đối với giáo viên
-Với loại toán này đã được dạy ở các lớp dưới nhưng chưa hình
thành tên gọi vận tốc của vật chuyển động nên đã thuận lợi cho giáo viên
khi đến lớp 5 dạy về toán chuyển động đều.
Người hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Lan
24
Người thực hiện :
Đề tài : Á p dụng dạy học tích cực vào phần giải toán chuyển động đều ở Toán
lớp 5
-Giáo viên nắm bắt rất tốt về kỹ năng đổi số đo thời gian, xác đònh
Người thực hiện :