PHÒNG GD- TP. PR-TC
TRƯỜNG TH PHỦ HÀ 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ TÀI: GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 3
I.PHẤN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với xu thế phát triển của thời đại, giáo dục đã và đang được đổi mới mạnh
mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống,
đó là: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống.
-Xuất phát từ đặc điểm của xã hội hiện nay, nên việc hình thành và phát triển kỹ
năng sống trở thành một yêu cầu quan trọng của nhân cách con người hiện đại.
-Giáo dục kỹ năng sống là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp
ứng những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân.
Là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ
thể,trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người. Bao gồm cả hành vi vận động
của cơ thể và tư duy của con người, hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục
hoặc rèn luyện của các em
Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau: một
là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong gia
đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia đình với nhiều lo
toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái.
Ngoài những khó khăn lứa tuổi, các em là con em thành phố và nông thôn, trong
đó có nhiều em nông thôn có nhiều hoàn cảnh khác nhau, có nhiều thói quen trong sinh
hoạt còn chưa văn minh, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết
vấn đề, kỹ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và khả năng tự phục vụ bản
thân… Hơn thế nữa trong nền kinh tế thị trường, cuộc sống hiện đại vận động hết sức
khẩn trương và chứa đựng nhiều yếu tố khôn lường đòi hỏi thế hệ trẻ không làm chủ tri
thức, rút ngắn khoảng cách về chênh lệch tri thức giữa các vùng nông thôn và thành thị
2
Các em làm vệ sinh lớp và nhặt rác
2. Kỹ năng giao tiếp:
Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức
nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ có thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng
thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ
ý kiến bao gồm bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời
giáo dục cho các em biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một
cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây
tổn thương cho người khác, giúp các em có mối quan hệ tích cực với người khác, bao
gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong trong lớp ,khác lớp nơi
sinh sống là nguồn hỗ trợ quan trọng cho các em; đồng thời biết cách xây dựng mối quan
hệ với bạn là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui trong cuộc sống.
Trao đổi trong giờ học nhóm
3
3.Kỹ năng quản lý thời gian:
Giúp các em quản lý thời gian là khả năng các em biết sắp xếp các công việc theo
thời khoá biểu, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất
định. Giờ ăn, giờ học, giờ làm, giờ chơi một cách hợp lí. Kỹ năng này rất cần thiết cho
việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; đồng thời
giúp các em tránh được căng thẳng do áp lực trong việc học và việc làm .
Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng làm chủ bản thân. góp
phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân .
4.Kỹ năng thể hiện sự tự tin:
Các em biết tự tin vào bản thân, hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở
hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác mà nếu các em không tự tìm kiếm sự hỗ trợ thì
người khác khó có thể biết để giúp đỡ, chia sẻ các em có thể nhận được những lời
4
khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống của mình;
đồng thời là cơ hội để các em chia sẻ, giải bày khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm
lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp các em không cảm
thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp các em có cách nhìn mới và
hướng đi mới.
Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây
dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở
giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân thích hợp với thực tế xã hội.
Mục tiêu cơ bản của giáo dục kỹ năng sống là làm thay đổi hành vi của học sinh, chuyển
từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi
mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và
góp phần phát triển xã hội bền vững.
Giáo dục kỹ năng sống còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh đối mặt
với các vấn đề từ hoàn cảnh, môi trường sống cũng như phương pháp hiệu quả để giải
quyết các vấn đề đó.
Khi tham gia vào bất kì hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống đều đòi
hỏi các em phải thoả mãn những kỹ năng tương ứng.
Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử thân
thiện trong mọi tình huống; có thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt
động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khoẻ, ý thức bảo vệ bản thân,
phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội.
Đối với học sinh tiểu học việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh
hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách
sau này. Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng, chạy, nhảy… kỹ năng tư duy
logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh, nêu khái niệm, đặt câu
nay vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học không phải là mới cũng không
phải là việc gì to tác rộng lớn. Tuy nhiên nội dung nào được đưa vào giáo dục cho các
em, vấn đề cụ thể nào cũng cần quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống hiện nay là cấp
bách. Theo tôi nghĩ vấn đề giáo dục đạo đức lối sống, văn hoá con người, văn hoá dân
tộc, văn hoá ứng xử là vấn đề quan trọng nhất. Vì tôi thấy ngày nay các em học sinh
thông minh, tiếp thu kiến thức nhanh và vận dụng rất tốt. Nhưmg việc ứng xử một số vấn
đề mang tính văn hoá, mang tính xã hội còn rất hạn chế. Trước đây hoạt động Đội Thiếu
niên sinh hoạt rất phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức và được nhiều thời gian,
còn hiện nay thì giờ học trên lớp rất nhiều, thời gian hoạt động ngoại khoá rất hạn hẹp.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được thể hiện trên nhiều mặt từ hoạt
động trên lớp, lồng vào các môn học như đạo đức, tự nhiên xã hội, Tiếng Việt,…. Vì các
môn học mang tính xã hội rộng lớn hoạt động ngoại khoá và các hình thức giáo dục khác.
Trong phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó
nội dung thứ ba trong năm nội dung chính là “Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh”:
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen
và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.
Các em thảo luận nhóm giáo tiếp trao đổi lẫn nhau trong giờ học tự nhiên xã hội
Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao
thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác.
6
Giờ thực hành hướng dẫn học sinh đi xe đạp an toàn
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và
các tệ nạn xã hội.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có thành công hay không, phụ thuộc rất
lớn vào tư chất, đạo đức và năng lực của thầy giáo, cô giáo. Muốn giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh tốt, trước hết, mỗi thầy giáo, cô giáo phải giáo dục cho học sinh bằng sự
nêu gương. Thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu trong ứng xử, trong giáo dục nhân cách.
phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu không khí cởi mở thân thiện của lớp của trường.
Trong giờ học, giáo viên cần tạo cơ hội cho các em được nói, được trình bày trước nhóm
8
bạn, trước tập thể, nhất là các em còn hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần
tích lũy kỹ năng sống cho các em.
- Quán triệt mục tiêu giảng dạy môn Đạo đức, nhất là hình thành các hành vi đạo
đức ở tiết 2. Giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác kiểm tra đánh giá phân loại hạnh kiểm
của học sinh, rèn cho học sinh khả năng tự học, tự chăm sóc bản thân, biết lễ phép, hiếu
thảo, tự phục vụ bữa ăn và vệ sinh cá nhân.
- Tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa, ở phạm vi lớp khối của mình. Mỗi năm học sẽ
có một số chủ đề rèn luyện kỹ năng sống được triển khai. Trong đó nhà trường cần phát
huy vai trò của tổ chức Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Sao nhi đồng theo các
chủ điểm hàng tháng. Tổ chức các trò chơi dân gian,
hát dân ca và các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian vào trường học, qua đó mà rèn
luyện kỹ năng sống cho học sinh.
- Giáo viên chủ nhiệm phải làm tốt công tác chủ nhiệm mà nhà trường phân công,
thường xuyên thay đổi các hình thức sinh hoạt lớp, luân phiên nhau cho các em làm lớp
trưởng, tổ trưởng, không nên trong năm học chỉ để một em làm lớp trưởng. Với học sinh
tiêu học, thầy cô giáo là người mẹ hiền thứ hai của các em, các em luôn luôn nghe lời dạy
bảo và làm theo những gì thầy cô dạy, thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về đạo đức,
nhất là tấm gương về cách ứng xử văn hóa, chuẩn mực trong lời nói và việc làm. Giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh sẽ khó hơn khi chính thầy cô không phải là một tấm
gương sáng.
- Nhà trường tổ chức tốt các buổi chào cờ đầu tuần. Theo đó mục tiêu buổi chào cờ
không chỉ là đánh giá xếp loại nền nếp, học tập, các hoạt động giáo dục trong tuần qua
của giáo viên trực, triển khai kế hoạch tuần tới của Ban giám hiệu nhà trường cần thay
đổi hình thức buổi lễ chào cờ một cách sáng tạo, rèn luyện các kỹ năng cho học sinh.
ngoài giờ lên lớp, các cuộc thi bằng các hình thức như vẽ tranh, xé dán tranh, tiểu phẩm
về bảo vệ môi trường ,
Sản phẩm xé dán tranh về bảo vệ môi trường của lớp 3A
Hàng năm nhà trường tổ chức cho các em chăm sóc đình, Miếu, thăm và chăm sóc
bà mẹ Việt Nam anh hùng neo đơn,
Các em chăm sóc Khu di tích lịch sử Miếu Phủ Thành
thăm và thắp hương các anh hùng liệt sĩ, dã ngoại, du lịch như cha ông ta đã nói: “Đi một
ngày đàng, học một sàng khôn”.
Dạy kỹ năng sống cho tuổi trẻ học đường trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu
cấp thiết ở các trường phổ thông nói chung, bậc tiểu học nói riêng. Trong lúc nội dung về
rèn luyện kỹ năng sống chưa được đưa vào thành một chương trình riêng mà chủ yếu
được giáo viên lồng ghép trong từng bộ môn như giáo dục đạo đức, tự nhiên xã hội,
Tiếng Việt… hay trong các tiết chào cờ đầu tuần. Với thời lượng hạn hẹp như vậy, các
em chưa được trang bị đầy đủ các kỹ năng sống. Đó là điều đang còn khó khăn, lúng túng
cho giáo viên nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Một trong những mục tiêu
được chú trọng trong năm học 2009-2010 mà Bộ GD-ĐT yêu cầu lòng ghép vào giảng
dạy kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Mong rằng các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy,
11
các nhà quản lý giáo dục quan tâm và thực hiện tốt nội dung này. Tuy nhiên, làm thế nào
để triển khai hoạt động rèn kỹ năng sống một cách hiệu quả thu hút được học sinh và các
bậc phụ huynh đang là trăn trở của các thầy cô giáo, các nhà trường và toàn xã hội hiện
nay. Tùy vào hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, nhà trường tổ chức sao cho sáng tạo
và hiệu quả.đưa giáo dục kỹ năng sống (giáo dục kỹ năng sống) lồng ghép vào một số
môn học như thế nào? Làm sao để không gây quá tải đối với học sinh… là vấn đề đặt
cho học sinh tiểu học qua học tập – sinh hoạt ở trường là điều hết sức cần thiết.
12
III/.PHẤN THỨ BA: KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG NỘI
DUNG VÀO THỰC TIỄN
1.KẾT QUẢ
Theo đó, bằng trách nhiệm, bằng kinh nghiệm và vốn sống của mình, tôi cần từng
bước một giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua từng bài dạy, thông qua các hoạt
động ở trường, ở lớp.
Qua giáo dục hàng ngày trên lớp hoặc thông qua các tiết dạy tôi thấy các em đã
biết và làm quen được một số kỹ năng làm việc theo nhóm: biết cách phân công, công
việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết chấp nhận đúng sai, thống nhất ý kiến,
thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất. Các em biết làm việc trong tập thể. Ở môn kĩ thuật,
các em biết được việc khâu may, nấu cơm, rửa chén bát, li cốc, luộc rau, quét nhà, quét
lớp, chăm sóc cây đơn giản và biết tránh những việc làm xấu như nói không với thuốc lá,
ma túy, rượu… dứt khoát với những lời dụ dỗ, lôi kéo vào những thói hư tật xấu. Ở môn
đạo đức, qua các bài học giáo viên lồng ghép thêm giáo dục các em biết chào hỏi lễ phép,
kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị em, thầy cô giáo, biết chia sẻ yêu thương, giúp đỡ
người già, em nhỏ, bạn bè, và những người có công lao to lớn , huy sinh gian khổ bảo vệ
quê hương đất nước như các anh hùng thương binh - liệt sĩ, những người lao động nghèo
khổ. Bằng những hành vi, thái độ, việc làm nho nhỏ hằng ngày, biết xác định các giá trị
hành vi đạo đức. Ở môn tự nhiên xã hội, giáo dục các em yêu thiên nhiên, gần gũi với
thiên nhiên, động vật, thực vật để từ đó các em biết giá trị của sống quan trọng như thế
nào để từ đó các em cảm nhận được bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng đối với cuộc
sống của con người .
Trong sinh hoạt hằng ngày các em biết sử dụng đúng các quy tắc : ứng xử giao tiếp
với mọi người , biết thông cảm chia sẻ với mọi niềm vui, nỗi buốn với mọi người xung
quanh . Luôn luôn là một người mẫu mực, trung thực là niền tự hào của cha mẹ .
sống, là bài học quí báu mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc để các em tự hoàn thiện mình.
Qua đó, giúp các em nhìn lại những việc làm của mình từ trong hành động, trong suy
nghĩ, lời nói việc làm. Nó còn giúp các em hoàn thiện hơn về nhân cách, về lối sống, các
em sẽ tích cực hơn. Có kỹ năng tham gia các hoạt động mang ý nghĩa cộng đồng, đoàn
kết, yêu thương,trách nhiệm, hợp tác, hòa đồng, thân ái, đồng cảm chia sẻ với mọi người
xung quanh và hơn hết là sống tốt, sống có ý nghĩa và có một niềm tin thiết tha hơn về
cuộc sống hiện tại và tương lai.
3 .KẾT LUẬN
Thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng cần được thông tin đến phụ
huynh để phụ huynh thấy được tầm quan trọng của kỹ năng sống đối với con em mình,
cùng với giáo viên thực hiện, theo dõi, ủng hộ động viên các em. Nếu được sự hỗ trợ của
phụ huynh học sinh thì việc thực hiện sẽ dễ dàng thành công hơn.
Trong quá trình thực hiện và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi đã rút ra được
những bài học quí giá để bổ sung kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học như
sau:
Thực hiện đúng theo các văn bản chỉ đạo của Ngành, bám sát chủ đề kế hoạch thực
hiện phù hợp với đặc điểm tâm lý và hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh trong lớp .
Có bước chủ động trong công việc, nắm bắt kết quả qua các bước thực hiện một
cách nhanh nhất để đưa vào việc điều chỉnh kế hoạch đúng lúc, đúng thời điểm.
Luôn tạo sự đổi mới, sáng tạo trong công việc để tăng sự thu hút từ phía học sinh.
Phối hợp nhịp nhàng với các đoàn thể trong nhà trường, phụ huynh học sinh. Luôn
lắng nghe những ý kiến về những khó khăn của học sinh
Mô hình này rất dễ dàng thực hiện dành cho học sinh tiểu học với các hình thức
phong phú nêu trên, làm cho các em cảm nhận được kỹ năng sống, giá trị sống là những
kỹ năng chuẩn mực trong một xã hội văn minh. Nó có thể xem là hành trang hết sức cần
thiết cho các em trong cuộc sống, là những vốn sống không thể thiếu đối với các em,
trong thời kỳ đất nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, đang tiến hành công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Trước mắt giúp cho các em đổi mới phương pháp, tích cực học tập, có năng lực
tự học và biết tự điều chỉnh hành vi, tự giác chấp hành tốt nội qui nhà trường.
Nhận xét của Hội đồng sáng kiến cơ sở : Trường tiểu học Phủ Hà I
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………….......................
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………............................
………………………………………………………………………………………………
…
15
PHÒNG GD- TP. PR-TC
TRƯỜNG TH PHỦ HÀ 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP RÈN ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH
LỚP 3
I.Phần thứ nhất : Đặt vấn đề
Giáo dục bậc tiểu học là một khoa học giáo dục khó nhất. Nó là nền móng đầu tiên
để giúp con người tồn tại và phát triển. Đặc biệt là môn tiếng Việt có vị trí quan trọng
trong tất cả các phân môn ở trường, nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát
triển tư duy cho trẻ để tiếp thu các môn học khác.
Tiếng việt ở tiểu học gồm nhiều phân môn : Tập đọc, học thuộc lòng, luyện từ và
câu, kể chuyện , tập làm văn, chính tả, tập viết...Mỗi phân môn đều có một chức năng
riêng nên khi dạy ngữ văn ở tiểu học, giáo viên cần chuẩn bị vốn kiến thức vững vàng để
truyền thụ cho học sinh khi lên lớp. Tập đọc là môn học mang tính chất tổng hợp vì vậy
ngoài nhiệm vụ dạy học giáo viên cần trao dồi kiến thức về Tiếng Việt cho học sinh(về
phát âm, từ ngữ, câu văn… ) kiến thức bước đầu về văn học, đời sống và giáo dục tình
bộ môn.
Qua các lớp học dưới, học sinh lớp 3 đã có điều kiện và kĩ năng để đọc diễn cảm
tốt. Đọc diễn cảm chính là nghệ thuật đọc thơ văn được tiến hành trong những điều kiện
của nhà trường phổ thông.Trong những tầm quan trọng đặc biệt của bộ môn tập đọc nói
chung và việc rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3 nói riêng trong giờ tập
đọc, để có kết quả cao mỗi giáo viên phải nhận thức rõ trong phương pháp giảng dạy.
Trong quá trình dạy tập đọc lớp 3 , tôi nhận thấy chất lượng đọc diễn cảm của học
sinh còn yếu. Đặc biệt ngày nay xã hội ta ngày càng phát triển thì nhu cầu đòi hỏi về trí
thức con người ngày càng cao, trong đó ngôn ngữ nói và viết là vô cùng cần thiết cho mỗi
người.Mỗi thành công không phải tự nhiên mà có được mà phải trải qua một quá trình
rèn luyện kiên trì ngay từ đầu .
Để góp phần nâng cao chất lượng đọc cho học sinh, tôi mạnh dạn đề xuất một vài
kinh nghiệm nhỏ của mình về vấn đề :
“ Phương pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3”.
II. Phần thứ hai : Giải quyết vấn đề
1. Điều tra hiện trạng:
Qua 7 năm giảng dạy ở lớp 3 cũng như quá trình quan sát, dự giờ việc dạy và học
của thầy trò trong thời gian trước đây tôi có những nhận xét sau :
Về người dạy học : Giáo viên khá tôn trọng phương pháp học mới : “ Thầy thiết kế,
trò thi công” lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cố gắng tìm tòi nghiên cứu để giảng
dạy phân môn tập đọc nhưng chất lượng chưa cao. Bởi vì giáo viên chỉ coi trọng một vấn
đề đọc thành tiếng to, rõ hoặc có hướng dẫn đọc diễn cảm nhưng chỉ lướt qua không có
tranh để giới thiệu bài, rèn đọc diễn cảm cho học sinh còn ít.
Về người học : Học sinh đã biết đọc thành tiếng bài văn, bài thơ, đã để ý và đọc đúng
các phụ âm khó. Nhưng đọc hiểu nắm nội dung bài còn rất ít, do vậy không nêu được ý
chính của bài, chưa biết đọc diễn cảm toàn bài văn. Khi đọc ở các dấu phẩy, dấu chấm
còn ngừng nghỉ như nhau, chưa đọc đúng giọng câu hỏi, câu cảm.
Qua điều tra khảo sát chất lượng học sinh ngay từ đầu năm học tôi đều thấy số lượng
học sinh đã biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ rất ít. Cụ thể điều tra chất lượng đọc của
học sinh lớp 3B đầu năm học 2014-2015 này, tôi có số lượng cụ thể như sau :
Từ yêu cầu thực tiễn của môn tập đọc nói chung và rèn luyện kỹ năng nói cho học
sinh lớp 3, tôi đã tự đặt cho mình phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng, yêu cầu của bộ
môn, đặc biệt về nội dung và phương pháp rèn kỹ năng đọc diễn cảm để đáp ứng với yêu
cầu đề ra.
Trong giảng dạy môn tập đọc, qua nhiều năm gần đây, tôi đã tích cực nghiên cứu,
học hỏi kinh nghiệm giảng dạy, cách truyền thụ kiến thức,đặc biệt là việc rèn luyện kỹ
năng đọc diễn cảm cho học sinh. Muốn rèn cho học sinh đọc diễn cảm tốt , trước hết
trong mọi giờ tập đọc giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách phát âm chuẩn, đọc đúng
đắn, có ý thức , trôi chảy, sau đó mới yêu cầu học sinh đọc diễn cảm. Trong phương pháp
dạy học những yêu cầu đó gọi là chất lượng đọc được thể hiện đồng thời và chi phối lẫn
nhau. Tính đúng đắn sẽ nâng cao tốc độ đọc và cho phép đọc có ý thức hơn. Nếu không
hiểu cái đang đọc thì không thể đọc lưu loát và diễn cảm được.
Đọc diễn cảm thể hiện ở kỹ năng dùng ngữ điệu , biết nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt hơi
ở dấu phẩy, hoặc chỗ cần tách ý, biết đọc liền các tiếng trong từ ghép, từ láy hoặc cụm từ
cố định. Ngoài ra cần biết đọc đúng giọng câu kể, câu hỏi biết phân biệt giọng người dẫn
chuyện với từng tuyến nhân vật có tính cách khác nhau. Đọc diễn cảm là biểu hiện cao
của đọc có ý thức và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc nhanh. Do vậy dù
đọc ở mức độ nào cũng phải yêu cầu phát âm đúng song cũng không nên qua nhấn mạnh
ở các phụ âm : tr- ch; r-gi; n-l; s-x làm giọng đọc mất tự nhiên .
Để đạt được những yêu cầu trên tôi đã tiến hành phương pháp rèn đọc diễn cảm cho
học sinh như sau :
18
Phương pháp tiến hành :
Sau khi nhận lớp, tôi đã cho lớp ổn định chung về cách tổ chức lớp. Qua tìm
hiểu điều tra để nắm chắc đối tượng học sinh về lựa chọn, đặc biệt là về kỹ năng đọc và
phân loại học sinh theo ba đối tượng :
- Đối tượng 1: Học sinh biết đọc diễn cảm
- Đối tương 2 : Học sinh mới chỉ biết đọc to, rõ, lưu loát.
- Thằng này láo, dám đùa với trẫm.
19
- ( thể hiện sự hách dịch của nhà vua)
- Với câu thứ hai.
- “ Bố ngươi là đàn ông/ thì sao đẻ được !”
(Khi đọc gần như là một câu hỏi – tiếng “được” hơi cao giọng )
Đối với những bài văn xuôi khi đọc ngoài việc tìm những dấu câu đặc biệt ( câu hỏi,
câu cảm ) để hướng dẫn học sinh đọc. Giaó viên còn phải chú trọng cách nghỉ hơi ở dấu
chấm, ngắt hơi ở chấm phẩy, dấu hai chấm . Đặc biệt phải biết ngắt hơi ở chỗ không có
dấu câu nhưng đó là chỗ tách ý .
Ví dụ : Khi dạy bài : “ Chiếc áo len” – Tiếng việt 3- tập 1.
“ Nằm cuộn tròn/ trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá
Em muốn ngồi dậy / xin lỗi mẹ và anh, nhưng lại xấu hổ/ vì mình đã vờ ngủ
Áp mặt xuống gối, em mong trời mau sáng / để nói với mẹ : “ Con không thích chiếc
áo ấy nữa. Mẹ hãy để tiền/ mua áo ấm cho cả hai anh em”
Cần đọc với giọng nhẹ nhàng, ngắt đúng, nhấn giọng ở từng gạch dưới. Đặc biệt câu
nói của Lan khi đọc học sinh thể hiện dưới sự ân hận, có như vậy mới biểu đạt được trạng
thái cảm xúc của tác giả.
Đối với các bài thơ , tùy theo từng thể loại thơ mà tôi hướng dẫn học sinh cách đọc
sao cho đúng nhịp câu thơ.
Rủ nhau/ xem cảnh/ Kiếm Hồ (2/2/4)
Xem cầu Thê Húc,/ xem chùa ngọc Sơn(4/4)
Đài Nghiên,? Tháp Bút,/ chưa mòn(2/2/2)
Hỏi ai xây dựng/ nên non nước này(4/4)
( Cảnh đẹp non nước - Tiếng việt 3)
Thường thì các bài thơ được sáng tác theo thể thơ lục bát mang một âm điệu mượt
mà, tình cảm của thể thơ truyền thống dân tộc. Tuy vậy cũng phải dựa vào các dòng cụ
thể để ngắt dòng cho đúng. Chỉ có ngắt nhịp đúng câu thơ thì ý nghĩa đoạn thơ mới được
Việc đọc diễn cảm thường gắn liền với ngữ điệu nên tôi thường dùng cử chỉ, nét
mặt, để làm tăng thêm tính gợi cảm của câu văn thân mật, vui vẻ, ngạc nhiên, căm giận.
Đoạn thơ có nhiều ý hóm hỉnh, vui vẻ cần đọc nhấn giọng một số từ ngữ kèm theo
cử chỉ nét mặt để thể hiện sắc thái đó.
• Vui tươi, phấn khởi như khi dạy đọc bài “ Bộ đội về làng”
Các anh về
. Đọc liền vắt dòng từ câu 1 sang câu 2
Mái ấm/ nhà vui/
Tiếng hát/ câu cười.
. Câu 3 đọc liền vắt dòng sang câu 4
Rộn ràng xóm nhỏ//
Các anh về
Tưng bừng trước ngõ
Lớp lớp đàn em hớn hở theo sau
Mẹ thì bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.
Với bài : “ Chú ở bên Bác Hồ” cần đọc với giọng trầm lắng pha chút trang
nghiêm. Kết hợp với cách ngắt nhịp, nhấn giọng kéo dàiở một số từ và cao giọng ở cuối
câu hỏi. Để tạo nên âm hưởng biểu lộ sự xúc động niềm thương nhớ của Nga và bố mẹ
trước sự hi sinh của người chú.
Chú ở đâu, ở đâu ?
Trường Sơn dài dằng dặc?
Trường Sa đảo nổi chìm?
21
10 = 27,8%
20 = 55,5 %
6 = 16,7%
22
Cuối học kì I
5 = 13,8 %
18 = 50 %
13 = 36,2%
Cuối học kì II
0
21= 58,4%
15 = 41,6 %
5. Lời bình :
Qua kết quả khảo sát và số liệu ghi chép, tôi rất phấn khởi thâý trong các giờ tập
đọc học sinh say mê học và lớp học sôi nổi, kỹ năng đọc diễn cảm được nâng cao rõ rệt.
Có nhiều em đầu năm học đọc nhỏ lí nhí, chưa trôi chảy, đến cuối năm các em đã đọc to,
soạn giảng, phát hiện kịp thời đọc sai, đọc ngọng trong học sinh. Giáo viên phải kiên trì
uốn nắn, sửa chữa cách phát âm sai cho học sinh thật tận tình chu đáo.
Giảm bớt hoặc sửa lại câu hỏi cho sát với từng đối tượng học sinh, tránh giảng triền
miên, nói nhiều, viết nhiều trong khi học sinh đọc còn yếu.
Luôn động viên khuyến khích học sinh khi các em có tiến bộ. Rèn cho các em đọc
trước đám đông, tổ chức thi kể chuyện, ngâm thơ, đọc diễn cảm trong lớp, trong trường
vào những ngày sinh hoạt tập thể, kỷ niệm ngày lễ lớn. Yêu cầu mỗi học sinh phải có
quyển sổ ghi chép để chép những câu thơ, bài văn hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Luôn tạo cho học sinh làm quen với nhiều hình thức học tập . Tạo điều kiện cho vấn
đề học cá nhân là chủ yếu, học tổ có gắn liền thi đua.Chăm sóc từng học sinh, học sinh
giỏi được nâng cao hơn, học sinh yếu luôn được theo dõi, giúp đỡ các em tránh tự ti trong
học tập. Luôn tự tin, tự giác tham gia giải quyết vấn đề trong học tập
Phối hợp nhịp nhàng về chương trình môn tập đọc với các môn học khác như : Tập
Làm Văn, kể chuyện ....
7. Phạm vi ứng dụng đề tài
Trên đây là một số suy nghĩ và việc làm cụ thể của tôi về vấn đề rèn đọc diễn cảm
cho học sinh lớp 3 trường tiểu học. Với phương pháp rèn đọc này sẽ có tiền đề để tiếp tục
dạy môn tập đọc ở lớp 4, 5 đạt kết quả tốt. Vì vậy nếu có thể cải tiến mở rộng cách hướng
dẫn thì đề tài này có thể áp dụng tốt khi dạy môn tập đọc lớp 4,5 đáp ứng những yêu cầu
đòi hỏi cao hơn.
8. Những vấn đề cần kiến nghị
Để đọc của học sinh tiếp tục được nâng cao, tôi mạn phép đưa ra một vài ý kiến đề
xuất với các cấp chỉ đạo như sau :
Cần quan tâm hơn nữa đối với giáo viên tiểu học, thường xuyên bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ cho giáo viên ở các phân môn, nhất là môn tập đọc.
Có đầy đủ đồ dùng dạy học cho giáo viên.
Hàng năm tổ chức phong trào thi kể chuyện, ngâm thơ, đọc diễn cảm cho giáo
viên, cho học sinh trong khối, trong trường và thành phố.
Những vấn đề còn bỏ ngỏ : Qua quá trình giảng dạy môn tập đọc, đặc biệt về rèn
đọc diễn cảm cho học sinh lớp 3 tôi thấy còn nhiều khó khăn và có những mặt hạn chế.
Nguyễn Thị Quế Chi
Nhận xét của Hội đồng sáng kiến cơ sở : Trường tiểu học Phủ Hà I
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………….......................
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………............................
25