ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGÔ THỊ HUYỀN TRANG
THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG GIÁO DỤC
Ở NHÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH HỒ CHÍ MINH HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ HUYỀN TRANG
THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG GIÁO DỤC
Ở NHÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60.31.02.04
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN THẾ THẮNG
1.3.4. Yêu cầu đối với người học trong trường đại học ...................... 32
1.4. Dân chủ trong giảng dạy và học tập ................................................. 36
1.4.1. Dân chủ trong nội dung giáo dục và đào tạo ............................ 36
1.4.2. Dân chủ trong phương pháp giảng dạy .................................... 37
1.4.3. Dân chủ trong phương pháp học tập ........................................ 42
Tiểu kết chương 1:..................................................................................... 46
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC
HÀNH DÂN CHỦ TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY ................................................................................................. 47
2.1. Thực trạng thực hành dân chủ trong nhà trường đại học ở Việt
Nam hiện nay ........................................................................................ 47
2.1.1. Sự cần thiết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện tốt dân
chủ tại các nhà trường đại học ở Việt Nam hiện nay ................................ 47
2.1.2. Thành tựu, hạn chế trong thực hành dân chủ ở nhà trường đại
học Việt Nam hiện nay..................................................................................... 51
2.2. Phương hướng và giải pháp thực hành dân chủ trong nhà
trường đại học ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh .................. 76
2.2.1. Một số phương hướng thực hành dân chủ ở nhà trường đại học
theo tư tưởng Hồ Chí Minh ................................................................. 76
2.2.2. Một số giải pháp thực hành dân chủ trong nhà trường đại học
Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh .................................. 80
Tiểu kết chương 2:................................................................................... 101
KẾT LUẬN .............................................................................................. 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
thiết phải gắn liền kỷ cương, vì thế song song với việc phát huy dân chủ cần nghiêm
khắc đối với những trường hợp vi phạm hoặc mất dân chủ trong hoạt động giáo dục
bằng những chế tài nhất định. Đó là tiền đề, là cơ sở cho mọi năng lực của ta, sáng
kiến của ta, tiến bộ của ta luôn luôn phát triển, tiến lên không ngừng xứng đáng là
một nền giáo dục mới Việt Nam mà “con mắt đại bàng của tư duy” của Hồ Chí Minh
đã phát hiện và dày công vun đắp.
Trong những năm gần đây, việc thực hành dân chủ trong giáo dục ở nhà
trường đại học của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tuy nhiên những hạn
chế, bất cập vẫn còn tồn tại. Trong các trường đại học vẫn còn tình trạng mất dân chủ,
dân chủ hình thức, dân chủ quá trớn hoặc lợi dụng dân chủ để trục lợi cá nhân, xúi
giục những hành động vi phạm pháp luật, vi phạm dân chủ.
Để phát triển giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục đại học nói riêng đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn
nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề thực hành dân chủ trong giáo dục ở các
trường đại học. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề “Thực hành dân chủ trong
giáo dục ở nhà trường đại học Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm
luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, giáo dục và dân chủ trong
giáo dục ở Việt Nam trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu tập trung chủ yếu
vào những vấn đề sau:
Nghiên cứu làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vai trò của
tư tưởng đó đối với sự nghiệp đổi mới đất nước có: PGS, TS. Phạm Hồng Chương
trong sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà
Nội, 2004. Trong công trình này tác giả đã đưa lại một cách nhìn khái quát về tư
tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh, phân tích nội dung dân chủ trong các lĩnh vực cụ
thể và làm rõ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc giáo dục ý thức dân chủ
cho người dân trong xã hội; TS. Phạm Văn Bính, với công trình: Phương pháp dân
chủ Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, phản ánh nét đặc
Cuốn sách “Phát triển nền giáo dục Việt Nam trong những thập niên đầu thế
kỷ XXI theo tư tưởng Hồ Chí Minh” do Nguyễn Thị Nga (chủ biên) đã phân tích khái
quát tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục trên những khía cạnh như mục
tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục để trên cơ sở đó khẳng định tư tưởng Hồ Chí
3
Minh về giáo dục không chỉ là ánh sáng soi đường, kim chỉ nam cho chiến lược phát
triển con người, phát triển giáo dục ở Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua, mà
còn định hướng cơ bản đối với việc đổi mới, chấn hưng phát triển nền giáo dục Việt
Nam trong thời gian tới.
Cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào đào tạo đại
học Việt Nam hiện nay” do TS. Hoàng Anh (chủ biên) xuất bản năm 2013 đã phân
tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, khẳng định tầm quan trọng của việc
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc nâng cao chất lượng đào tạo đại
học hiện nay và đề xuất một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
vào nâng cao chất lượng giáo dục đại học hiện nay.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục có cuốn sách của
TS. Võ Văn Lộc, Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục, nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, công trình đã có sự tìm tòi công phu để chứng
minh Hồ Chí Minh là người khai sáng nền dân chủ và giáo dục dân chủ mới ở Việt
Nam, tác giả tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục theo phương
pháp lịch sử, bằng sự trích dẫn các lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo chủ đề rồi
mô hình hóa, tác giả đã nêu lên một số quan điểm dân chủ của Người với đời sống
chung và đời sống giáo dục.
Về thực hành dân chủ ở các trường đại học, TS. Đồng Văn Quân với cuốn
sách “Thực hiện dân chủ trong các trường đại học nước ta hiện nay” do nhà xuất bản
Chính trị quốc gia phát hành năm 2014, đã nêu lên tầm quan trọng của việc thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở, khảo sát thực trạng thực hiện quy chế dân chủ ở các trường
đại học tại Việt Nam hiện nay và đề ra một số giải pháp để thực hiện tốt quy chế dân
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
- Mục đích:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
trong giáo dục từ đó tìm ra những giải pháp để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm
nâng cao hiệu quả việc thực hành dân chủ trong nhà trường đại học ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những
vấn đề sau:
+ Làm rõ khái niệm dân chủ, dân chủ trong giáo dục
+ Làm rõ một số nội dung tư tưởng dân chủ trong giáo dục của Hồ Chí Minh
5
+ Tìm hiểu thực trạng dân chủ trong giáo dục ở nhà trường đại học nước ta
hiện nay.
+ Luận văn đề xuất một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm
thực hiện dân chủ trong giáo dục ở nhà trường đại học Việt Nam đạt hiệu quả cao.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn
- Đối tượng:
+ Luận văn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục.
+ Sự vận dụng tư tưởng của Người trong thực hành dân chủ ở nhà trường đại
học nước ta hiện nay.
- Phạm vi:
+ Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng dân chủ và dân chủ trong giáo dục
của Hồ Chí Minh.
+ Đề tài tiến hành khảo sát việc thực hiện dân chủ trong giáo dục tại một số
trường đại học công lập ở khu vực Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
+ Thời gian khảo sát: từ năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp
thành chế độ dân chủ hay nền dân chủ.
Xuất hiện trong điều kiện có giai cấp nên cả Nhà nước và chế độ dân chủ đều
mang bản chất giai cấp. Nhà nước là công cụ để thực hiện lợi ích và duy trì quyền lực
của giai cấp thống trị, nên chế độ dân chủ bao giờ cũng chỉ phục vụ cho giai cấp
thống trị. V. Lênin gọi các chế độ dân chủ đó, kể cả dân chủ tư sản là dân chủ của
một thiểu số. Quần chúng nhân dân trong xã hội nếu có được hưởng một số quyền
dân chủ nào đó, thì điều đó chỉ do họ đấu tranh mà giành được, giai cấp thống trị
muốn tồn tại được buộc phải đáp ứng một số đòi hỏi dân chủ nhất định cho dân chúng
dù rất hạn chế và thường bị cắt xén.
Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu xuất hiện trong lịch sử khi giai cấp
công nhân tiến hành cách mạng, chống chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ quyền thống trị của
giai cấp tư sản và trở thành chủ thể của quyền lực, thiết lập nên nhà nước và chế độ
dân chủ của mình. V. Lênin gọi đó là nền dân chủ vô sản, dân chủ mang bản chất giai
cấp công nhân, dân chủ cho quảng đại quần chúng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân chủ được Người giải thích một
cách ngắn gọn khi trả lời cho câu hỏi “dân chủ là như thế nào?”: “là dân làm chủ”. Có
7
lúc Người diễn đạt: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”.
Cũng có thể thấy rõ hơn quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ với một sự lý giải cô
đọng khi Người viết:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền đoàn thể từ xã đến chính phủ do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [55, tr.232]
với mục đích, mục tiêu, chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời
sống xã hội” [35, tr. 106].
Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện
không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ
phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo
dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội.
Để phát huy được nhân tố con người trong giáo dục, ngày nay, xu hướng dân chủ hóa
giáo dục đang được đề cao và phát triển mạnh mẽ. Dân chủ hóa giáo dục có 2 cách
hiểu: 1) Trào lưu tư tưởng đổi mới, cải tổ nền giáo dục nhằm đáp ứng những nhu cầu
thực tiễn và thiết thực của đại đa số học sinh là con em nhân dân lao động. Dân chủ
hóa giáo dục đòi hỏi phải thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục
cho phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của đại bộ phận người học để họ có cơ
hội bình đẳng tiếp thu những giá trị văn hóa do giáo dục mang lại. 2) Biện pháp giáo
dục nhằm thay đổi phương pháp dạy- học sao cho phù hợp với sở trường và năng lực
tiếp thu của người học, khiến cho mỗi người học tự mình tích cực chủ động đến với
tri thức và sáng tạo ra con đường riêng để vươn tới và chiếm lĩnh một phần tri thức
một cách nhanh nhất và chắc chắn nhất. Dân chủ hóa giáo dục đối lập với biện pháp
giáo dục quyền uy, áp đặt một cách đồng loạt mọi yêu cầu, nội dung lên toàn thể
người học, do đó dân chủ hóa giáo dục có tác dụng khơi dậy và giải phóng tiềm năng
của từng người học để họ tự trở thành chủ thể giáo dục của chính bản thân mình”[35,
tr.64].
9
Bàn về khái niệm dân chủ trong giáo dục, nhà giáo dục John Dewey, trong
cuốn sách Dân chủ và giáo dục - một dẫn nhập vào triết lý giáo dục đã giải thích:
“bởi vì giáo dục là một tiến trình xã hội, và có rất nhiều loại xã hội, cho nên tiêu chí
dùng để phê phán và giải thích giáo dục hàm ý một lý tưởng xã hội cụ thể. Hai điểm
được lựa chọn ra đánh giá giá trị của một hình thái tồn tại xã hội là: mức độ chia sẻ
tự chủ, tự do phát huy năng lực sáng tạo đa dạng của mình với mục đích: nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân
để họ có thể tham gia vào đời sống xã hội.
1.1.3. Nhà trường đại học
Nền giáo dục của mỗi nước được chia làm nhiều bậc học khác nhau, trong đó
giáo dục đại học là bậc học đào tạo trình độ học vấn chuyên môn cao với mục tiêu
đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có
kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo, có sức
khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đào tạo trình độ đại học được
thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có có
bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp; từ một đến hai
năm đối người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành. Mục tiêu đào tạo
trình độ đại học nhằm giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng
thực hành về một ngành nghề, có kỹ năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông
thường thuộc chuyên ngành được đào tạo. Nội dung đào tạo trình độ đại học phải
đảm bảo cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành tương
đối hoàn chỉnh; có phương pháp làm việc khoa học; có năng lực vận dụng lý thuyết
vào công tác chuyên môn. Quá trình giáo dục đại học được thực hiện chủ yếu trong
các nhà trường đại học.
Nhà trường đại học là cơ sở giáo dục thuộc bậc đại học, kể cả học viện đào tạo
trình độ cao đẳng, đại học, có thể đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ khi được thủ tướng
Chính phủ giao, nhà trường đại học đặt dưới quyền của một hiệu trưởng (người đứng
đầu các đại học quốc gia, học viện, phân viện được gọi là giám đốc), nhằm đảm bảo
việc giáo dục sinh viên, học viên (nói chung là người học) và những hoạt động của
sinh viên, học viên, giảng viên và những thành viên khác” [35, tr. 447- 448].
11
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền giáo dục dân chủ
hội có giai cấp và giai cấp thống trị nắm lấy giáo dục như một công cụ để thống trị xã
hội, bảo vệ lợi ích của mình. Do đó, “ai cũng được học hành” là nhu cầu của phát
triển của cá nhân và cũng là nhu cầu phát triển của xã hội. Một dân tộc mà người dân
không được học hành là một dân tộc dốt và cũng là dân tộc không có sức mạnh. Được
học hành là quyền của mỗi con người và là động lực của sự phát triển xã hội. “Ai
cũng được học hành” là cơ sở lý luận cho việc hình thành các quan điểm về xã hội
học tập.
“Ai cũng được học hành” là mọi lứa tuổi đều được học tập, học suốt đời ở
nhiều điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Quyền được học tập trong độ tuổi, quyền vừa
học vừa làm việc và quyền được học tập trong độ tuổi nghỉ ngơi nghĩa là quyền được
học suốt đời. Đối tượng giáo dục là tất cả mọi người, không phân biệt già, trẻ, trai,
gái, thành phần giai cấp trong xã hội, kể cả những người tàn tật, thiểu năng đều có
quyền học tập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương tiêu biểu: cháu Nguyễn
Ngọc Ký tàn tật cả hai tay, dùng chân để viết mà đã cố gắng phấn đấu trở thành một
học sinh giỏi. Đó là tư tưởng mang tính nhân văn sâu sắc của Người.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam chỉ đến thời đại Hồ Chí Minh mới thực sự
thực hiện quyền phụ nữ bình đẳng với nam giới, đặc biệt quan tâm quyền học tập của
phụ nữ, phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc ít người. Theo Người: “Phụ nữ lại càng cần
phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới,
để xứng đáng mình là một phần tử trong nước” [53, tr. 41]. Người rất quan tâm đến
các phong trào của phụ nữ, coi trọng vai trò của phụ nữ khi khẳng định: An Nam cách
mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công. Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội.
Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Người rất
quan tâm đến các phong trào của phụ nữ: dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ
nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và
phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch ủy ban hành
chính, bí thư chi bộ đảng.v.v.. Đồng thời, Người cũng động viên chị em không ngừng
học tập: “Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa,
dục”, phải “nâng cao dân trí”, thậm chí phải “cưỡng bách học chữ quốc ngữ”. Hồ Chí
Minh đã phát động chiến dịch “Diệt giặc dốt”, xóa nạn mù chữ và phát động phong
trào “bình dân học vụ”, tạo thành một xã hội học tập làm cho dân ta ai cũng có điều
kiện được học hành.
14
Người đã chỉ đạo xây dựng, đa dạng hóa các loại hình nhà trường, thu hút mọi
tầng lớp con em nhân dân lao động vào học. Đồng thời mở rộng các hình thức tổ
chức dạy, học để mọi người dân đều được học. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các
ngành, các cấp chính quyền phải tạo ra cơ hội, thời cơ tốt để mọi người được đi học
và có thể được học. Khát vọng học tập của nhân dân ta bị đè nén trong suốt 80 năm
trời dưới ách thống trị của thực dân Pháp đã được thực hiện. Dưới sự dẫn dắt của
Người, chỉ sau một thời gian ngắn nền giáo dục Việt Nam mới đã nhanh chóng đưa
dân tộc ta từ chỗ 95% người mù chữ từng bước trở thành một dân tộc có học vấn, ai
cũng có quyền được học hành.
Có thể nói, “tư tưởng “Ai cũng được học hành” là một biểu hiện cao cả của
chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh mà xuất phát điểm đầu tiên của nó là từ lòng yêu
thương con người rất rộng lớn, đặc biệt là những con người nghèo khổ, bị áp bức bóc
lột. Ở tư tưởng này, dường như người ta còn thấy tư tưởng “hữu giáo vô loài” của
Khổng Tử, lại có cả bóng dáng của triết học phương Tây thế kỷ XVIII “giáo dục bình
đẳng cho mọi trẻ em”, đặc biệt là tư tưởng nhân văn cao cả của Mác- Lênin về giáo
dục phổ cập cho con người” [46, tr. 318- 319].
1.2.2. Lực lượng tham gia vào giáo dục chính là nhân dân để phục vụ cho
nhu cầu học tập của nhân dân.
Đỉnh cao của nền giáo dục dân chủ là tổ chức cho nhân dân tham gia vào giáo
dục và được hưởng thụ giáo dục. Ý tưởng xây dựng nền giáo dục dân chủ, nhân dân
đã được nhiều người đề cập đến trong những thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng chỉ
đến Hồ Chí Minh thì ý tưởng đó mới trở thành hiện thực, Hồ Chí Minh đã xây dựng
Nâng cao dân trí để xây dựng một xã hội dân chủ vì con người, cho con người
là mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh là. Nâng cao
dân trí là một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước dân chủ. Bởi lẽ: “Một dân tộc dốt là
một dân tộc yếu” [53, tr. 7]. Trong bài Chống nạn thất học đăng trên Báo Cứu quốc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nay chúng ta đã giành được quyền độc lập. Một trong
những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[53, tr. 40].
Trong một chế độ dân chủ, mục đích của giáo dục chính là đào tạo nên những
con người có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới. Trong bài
báo Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng, Hồ Chí Minh đã nhắc: “Chúng ta là
những người lao động làm chủ nước nhà” [61, tr. 527]. Chính vì là người lao động
làm chủ nước nhà, nên “muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ”, và Người
16
đã chỉ ra điều kiện: “Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng
lực tổ chức cuộc sống mới- trước hết là tổ chức nền sản xuất mới...” [61, tr. 527]. Với
mục tiêu của việc học tập như vậy, Người yêu cầu người dạy và người học phải có
thái độ đúng đắn, nghiêm túc và chí tiến thủ trong học tập, với tinh thần “học không
biết chán, dạy không biết mỏi” để có thể làm chủ bản thân, “làm chủ cuộc sống mới
do chúng ta xây dựng lên. Chúng ta làm chủ tương lai của mình và con cháu mình”
[61, tr. 538]. Mục tiêu của nền giáo dục dân chủ mới Việt Nam được Hồ Chí Minh
nêu rõ là: Đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam,
những lớp người có đủ đức, tài, vừa hồng, vừa chuyên, để có thể đảm nhận tốt vai trò
của người công dân trong quá trình tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa. Để đạt được mục tiêu đó, Hồ Chí Minh khẳng định mỗi công dân Việt Nam,
đặc biệt là thế hệ trẻ phải được giáo dục một cách toàn diện: “Trong việc giáo dục và
học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa,
văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [61, tr. 467]. Do vậy, học để có đủ năng lực
làm chủ không những là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi người công dân trong
chế độ dân chủ mới.
khí, phát triển tài năng của mọi người để phụng sự đoàn thể và góp phần vào cuộc
tiến hóa chung của nhân loại. Từ thực trạng nền văn hóa, giáo dục dưới sự đô hộ của
thực dân Pháp, Người vạch trần chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị của chúng.
Dùng ngòi bút với lời lẽ sắc bén để vạch trần bản chất của cái gọi là “khai hóa văn
minh” của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong chế độ cũ, những người đến
trường học, được “đào tạo nên những tay sai làm tôi tớ cho bọn thực dân”; những
người không đến trường lớp thì bị bọn thực dân đầu độc bằng các thói hư, tật xấu như
rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện và các tệ nạn xã hội. Chính vì thế, phải “ra sức tẩy sạch
ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại, như: Thái độ thờ ơ đối với xã
hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân; học để lấy bằng cấp, dạy
theo lối nhồi sọ” [59, tr. 185]. Không chỉ lên án, phê phán, vạch trần bản chất nền
giáo dục của chủ nghĩa thực dân, mà còn thông qua đó, Hồ Chí Minh muốn xây dựng
một nền giáo dục mới và xây dựng một xã hội mới. Với Hồ Chí Minh, con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội thì trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa. Để xây dựng chế độ dân chủ mới
ở Việt Nam, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến chiến lược trồng người mà biện pháp
quan trọng nhất là giáo dục.
18
Nền giáo dục mới nhằm đào tạo nên những con người toàn diện, đủ đức và tài.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, cũng như quan niệm của Người về vai trò của
giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có
tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những
con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức
khoẻ, thẩm mỹ. Khi nhìn nhận vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách
của con người, Người khẳng định:
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
sự phát triển xã hội, thì đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, dân chủ cũng chính là
động lực, là mục tiêu trong quá trình xây dựng một nền giáo dục mới. Chủ tịch Hồ
Chí Minh coi dân chủ là chìa khóa, là động lực của tiến bộ và phát triển. Người đặc
biệt chú trọng tới việc thực hành dân chủ để phát huy sáng kiến, kích thích lòng hăng
hái, qua thực hành dân chủ mà thực hiện và phát triển hành động sáng tạo của mình.
Xuất phát từ quan niệm về quyền hành, lực lượng cũng như lợi ích đều thuộc về quần
chúng nhân dân, Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là sự huy động và sử dụng đối
đa quyền hạn, lực lượng của toàn thể quần chúng trong nhà trường để thực hiện
những nhiệm vụ giáo dục của mỗi trường.
Theo Hồ Chí Minh, tất cả những hoạt động quản lý nhà trường đều trên cơ sở
bàn bạc dân chủ để tất cả các cán bộ, giảng viên có thể đóng góp ý kiến, cùng nhau
bàn bạc, xây dựng kế hoạch và thực hiện. Nói chuyện với Trường Thanh niên lao
động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình ngày 17- 8- 1962, Người đã căn dặn thầy giáo và
học sinh nhà trường: “Phải bàn bạc dân chủ. Có công việc gì, ban phụ trách trường
bàn bạc với anh em, làm cho tư tưởng mọi người thông suốt, động viên mọi người
cùng làm chứ không nên ban phụ trách định kế hoạch rồi bắt mọi người làm...” [62,
tr. 436]. Giải thích cho vấn đề này, Người đã từng viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ,
tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày
tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một
nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc
đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý” [59, tr. 378]. Khi mọi
người đã được đóng góp ý kiến để cùng nhau đi đến chân lý và thấu hiểu, thông suốt
thì việc thực hành chân lý đó sẽ diễn ra một cách tự giác. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn
20
nhấn mạnh vấn đề thực hành dân chủ, theo Người, “phải thực hành dân chủ, phải làm
cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn
thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”
[56, tr. 362].