chuyên đề biện pháp rèn học sinh lớp 4 5 đọc đúng và đọc diễn cảm - Pdf 34

PHÒNG GIÁO DỤC BUÔN ĐÔN
TRƯỜNG TH HOÀNG VĂN THỤ

Nhiệt liệt chào mừng quý
thầy giáo, cô giáo về dự
Chuyên đề
Một số biện pháp
giúp học sinh lớp 4-5
đọc đúng và đọc diễn cảm.

Người thực hiện: Lê Thị Huyền


A.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài:

Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát
triển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ
thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, làm nền tảng cho học sinh
tiếp tục học trung học cơ sở. Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại hội
Đảng lần thứ X và những văn kiện khác của Nhà nước, của Bộ giáo dục và đào tạo
cần phải nâng cao chất lượng giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của đất nước
để tạo ra những con người “năng động, sáng tạo, có năng lực để giải quyết vấn
đề”.

* Giúp học sinh cảm thụ tốt bài văn.


Học phân môn Tập đọc, việc đọc và cảm thụ là hai khâu có quan hệ mật thiết
với nhau, gắn bó hỗ trợ đắc lực cho nhau, cảm thụ tốt giúp việc đọc đúng, diễn cảm
tốt. Ngược lại đọc đúng và diễn cảm tốt giúp cho việc cảm thụ bài văn thêm sâu
sắc. Học sinh có đọc đúng, đọc thông thạo và trên cơ sở đã hiểu nội dung câu thơ,
câu văn, đoạn thơ, đoạn văn thì các em mới thể hiện được cảm xúc, tức là đã hiểu
tường tận về nội dung và nắm được ý nghĩa giáo dục của bài . Điều đó khẳng định
rằng trong tiết tập đọc lớp 4 - 5, việc rèn kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho học
sinh là rất cần thiết. Trong tiết học, học sinh có đọc đúng, biết đọc diễn cảm thì viết
chính tả, dùng từ, đặt câu mới đúng; viết tập làm văn mới hay.
Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập đọc, tôi đã
chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4-5 đọc đúng, đọc diễn cảm” để
nghiên cứu.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh khối lớp 5 năm học 2013 – 2014; Học sinh khối 4 và đặc biệt là học
sinh lớp 4C năm học 2014 - 2015 Trường tiểu học Hoàng Văn Thụ.
Một số biện pháp giúp HS lớp 4 - 5 đọc đúng, đọc diễn cảm.
3. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
Phân môn Tập đọc lớp 4 - 5
Thời gian nghiên cứu: Năm học 2013 – 2014 và 2014 - 2015


4. Mục đích nghiên cứu:
+ Tìm một số biện pháp rèn kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4-5
+ Khảo sát năng lực đọc của học sinh lớp 4 -5 để tìm ra nguyên nhân và giải
pháp rèn kĩ năng đọc qua mỗi tiết tập đọc.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm đọc các tài liệu, giáo trình có nội dung

một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ.
Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người để góp phần hình thành nhân
cách con người mới.


1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu:
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc được những văn bản, văn chương
hoặc các yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là việc thể hiện kĩ năng làm chủ ngữ điệu,
chỗ ngừng giọng, cường độ giọng, để biểu đạt ý nghĩ và tình cảm của tác giả đã gửi
gắm trong bài đọc đồng thời biểu hiện được sự thông hiểu cảm thụ của người đọc đối
với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ và chỉ thực hiện được trên
cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát.
Đọc diễn cảm chỉ có thể có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc diễn
cảm yêu cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp với từng ý cơ
bản của bài đọc, phù hợp kiểu câu, thể loại đọc có cảm xúc cao. Biết nhấn giọng ở từ
ngữ biểu cảm gợi tả, phân biệt lời nhân vật. Để đọc diễn cảm, người ta phải làm chủ
chỗ ngắt giọng. ở đây muốn nói đến kĩ thuật ngắt giọng biểu cảm, làm chủ tốc độ. Khi
nói đến đọc diễn cảm, người ta thường nói về một số kĩ thuật như ngắt giọng biểu cảm,
sử dụng tốc độ, cường độ, cao độ trường độ với ý nghĩa cảm xúc của bài.
Để đọc diễn cảm, người ta phải làm chủ được chổ ngắt giọng, ở đây muốn nói
đến kĩ thuật ngắt giọng biểu cảm, làm chủ được tốc độ, làm chủ được cường độ giọng
(đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay hạ giọng. Để đạt được mức lí tưởng hướng dẫn cách
đọc toàn bài bằng những kí tự kèm văn bản đọc như các kí tự âm nhạc thì còn cần một
quá trình nghiên cứu dài lâu. Ở đây chúng ta chủ đề vào xác định sự tương hợp giữa
các thông số âm thanh với ý nghĩa cảm xúc để giọng) và làm chủ tốc độ.


- Ngắt giọng biểu cảm: Là chỗ ngừng lâu hơn bình thường hoặc chỗ ngừng
không do lôgíc ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc,
ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng lôgíc là chỗ dừng để các nhóm từ trong câu

đoạn kết của bài, nơi mà các ý bài thơ còn dồn lại.
- Cường độ: Cường độ trong đọc diễn cảm phải nói đến dạy đọc to. Khi đọc trước
nhiều người, học sinh phải tính đến người nghe. Các em phải hiểu rằng không chỉ đọc
cho mình nghe mà phải đọc cho các bạn và cô giáo cùng nghe. như vậy phải đọc sao
cho cả tập thể này nghe rõ. Nhưng như vậy không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên
như cách đọc dùng để gây sự chú ý ở một số học sinh.
Cường độ đọc có giá trị diễn cảm. Cường độ phối hợp với cao độ sẽ tạo ra giọng
vang hay giọng lắng.


-Cao độ: Cao độ để đọc diễn cảm là muốn nói đến những chỗ lên giọng, xuống giọng
dụng ý nghệ thuật, cần kết hợp giữa cao độ và cường độ giọng đọc để phân biệt lời tác
giả và lời nhân vật. Khi đọc những lời dẫn chuyện cần đọc với giọng nhỏ hơn, thấp hơn
những lời nói trực tiếp của nhân vật, ở đây có sự chuyển giọng mà những lời dẫn nên
thấp để cho những lời hội thoại nổi lên.
Như vậy ngữ điệu giọng đọc, đọc diễn cảm là sự hoà đồng của tất cả những đặc
điểm âm thanh này. Chỗ ngừng, tốc độ, chỗ nhấn giọng, chỗ lên giọng, hạ giọng tạo
nên một âm hưởng chung của bài tập đọc. Đọc diễn cảm là sử dụng ngữ điệu để phô
diễn cảm xúc của bài đọc. Vì vậy phải hoà nhập với câu chuyện bài văn, bài thơ có
cảm xúc mới tìm thấy ngữ điệu thích hợp. Chính tác phẩm quy định ngữ điệu cho
chúng ta chứ không phải chúng ta tự đặt ra ngữ điệu.
2. Thực trạng dạy và học của trường ta:
Qua việc giảng dạy lớp 4 - 5 và dự giờ trao đổi học tập lẫn nhau như Thao giảng hội giảng cấp trường, tôi thấy còn bộc lộ một số tồn tại sau:
2.1. Về phía học sinh:
- Có những học sinh học tới lớp 4 - 5 đọc vẫn chưa lưu loát, còn ngắc ngứ thậm chí
có em còn phải đánh vần để đọc, ngắt nghỉ còn chưa đúng chỗ, nhấn giọng lên xuống
tuỳ tiện. Trong quá trình đọc, một số em còn hấp tấp không chuẩn bị kĩ cho việc đọc
nên đọc quá nhanh, dẫn đến sai từ, thêm hoặc bớt từ làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của
bài văn, bài thơ. Do đó các em không hiểu được nội dung, không hiểu được nghệ
thuật, không hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm

đọc sai, phát âm nhầm lẫn l/n ; dấu sắc, dấu ngã với dấu nặng nhất là học sinh dân tộc.
- Do bố mẹ ở địa phương khác chuyển đến hay trong gia đình có người lớn nói,
phát âm chưa đúng nên các em bắt chước.
- Một số em do bố mẹ bận công việc nên chưa thực sự quan tâm đến việc sửa lỗi
đọc cho con thường xuyên.
Kiểm tra chất lượng đọc đầu năm học 2013 - 2014, tôi thấy kết quả như sau:
Kĩ năng đọc

Tổng số học sinh : 100 em
Số lượng
Tỉ lệ

Ghi chú
Đánh vần từng tiếng

Chưa đọc được

2

2

Đọc nhỏ, ấp úng, phát âm chưa
chuẩn, ngắt nghỉ chưa đúng.

48

48

Đôi khi đọc sai từ và thanh


Số lượng

Tỉ lệ

Ghi chú

Chưa đọc được

1

1,7

Đánh vần còn khó
khăn

Đọc nhỏ, ấp úng, phát âm chưa
chuẩn, ngắt nghỉ chưa đúng.

24

39,4

Đôi khi đọc sai từ,
thanh

Đọc to nhưng còn sai từ
(thêm - bớt từ), ngắt nghỉ chưa
đúng.

19

1.1. Đối với Giáo viên:
1.1.1.Phân loại học sinh theo nhóm đọc:
Sau khi nhận lớp, tôi đã cho lớp ổn định tổ chức, qua tìm hiểu, điều tra để nắm
chắc đối tượng học sinh, sau đó tiến hành lựa chọn, phân loại học sinh theo kĩ năng đọc
gồm 3 đối tượng sau:
- Đối tượng 1: Học sinh biết đọc diễn cảm.
- Đối tượng 2: Học sinh đọc to rõ, lưu loát chưa diễn cảm.
- Đối tượng 3: Học sinh đọc nhỏ, ấp úng, phát âm chưa chuẩn (hoặc đọc to nhưng
còn sai từ).
Dựa vào đó tôi đã sắp xếp chỗ cho những học sinh yếu ngồi cạnh những em
đọc khá để tạo thành những đôi bạn cùng tiến. Tiếp theo tôi giới thiệu với các em cấu
tạo chương trình phân môn Tập đọc để các em nắm được các chủ điểm chính trong
từng học kì và cả năm học, đồng thời nêu tầm quan trọng, yêu cầu cơ bản về việc rèn kĩ
năng đọc đúng, đọc diễn cảm.
1.1.2. Hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng các kí hiệu để dựa vào đó luyện đọc cho
đúng và diễn cảm.


Cụ thể:

Ngắt lấy hơi
Nhấn giọng
Nhấn giọng, kéo dài hơi
Cao giọng
Vắt dòng thơ trên với dòng thơ
dưới
Kéo dài và hạ giọng ở cuối câu

1.2. Đối với học sinh:
1.2.1. Tư thế đọc



2.2. Biện pháp:
Khi học sinh đọc sai, tôi đã phân loại lỗi đọc, đoán biết trước nguyên nhân để có
cách sửa thích hợp nhằm đảm bảo tính khoa học.
Cụ thể:
2.2.1. HS đọc sai tiếng. Trường hợp này HS thường sai ở lỗi phát âm hoặc đọc sai do
không nhìn kĩ vần, âm, đọc quá nhanh nên dẫn đến đọc sai từ, thêm hoặc bớt từ.
* Trường hợp sai phụ âm đầu tôi yêu cầu đọc lại và gợi ý sửa lỗi phát âm (có thể phải
mô tả hoạt động của các cơ quan phát âm và phát âm mẫu để HS làm theo), chỉ cần HS
nhận biết được cách phát âm và có ý thức phát âm đúng, chưa đòi hỏi phải sửa ngay
được lỗi mắc.
Học sinh miền Nam phát âm sai thanh phụ âm đầu v thành d. Ví dụ “ vô lí” đọc
thành “ dô lí”. Học sinh miền Bắc đọc sai chủ yếu phụ âm đầu l/n; s/x; tr/ch.
Học sinh dân tộc thường đọc sai thanh như thanh sắc, ngã, hỏi thường đọc sang
thanh nặng.
Ví dụ: “là” đọc thành “ nà”; “long lanh” đọc thành “nong nanh”, “ sung sướng”
đọc thành “xung xướng”; “ Trong đêm khuya phố vắng..” đọc thành “ Chong đêm
khuya phố vắng…”. VD như âm l/n: Các em phát âm sai n/l, tôi nói khi phát âm “n”:
đầu lưỡi thẳng (vì nó là âm tắc), “l”: đầu lưỡi cong lên. Sau đó phát âm mẫu để HS
nhìn - nghe đọc lại. Tôi cũng động viên HS đó luyện đọc các từ có phụ âm đầu là n-l, 1
tuần sau sẽ nghe đọc xem tiến bộ đến đâu tương tự các âm khác cũng hướng dẫn như
vậy.

Về vần đọc sai vần an thành ang . Ví dụ “ cái bàn” đọc thành “ cái bàng”, vần ươn
thành vần ương. “ Ví dụ “ vườn” đọc thành “vường”. Còn học sinh miền Trung và học


sinh dân tộc hay phát âm lẫn lộn thanh hỏi, thanh ngã với thanh nặng ; ví dụ:
“nghĩ ngợi” đọc thành “ nghị ngợi”; ví dụ: “mãi mãi” đọc thành “mại mại”…

Cụ thể: Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu
hơn ở dấu chấm, dấu hai chấm. Đối với những bài văn xuôi, khi đọc ngoài việc tìm
những dấu câu đặc biệt ( câu hỏi, câu cảm, câu khiến) để hướng dẫn học sinh đọc đúng,
tôi còn chú trọng đến việc ngắt hơi ở những chỗ không có dấu câu nhưng là những chỗ
tách ý , tôi đã dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định đúng cách ngắt lấy hơi
đúng. Đối với những bài thơ cần ngắt nhịp đúng. Với bài thơ lục bát, nhịp thơ phổ biến
là 2/4, 4/2, 3/5, 2/6. Dòng thơ 7 chữ nhịp thơ thường là 2/5, 5/2, 3/4, 4/3. Dòng thơ 5
chữ nhịp thơ thường là 2/3, 3/2.
(Mẹ ốm Tiếng Việt lớp 4 tập 1 trang 9)
Khi đọc tiếng Việt, HS dân tộc không thể ngay một lúc, một lần mà phải làm quen
dần dần với việc học đọc, cách đọc đúng, rõ ràng từng từ, từng câu... Cô giáo, thầy
giáo sẽ là người hướng dẫn các em.


Học sinh chưa hiểu được mối quan hệ về nghĩa, quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ
nên ngắt hơi chưa đúng, chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi cảm, gợi tả dẫn đến
chưa thể hiện được cách đọc diễn cảm bài đọc. Nhiều học sinh khi đọc một văn bản
chưa biết thể hiện diễn cảm, các em chỉ biết thể hiện diễn cảm khi có sự gợi ý của giáo
viên.
Ví dụ: Mi-đát bụng đói cồn cào,/ chịu không nỗi,/ liền chắp tay cầu khẩn://
Xin Thần tha tội cho tôi! / Xin người lấy lại điều ước / để cho tôi được sống!//
Thần Đi-ô-ni-dốt liền hiện ra / và phán://
Nhà ngươi hãy đến sông Pác-tôn,/ nhúng mình vào dòng nước,/ phép màu sẽ biến mất/
và nhà ngươi / sẽ rửa sạch được lòng tham.//
( Điều ước của vua Mi – đát Tiếng Việt 4 tập 1 trang 90 ).
-

“ Trời xanh đây / là của chúng ta
Núi rừng đây / là của chúng ta
Những cánh đồng / thơm mát

diễn cảm được. Việc luyện đọc hiểu thường được thực hiện trong bước đọc thầm. Đọc
thầm có ưu thế hơn đọc thành tiếng vì nhanh hơn, vì người ta không phải chú ý đến
việc phát âm mà chỉ tập trung hiểu nội dung điều mình đọc. Hiệu quả của đọc thầm
được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản vừa đọc. Do đó, dạy đọc thầm
chính là dạy đọc có ý thức, đọc để hiểu. Kết quả đọc thầm giúp học sinh hiểu nghĩa
của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài. Tức là toàn bộ những gì đọc được.
♣ Biện pháp:
3.1. Dựa vào hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài, tôi đã lựa chọn biện pháp và hình thức tổ
chức dạy học thích hợp để luyện kĩ năng đọc thầm cho HS. Để việc đọc thầm (câu đoạn - bài) có hiệu quả, trước khi HS đọc tôi đã giao nhiệm vụ cụ thể nhằm định
hướng đọc hiểu (Đọc câu, đoạn hay khổ thơ nào ? Đọc để biết, hiểu, nhớ điều gì ? …)
VD: Dạy bài Một người chính trực (Tiếng Việt tập lớp 4 tập1 trang 36)
- Đọc thầm lần 1: Sau khi giới thiệu bài, 1 học sinh khá đọc bài, cả lớp đọc thầm.
Mục đích: nắm nội dung bài.
- Đọc thầm lần 2: Trong khi các bạn đọc nối tiếp đoạn (3 lượt), cả lớp cũng đọc
thầm theo (2 lượt). Mục đích: luyện phát âm và hiểu thêm về các từ ngữ trong bài.
- Đọc thầm lần 3: Khi GV đọc cả bài trước khi tìm hiểu bài, cả lớp đọc thầm theo.
Mục đích: chuẩn cách đọc đúng tiếng, từ, ngắt câu dài.


- Đọc thầm lần 4: HS đọc thầm đoạn 1. Mục đích : trả lời câu hỏi Đoạn 1 Trong
việc lập ngôi vua? (Thái độ chính trực của Tô Hiến Thành trong việc lập ngôi vua) và
câu hỏi 1 trong SGK.
+ Đọc thầm lần 5: HS đọc thầm đoạn 2. Mục đích: tìm hiểu nội dung đoạn 2 để
trả lời câu hỏi 2 trong SGK.
+ Đọc thầm lần 6: HS đọc thầm đoạn 3. Mục đích: tìm hiểu nội dung đoạn 3 để
trả lời câu hỏi 3 trong SGK.
Như vậy, HS đã được đọc thầm gắn với yêu cầu trả lời câu hỏi tìm hiểu.
3.2. Để giúp học sinh đọc hiểu tốt , tôi còn chuẩn bị một số câu hỏi để học sinh hiểu
thêm về nội dung bài, về nghệ thuật, chú ý các câu hỏi giúp học sinh tìm hiểu nghĩa của
từ, đặt câu để làm rõ nghĩa của từ (ngoài những từ ngữ SGK đã giải thích).

(1) Biết đọc nhấn giọng các từ ngữ quan trọng trong câu (từ ngữ gợi tả, gợi cảm, từ
ngữ “chìa khoá” làm nổi bật ý chính, …).
(2) Biết thể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ,cao độ, cường độ, trường độ, …) phù
hợp với từng loại câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến).


(3) Biết đọc phân biệt lời kể của tác giả với lời nhân vật.
(4) Biết đọc phân biệt lời nhân vật phù hợp với lứa tuổi, với tính cách của từng nhân
vật (người già, trẻ em, người tốt, kẻ xấu, …).
(5) Biết thể hiện ngữ điệu phù hợp với lứa tuổi, với tính cách của từng nhân vật (vui,
buồn, trang nghiêm, giận dữ, …).
Ngoài những điểm chung thống nhất về cách đọc, mỗi cá nhân còn có những nét
sáng tạo và cảm thụ riêng. Do vậy, cách tốt nhất là GV tổ chức cho HS luyện đọc, “tự
bộc lộ” (trên cơ sở đọc mẫu của GV và kết quả của việc tìm hiểu bài), qua đó chỉ dẫn,
điều chỉnh về cách đọc sao cho diễn cảm; tránh sa đà tìm hiểu, phân tích quá sâu và chi
tiết về cách đọc (xác định chỗ ngắt hơi, cao giọng, thấp giọng, ...), coi nhẹ thực hành
luyện đọc và hoạt động đọc tự nhiên. Dạy đọc diễn cảm thiên về “lí thuyết”, không bắt
nguồn từ sự hiểu biết sâu sắc và xúc cảm về bài đọc nhiều khi còn phản tác dụng, làm
cho trẻ vì quá tập trung chú ý đến những dấu ngắt hơi, nhấn giọng đã xác định mà đọc
rất gượng gạo, mất tự nhiên.
4.2. Biện pháp:
4.2.1. Sau khi HS đã hiểu bài đọc, tôi yêu cầu HS lần lượt đọc thật tốt từng đoạn để
nắm bắt khả năng thể hiện sự cảm nhận nội dung bằng giọng đọc của HS, nên tôi
không bao giờ áp đặt sẵn giọng đọc của bài mà để HS tự nêu cách đọc.
VD: Dạy bài: Thưa chuyện với mẹ, Tiếng Việt lớp 4 tập 1 trang 85
Sau khi đã hiểu nội dung bài, tôi cho 2 HS đọc nối tiếp 2 đoạn, cả lớp chú ý nghe
nhận xét : Giọng đọc của bạn nào đã phù hợp với nội dung bài ? (Hoặc cụ thể hơn
Đoạn văn vừa rồi được đọc với giọng như thế nào?).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status