TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN PHƯƠNG LINH
PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA NGƯỜI
VIỆT Ở MIỀN BẮC
Chuyên ngành: Việt Nam học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: Th.S Vũ Ngọc Doanh
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS, GVC Vũ Ngọc Doanh đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận. Đồng thời, tôi
cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy và trang bị cho tôi những kiến
thức cơ bản trong học tập nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Do trình độ hạn chế nên trong quá trình hoàn thành khóa luận khó tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong sự chỉ bảo thêm của quý thầy cô, sự góp ý
chân thành của bạn bè để giúp tôi hoàn thành và đạt được kết quả tốt hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2014
giúp ta hiểu được về một lễ nghi thiêng liêng của dân tộc, mặt khác cho ta
thêm yêu, tự hào về đời sống văn hóa- tinh thần đặc sắc này.
Cưới hỏi thường phải trải qua nhiều bước tương đối khắt khe và thực
hiện các lễ nghi quan trọng của lễ giáo phong kiến. Tuy nhiên, một số lễ nghi
trong cưới hỏi ngày nay đã bị biến đổi đi nhiều, gây lãng phí và dần làm mất
đi vẻ đẹp vốn có của nó. Thực trạng này đã và đang được dư luận xã hội lên
án, phê phán. Điều này cho thấy sự cần thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách
làm của nhân dân trong việc tổ chức lễ cưới sao cho phù hợp với cuộc sống và
phong tục, tập quán của nước ta để cưới xin thực sự là ngày vui, ý nghĩa của
đôi lứa, gia đình, người thân và bạn bè.
2. Lịch sử vấn đề
Cưới hỏi là một đề tài không phải là mới. Đã có rất nhiều tên tuổi nổi
tiếng viết về phong tục cưới hỏi của người Việt. Tiêu biểu như:
Hồ Sỹ Tân, Thọ mai gia lễ.
Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản văn hóa thông
tin, Hà Nội.
Phạm Côn Sơn, Gia lễ xưa và nay.
Lê Như Hoa (1998), Hôn lễ xưa và nay, Nhà xuất bản văn hóa thông
tin, Hà Nội.
Những công trình nghiên cứu này là tiền đề, là cơ sở cho tác giả tham
khảo và viết được bài nghiên cứu này.
1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phong tục cưới hỏi của người Việt ở miền Bắc
Phạm vi nghiên cứu: Phong tục cưới hỏi của người Việt ở miền Bắc
xưa (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX) và nay (từ đầu thế kỉ XX đến nay).
4. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Giúp cho ta có cái nhìn sâu, rộng và toàn diện về phong tục cưới hỏi
tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà mà không vì
một mục đích nào khác. Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở
châu Âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người
nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” hoặc: “Hôn nhân là hành vi
hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách
là vợ chồng”.
Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định: “Hôn
nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Điểm 6, Điều 8). Còn
theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà nội
hôn nhân được hiểu là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm
chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”.
Hôn nhân qua các khái niệm này đều phản ánh năm đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, tính tự nguyện trong hôn nhân: Hôn nhân là quan hệ giữa cá
nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ý chí ưng thuận giữa các bên trong hôn
nhân là một trong các điều kiện căn bản để hôn nhân có hiệu lực. Hiện nay,
pháp luật về hôn nhân và gia đình của các nước đều ghi nhận: Không có hôn
nhân khi không có sự tự nguyện.
Thứ hai: Tính bền vững (tính chất suốt đời) của hôn nhân: Pháp luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam luôn coi trọng tính bền vững của hôn nhân, vì
truyền thống gia đình Việt Nam và xuất phát từ vai trò hôn nhân là cơ sở: xây
dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (Điều 1, Luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000).
3
Thứ ba: Tính chất một vợ một chồng: Trong xu thế tiến bộ xã hội (đặc
biệt sự bình quyền giữa nam và nữ), sự khẳng định cá nhân con người ngày
càng lớn, đạo đức mới của con người không những phủ nhận kiểu hôn nhân
bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chin hồng mao,...).
Việt Nam là một trong những Bách Việt cổ nên ngay từ thuở dựng
nước đã chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc. Nhưng phải đến thời
Bắc thuộc, người Trung Quốc mới áp đặt những lễ giáo Khổng giáo một cách
có hệ thống vào xã hội Việt Nam. Mặc dù hơn một ngàn năm bị lệ thuộc
phong kiến Trung Quốc, có lúc nước ta phải trở thành quận, huyện của Trung
Quốc, nhưng văn hóa bản địa vẫn có sức sống mãnh liệt, không hề bị đồng
hóa, trở thành bản sắc văn hóa Việt Nam và ngược lại đồng hóa nền văn hóa
Trung Quốc. Mặt khác, mặc dù dân ta xưa kia chịu ảnh hưởng của những lễ
nghi Trung Quốc nhưng do điều kiện kinh tế, khí hậu, địa lí và những truyền
thống văn hóa riêng biệt gìn giữ lâu đời nên việc thực hành những lễ giáo ấy
cũng không hoàn toàn giống người Trung Quốc.
Đặc biệt, từ sau thời kì Bắc thuộc, ý thức độc lập dân tộc của người
Việt Nam được đẩy lên cao. Tầng lớp phong kiến thời Lý, Trần đã ý thức
được: sau khi giành lại độc lập tự chủ cho đất nước thì vấn đề cốt yếu là phải
tạo ra cho được một hệ thống phong hóa riêng cho mình. Đó chính là bản sắc
văn hóa Việt Nam. Với ý thức ấy năm 1483, Lê Thánh Tông ban hành Luật
Hồng Đức gồm 721 điều về luật hình, luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự
và tố tụng,…tạo cho phong hóa nước nhà có cơ sở pháp lí vững vàng. Năm
1663, vua Lê Huyền Tông đã ban hành điều giáo hóa: “Vợ chồng là gốc luân
thường. Lấy vợ gả chồng phải theo lễ nghĩa, không được suy bì giàu nghèo,
đòi nhiều tiền của. Lấy nhau không phân biệt họ hàng, nòi giống, không được
tham giàu sang mà phối hợp loạn luân thường…”.
Trung Hoa có Chu Công gia lễ, Chu Công lục lễ nhưng ở Việt Nam,
thời nhà Trần, ông Hồ Sĩ Dương (người làng Hải Thượng, sau ngụ ở Hồng
5
Mai, huyện Thọ Xương nên có biệt hiệu là Thọ Mai cư sĩ) đã soạn ra bộ sách
những người tham gia kháng chiến hay ở những chiến khu, nhưng sau này đã
trở thành phổ biến ở cả nông thôn, thành thị và trở thành “mode” của thời đại.
Vào những thập niên 60 (thế kỉ XX), Bộ trưởng Bộ văn hóa Hoàng Minh
Giám đã quyết định thành lập “Tổ Phong hóa”, cử đồng chí Hà Huy Giáp Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng Bộ văn hóa làm tổ trưởng. Tổ Phong hóa đã
nâng cao nền phong hóa nước nhà kết hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.
Mùa thu năm 1968, đồng chí Hà Huy Giáp thay mặt tổ Phong hóa trình bày
trước tiểu ban lí luận văn hóa - giáo dục Trung ương một văn bản quan trọng:
”Vấn đề cải tạo và xây dựng phong hóa trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta”. Tài liệu khẳng định: “Cải tạo và xây dựng phong hóa là yêu cầu
quan trọng vào bậc nhất của cách mạng nhằm góp phần xây dựng một xã hội
mới với những con người mới. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây
dựng nếp sống mới trong việc cưới”.
Sau năm 1975, khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, cuộc sống hòa
bình lập lại, người dân Việt Nam muốn tìm ra một mô hình cho nghi lễ hôn
nhân phù hợp. Tất nhiên, nghi lễ trong hôn nhân không thể trở lại như thời
phong kiến và cũng không thể tổ chức theo kiểu châu Âu, hay kiểu “tuyên
hôn” như thời kháng chiến ở chiến khu. Về việc cưới hỏi thời đó, những hợp
tác xã miền Bắc đã xây dựng những quy ước nhằm tổ chức đám cưới giản di,
lành mạnh, vui vẻ, đỡ tốn kém.
Năm 1985, Bộ văn hóa Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh đã phối hợp phát động xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa trong thanh
niên. Hoạt động đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa
trong việc cưới. Năm 1986, Ban chỉ đạo nếp sống mới Trung ương đã ban
hành “nghi thức cưới mới” nhằm khai thác vốn văn hóa truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, đồng thời xác định trách nhiệm của chính quyền nhân dân, trách
nhiệm của gia đình, cộng đồng trong hôn lễ. Đầu năm 1998, chỉ thi 27 -
7
Diễn biến của chủng tộc loài người về sau ngày càng thay đổi theo sự phát
triển của quan hệ xã hội, ở sự phát triển trong mối liên hệ giữa những tập
đoàn khác nhau của loài người. Những điều đó sẽ dẫn tới sự hôn phối giữa
các chủng tộc khác nhau, hình thành nên một kiểu hôn nhân thứ hai là “Quần
hôn”. “Khác với loạn hôn, hình thức quần hôn cấm đoán mọi việc kết hôn
trong quần thể nguyên thủy, chỉ thực hiện chế độ hôn nhân với các quần thể
khác”. Hình thức hôn nhân này là một sự tiến bộ đáng kể, nó đã hạn chế được
hậu quả xấu do việc hôn phối quần thể gây nên.
Bước sang thời kì tổ chức “Công xã thị tộc mẫu hệ”, thời kì này sức sản
xuất phát triển rõ rệt. Sự phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất chính là tiền đề
cho các tập đoàn sản xuất ổn định và đoàn kết. Mối giây liên hệ, ràng buộc
các tập đoàn này là do quan hệ dòng máu đem lại. Dòng máu đó được sản
sinh bởi sự liên hệ chặt chẽ với nhau giữa hai thị tộc. Do đó, những nhân tố
trên đã tạo điều kiện cho hình thức “hôn nhân ngoại tộc” ra đời. “Hôn
nhân ngoại tộc nghiêm cấm nam nữ trong cùng một thị tộc kết hôn với nhau.
Các thành viên trong thị tộc, dù là nam hay nữ, cũng chỉ được phép kết hôn
với một đối tượng ở thị tộc khác”. Chế độ hôn nhân này là một bước tiến vô
cùng quan trọng, nó không chỉ giữ gìn mối đoàn kết giữa các thành viên trong
cùng thị tộc, hạn chế những mâu thuẫn nảy sinh mà còn góp phần quan trọng
trong việc duy trì nòi giống cho muôn đời sau.
Trong xã hội thị tộc mẫu hệ phát triển, trình độ phát triển sản
xuất ngày càng lớn mạnh. Lúc này đời sống vật chất khá ổn định, nhu cầu
tinh thần nhất là về tình cảm của con người lại càng đòi hỏi cao hơn. Trong
quá trình cùng nhau lao động sản xuất, tình cảm giữa nam và nữ đã bắt đầu
nảy nở. Và nhất là nữ giới họ bắt đầu có khao khát được ở bên cạnh một
người đàn ông để được chia sẻ và cùng gánh vác công việc, hình thái
hôn nhân “Đối ngẫu” dần được hình thành. Đó là sự kết hợp của một cặp đôi
9
Trong thời kì “Mẫu quyền” thì hôn lễ được tổ chức ở nhà gái do người con
trai phải đến đó ở rể. Sau đó khi xã hội chuyển sang chế độ “Phụ quyền” thì
người đàn ông lúc này liên hệ mật thiết với gia tộc của mình, dựa vào địa vị
xã hội quan trọng mới giành được để đập tan trật tự hôn nhân của chế độ
“Mẫu quyền”, đưa vợ về nhà mình ở. Và điều này đã trở thành quy luật trong
cưới hỏi ngày nay. Sự thay đổi địa vị lao động nhưng không phải người
phụ nữ không còn sức lao động. Họ vẫn đem lại những giá trị lao động lớn
trong những ngành thủ công. Do vậy, khi gia tộc có người đi lấy chồng, theo
lệ thường, đòi nhà trai một khoản bồi thường nhất định. Đó chính là dấu ấn
về các khoản tiền cheo, tiền cưới trong lễ nghi cưới hỏi ngày nay.
1.4.2. Quan niệm
Trong tâm thức người Việt thì lễ cưới có giá trị cao hơn cả giấy chứng
nhận đăng ký kết hôn. Sự quan tâm lớn của xã hội vào buổi lễ này đôi khi gây
sức ép lên những người tổ chức: họ phải đảm bảo để có thể làm hài lòng
nhiều người tham dự. Trước đây, trong lễ cưới Việt Nam, những người tham
dự thường đem tặng các đồ mừng đám cưới. Quà cưới thường trang trọng,
được bọc giấy điều. Trong đám cưới, ban lễ tân (thường là người thân) đứng
ra nhận quà mừng. Có những đám cưới tổ chức tiệc trà, đơn giản hơn tiệc
cưới thông thường, có ý không yêu cầu người tham dự mang quà mừng. Còn
ngày nay, chỉ với những bạn bè thân thiết của cô dâu và chú rể mới tặng quà
cưới cho hai người và ông bà bố mẹ với những người thân trong họ hàng, trao
quà cưới làm của hồi môn cho đôi tân giai nhân. Còn lại tất cả khách mời đều
mừng bằng phong bì tiền, và đó là cách đơn giản gọn nhẹ nhất, cũng tiện nhất
và hợp ý của người tổ chức.
Thời phong kiến, theo luân lý "tam cương ngũ thường", con cái mà có
cha khi nào cũng ở địa vị phụ thuộc, việc hôn nhân của con cái cha mẹ có quyền
độc đoán và "đặt đâu ngồi đấy". Nếu con cái không bằng lòng với người vợ hay
chồng mà cha mẹ chỉ định thì chỉ có cách bỏ nhà ra đi. Chính sự không cần biết
bên trò chuyện, nhà gái kín đáo cho cô gái mà nhà trai ướm hỏi ra chào hỏi
mọi người. Thường là cô gái ra mời trầu, mời nước. Cô gái chỉ xuất hiện một
13
lần rồi trở lại buồng riêng của mình. Đây cũng chính là cơ hội để nhà trai và
chú rể quan sát cô gái. Bà mối yêu cầu cô gái trang điểm nhẹ nhàng, giản dị,
nhưng nhất thiết không được đội khăn mỏ quạ che kín gáy và hai tai. Bởi vì
nhà trai và chú rể không chỉ quan sát mặt của cô gái mà còn ngắm nhìn cả
tướng mặt bao gồm cả mắt, mũi, miệng,…
Khi đã quan sát kĩ lưỡng nét mặt, dáng đi, giọng nói, cử chỉ của cô gái
thì nhất thiết trong họ nhà trai sẽ có một hai bà ra ngoài đi quan sát từ sân,
ngõ, bếp, chuồng trại chăn nuôi,… vì những chỗ đó bừa bãi hay gọn gàng đều
đủ để nói lên tính cách của cô gái. Nếu nhà trai được nhà gái mời ở lại dùng
bữa thì đó sẽ là dịp cho cô gái trổ tài nấu nướng của mình và là điều kiện để
nhà trai thẩm định về công - dung - ngôn - hạnh của nàng dâu tương lai.
Về bản chất, lễ nạp thái này chính là cơ hội để nhà trai đến thăm hỏi,
trò chuyện với nhà gái, thấy được tận mắt gia đình nhà gái (tránh được những
lời nói dối của bà mối) và sau đó nhà trai sẽ quyết định đi đến hôn lễ hay
không. Có nhiều gia đình, sau lễ nạp thái này, hai bên nhà trai nhà gái trở nên
khăng khít và tiếp tục tiến hành lần lượt các lễ tiếp theo. Đôi khi, cũng có
những gia đình sau lễ nạp thái bỏ ý định kết hôn. Vì vậy, buổi ra mắt nhà trai
đòi hỏi nhà gái phải chuẩn bị thật chu đáo, nhà cửa sửa soạn tươm tất, gọn
gàng để làm vừa mắt nhà trai. Bà mối cũng có vai trò hết sức quan trọng trog
vấn đề này, bởi lẽ họ sẽ là người thăm hỏi, dò xét sở thích, thái độ của họ nhà
trai để giúp nhà gái sửa soạn một cách tốt nhất. Ngược lại, bà mối cũng giúp
nhà trai khắc phục những khiếm khuyết để không bị nhà gái từ chối.
Nếu nhà gái nhận lễ thì bước đầu tiên trong chặng đường hôn nhân coi
như đã xong. Nhưng đây không phải là lễ có ý nghĩa ràng buộc hai bên lại với
lễ hay hai gia đình có những vướng mắc trong quá trình diễn ra các nghi lễ
cưới hỏi, họ sẽ thông qua người mai mối để giải quyết. Vai trò của bà mối chỉ
thực sự kết thúc khi đám cưới được diễn ra một cách suôn sẻ, trọn vẹn. Những
người chuyên làm nghề mối lái, nếu đẹp đôi vừa lứa thì bà mối sẽ trở thành ân
15
nhân suốt đời. Lễ tơ hồng xong, tạ bà mối một nửa mâm xôi, nửa con gà kèm
theo chiếc áo lụa. Chẵn tháng con đầu lòng thế nào cũng cố mời bà mối đến
dự để tỏ nghĩa tri ân.
2.2.2. Lễ vấn danh
Đây là lễ mà nhà trai đến để hỏi tên tuổi của cô gái. Trong thời kì
phong kiến, ở nhiều vùng nông thôn miền Bắc, con gái từ khi sinh đến khi lấy
chồng vẫn chưa đặt tên, nếu như gia đình không cho con gái đi học. Con gái
không cần vào sổ họ, sổ làng, không đi học nên cũng không cần dặt tên vội. ở
trong nhà con gái mới sinh ra được gọi là con Hĩm, con Mực, con Chắt
em,...Trong nhà gọi tên gì thì xóm giềng gọi theo tên đó. Đến làm lễ vấn
danh, ông bác hoặc bố mới đặt cho cái tên để ghi trong giấy hôn thú, có khi
chính người mang tên cũng không biết mình mang tên gì trong giấy hôn thú,
vì khi về nhà chồng lại gọi theo tên chồng, khi có con gọi theo tên con, có
cháu đích tôn gọi theo tên cháu. Lễ vấn danh không phải để hỏi tên mà chủ
yếu là hỏi tuổi, để hai họ quyết định đôi nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được
nhau, tuổi xung khắc thì thôi.
2.2.2.1. Lễ vật
Nhà trai thông qua người mối cử một đoàn gồm vài ba người với lễ vật
gồm chè, rượu, trầu cau đến nhà gái.
2.2.2.2. Cách thức tiến hành
Khi nhà trai đến thì nhà gái đưa ra một tờ giấy, trong đó ghi đầy đủ họ
tên, ngày, tháng, năm sinh của cô gái, đôi khi còn bao gồm cả giờ sinh nếu
trong họ nội. Đoàn đi ăn hỏi mặc áo the, đầu đội khăn xếp. Trong lễ hỏi bắt
buộc phải có chú rể đi cùng vì đây là lần đầu ra mắt gia đình và họ hàng bên
nhà vợ.
2.2.3.3. Các việc cần làm
Bên nhà gái trong dịp này thường mời bà con thân cận nhất đến tham
dự lễ hỏi và làm cơm thiết đãi nhà trai. Cô dâu chỉ cần ăn mặc gọn gàng hơn
17
ngày thường. Trước lúc nhà trai tổ chức lễ ăn hỏi, thường phải lễ gia tiên và
cúng nhà thờ họ. Khi đến nhà gái, người dẫn đầu (ông nội, trưởng họ) dâng lễ
đưa lễ cho nhà gái. Nhà gái ra nhận lễ và đưa một ít lễ vật lên bàn thờ. Sau đó,
bố cô dâu thắp hương khấn vái và thông báo với tổ tiên.
Nội dung chủ yếu trong lễ hỏi là gia đình nhà trai đặt vấn đề chính thức
với nhà gái và nhà gái chấp nhận con rể, thông gia. Nếu lễ hỏi gần với lễ cưới
thì hai bên sẽ bàn tới ngày cưới. Lễ hỏi thường kéo dài khoảng ba mươi phút
đến một giờ. Cô dâu tương lai phải đi đun nước và mang nước lên mời mọi
người, chú rể thì ngồi im một chỗ. Sau khi được sự cho phép của hai gia đình,
chú rể mới được xuống bếp cùng cô dâu.
Trước khi nhà trai ra về có tục “lại quả” cho nhà trai. Nhà gái chia một
phần lễ vật cho nhà trai mang về. Riêng đối với cau, khi chia phải xé, không
được cắt. Phần vật lễ còn lại nhà gái dung để chia cho họ hàng. Chia bánh,
cau, chè,… phải chia theo số chẵn. Việc chia đồ lễ này có ý nghĩa nhà gái
muốn thông báo cho bạn bè, họ hàng, lối xóm biết con gái mình đã đính hôn.
Trước đây, trong thời kì phong kiến, sau lễ ăn hỏi không tổ chức lễ
cưới ngay mà ít nhất là ba tháng, bình thường là một năm hoặc nhiều nhất là
ba năm. Sau lễ hỏi, theo quan niệm phong kiến ở miền Bắc, trai gái đã gần
như chính thức là vợ chồng, hai bên đã thành thông gia, vì vậy, họ phải thực
hiện các nghĩa vụ như khi đã thành gia thất. Trong thời gian này, chàng rể
hoa tai, xà tích do mẹ chú rể mang sang khi đi xin dâu cùng bà mối. Trước lễ
cưới hai đến ba ngày, nhà trai tiến hành đi xin dâu và bao giờ cũng đi vào
buổi sáng. Đoàn đi xin dâu gồm mẹ chú rể, bà mối và một số bà con họ hàng.
Trước khi đi xin dâu, nhà trai làm lễ cáo gia tiên. Đến nhà gái, đồ lễ vật đã
được nhà trai bày ra sân, còn trầu cau, tiền, bánh được đưa vào nhà đặt lên
bàn thờ để trình báo tổ tiên nhà gái.
Lễ vật mà nhà trai dẫn cưới thường bao gồm ba lễ mặn. Đây là ba lễ bắt
buộc dù cho gia đình nhà trai giàu hay nghèo:
19
Lễ nhà tộc trưởng bên vợ.
Lễ tại nhà thờ cậu của vợ.
Lễ gia tiên tại nhà.
2.2.5. Lễ thỉnh kỳ
Tức là nhà trai hẹn ngày xin cưới. Sau lễ nạp chính, nhà trai ra về và
hẹn nhà gái ngày, giờ đón dâu.
2.2.6. Lễ thân nghinh (Lễ đón dâu, rước dâu)
Lễ thân nghinh là lễ mà nhà trai sang nhà gái đón dâu về, chính vì vậy
mà thường được chuẩn bị sang trọng, lịch sự. Việc tổ chức ngày lễ này cần
phải kiêng kị một số điều như: bản thân cô dâu, chú rể không ở thời gian đại
tang, ngày giờ cưới phải tránh các ngày đại kỵ (giờ sát,…) và đồng thời tránh
tháng ngâu tức là tháng bảy Âm lịch.
Sau khi đã định xong ngày, giờ đón dâu, chủ hôn cử người mang trầu
cau đi đến mời ông cầm hương. Ông là người sẽ cầm bó hương dẫn đầu đám
cưới dâu. Thường thì sẽ chọn người đứng tuổi, phúc hậu, gia đình nề nếp, vợ
chồng song toàn, con cháu đông đúc, hòa thuận và đặc biệt là gia đình không
có tang chế.
2.2.6.1. Trang phục của cô dâu, chú rể
với chủ hôn nhà gái ngày giờ tốt để đón dâu và lúc này, đoàn đón dâu bắt đầu
về nhà trai.
Khi đoàn đón rước dâu về gần đến nhà, một người trong đoàn đi về
trước để thông báo cho gia đình. Nhà trai chờ đoàn đón dâu và đến ngõ thì đốt
một tràng pháo. Trước lúc đoàn đón dâu vào cổng, mẹ chồng thường mang
bình vôi tránh sang nhà hàng xóm. Sau khi đoàn đón dâu đã yên vị, mẹ chồng
mới lặng lẽ đặt bình vôi vào chỗ cũ và ra tiếp chuyện.
Trước cửa nhà trai thường đặt một hỏa lò than hồng, cô dâu phải bước
qua để đốt đi những vía dữ cô gặp trên đường. Ở nhiều nơi còn có tục chăng
dây, đóng cổng làng, cổng ngõ. Nhà trai phải chịu tục này khi lấy vợ làng
21
khác do một số người bên làng nhà gái tổ chức. Còn đối với những đám trai
làng lấy gái làng thì có tục chăng dây ngõ hay đóng cổng vào nhà gái. Hình
thức phổ biến là trên đường dẫn vào nhà gái, người ta để một chiếc bàn nhỏ.
Trên bàn có một lọ hoa và một sợi chỉ chăng ngang đường. Khi đoàn nhà trai
đến, người ta đốt một bánh pháo ngụ ý chào và đợi ý tứ của nhà trai. Bố chú
rể phải có lời xin và đưa một ít tiền mừng xin phép cởi dây.
Sau khi cô dâu chú rể về nhà chồng, họ phải làm lễ gia tiên và lễ lạy bố
mẹ chồng. Cô dâu quỳ lạy hai lạy và bố mẹ chồng sẽ tặng cho cô dâu một
món quà. Tại đây, cô dâu, chú rể cũng lạy cả những người bề trên bên nhà
chồng và họ tặng lại quà cho họ. Sau đó, mấy chị em họ nhà chồng đưa cô
dâu đi lễ nhà thờ họ. Tiếp theo, cô dâu trở về nhà chồng và làm lễ “tơ hồng”.
Lễ tơ hồng thường tế ngoài trời phía trước sân nhà. Bàn tế thường thiết lập
ngay sau khi đoàn đón dâu vào nhà, gồm có: hương án, bát hương, bài vị, hai
cây nến và một mâm cỗ. Ông cầm hương khấn trước, cô dâu lễ ngồi và chú rể
lễ quỳ. Cô dâu chú rể đứng hàng ngang trên chiếu trước hương án, lạy bốn lạy
rồi quỳ. Hai bên hương án có hai người chấp sự, một người đọc văn tế, một