I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, chúng ta đang tiến hành cuộc cách mạng toàn diện trên mọi lĩnh vực,
trong đó đổi mới giáo dục là một trong những trọng tâm của công cuộc đổi mới.
Với quan niệm giáo dục là quốc sách hàng đầu, báo cáo chính trị của đại hội
Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ”.
Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp
tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận
động lớn như : "Hai không", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng
tạo", "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Qua thực hiện các cuộc
vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về giáo dục nói chung, trong có bộ môn
Vật lý nói riêng.
Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ học
sinh trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để tất cả các đối tượng học sinh
này có thể giúp cho học sinh khai thác tối đa bài giảng của thầy, nhất là đối với học
sinh yếu là vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng
tiếp thu bài, phong cách nhận thức, sức khoẻ… so với những học sinh khác. Cần
xem xét những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm ra
những biện pháp nhằm dẫn dắt các em thu được kết quả cao nhất, tránh cho các em
bị rơi vào những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân
muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng
học sinh yếu.
1
Vấn đề học sinh yếu kém hiện nay luôn được cả xã hội quan tâm và tìm giải pháp
trong học tập nói chung và môn Vật lý nói riêng là việc làm rất cần thiết. Nếu làm
được điều này chúng ta sẽ nâng dần được chất lượng giảng dạy nói chung và bộ
môn Vật lý nói riêng, đồng thời sẽ làm cho các em thích học, thích đến trường, yêu
trường yêu lớp hơn và đặc biệt sẽ giảm được số lượng học sinh bỏ học hơn.
Trong năm qua tôi luôn suy nghĩ tìm các nguyênnhân và các giải pháp khắc
phục, tôi đã vận dụng vào thực tiễn giảng day của bản thân và truyền đạt thảo luận
trong tổ chuyên môn để các đồng chí khác học tập. Trong năm học 2012 – 2013, tôi
được phân công dạy môn Vật lý ở các lớp, 10A1, 12B2, 12B4, đây là hai trong các
lớp có số học sinh yếu kém nhiều nhất khối 12, có nhiều học sinh trong lớp nằm
trong diện lưu ban lại, đa số các học sinh này yếu ở tất cả các môn, trong đó có bộ
môn Vật lý.
Với những lí do trên, ngay đầu năm học bắt dầu từ giai đoạn tổ chức lớp cho đến
khi giảng dạy, bản thân tôi luôn nuôi một niềm hy vọng là làm sao đề số học sinh
yếu kém có hứng thú trong học tập, yêu học tập và đặc biệt là thích học môn Vật lý.
Và đây cũng chính là lí do năm nay tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm trong
công tác phụ đạo học sinh yếu kém ” để viết.
3
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung do Bộ GD & ĐT phát
động, trong đó có nội dung “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” là một trong
những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta hiện nay nhằm
đánh giá thực chất chất lượng học sinh. Bên cạnh đó cũng phản ánh được chất
lượng và hiệu quả giảng dạy của giáo viên. Những học sinh lên lớp là những học
sinh có kiến thức thực sự, xứng đáng đựơc lên lớp. Những học sinh không đảm bảo
được yêu cầu sẽ không được lên lớp. Xuất phát từ vấn đề này, chúng ta không thể
hiểu theo hướng là vô tư để học sinh yếu kém “ở lại lớp” mà không có trách nhiệm
Điều quan trọng ở đây là học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ và
hành động, tích cực phối hợp với giáo viên, có suy nghĩ, cân nhắc kĩ lưỡng những
thông tin nhận được để “ lấp lại lỗ hổng kiến thức” và phải luôn có hành động phản
hồi lại kiến thức một cách chính xác, khoa học nhất.
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin được trình bày một số nguyên nhân
khách quan và chủ quan từ phía các Thầy Cô giáo giảng dạy bộ môn làm đã làm
tăng tỉ lệ học sinh yếu kém và một số giải pháp cụ thể đối với bản thân người giáo
viên trực tiếp giảng dạy để giảm bớt tỉ lệ học sinh yếu kém môn Vật lý ở trường
THPT hiện nay.
2. Thực trạng của vấn đề
Qua những năm công tác giảng dạy bộ môn Vật lý ở một trường bán công, bản
thân tôi xin đưa ra và phân tích những thực trạng và những nguyên nhân khách
quan, chủ quan dẫn đến chất lượng học tập của học sinh yếu kém ở Trường THPT
Đinh Chương Dương-Hậu lộc nói riêng và các trường THPT nói chung sau đây:
a. Về phía nhà trường
Trường THPT Đinh Chương Dương được thành lập năm 1998, khi mới thành lập
là một trường bán công của Huyện Hậu lộc, đến năm 2010 trường mới được
5
chuyển sang hệ công lập. Do đó, trong hơn 10 năm đầu trường chỉ được xét tuyển
các học sinh do các trường công lập trong Huyện loại ra nên số học sinh này chỉ
đảm bảo cho nhà trường về mặt số lượng, còn về chất lượng 2 mặt là học lực và
đạo đức thì rất thấp nên số học sinh yếu kém chiếm từ 70-80%. Từ năm 2010 đến
2013 nhà trường được chính thức thi tuyển học sinh nhưng vì lâu nay nhà trường
không có chất lượng học sinh, không tạo được uy tín trong lòng phụ huynh học
sinh nên chất lượng học sinh tuyển vào vẫn còn thấp, khoảng 50-60% là yếu kém.
Bên cạnh đó, Trường đóng trên địa bàn Thị trấn Huyện Hậu lộc, là trung tâm phát
triển kinh tế và cũng là nơi có nhiều trò chơi gải trí, quán xá... nên làm ảnh hưởng
c. Về phía gia đình học sinh
- Đa số Gia đình học sinh làm nghề nông nghiệp hoặc nghề biển nên gặp nhiều
khó khăn về kinh tế khiến trẻ không chú tâm vào học tập, cũng như Bố mẹ lo làm
lụng suất ngày không có thời gian quan tâm chú ý đến việc học tập của các em; một
số ít phụ huynh trong vùng đi làm ăn xa để con ở nhà một mình hoặc với ông bà già
lâu lâu mới về nên việc quan tâm chú ý đến việc học tập của các em và phối hợp
giáo dục với nhà trường, với Thầy Cô giáo là rất hạn chế. Bên cạnh đó, có một bộ
phận lớn phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học
tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô.. Một số gia đình không hạnh phúc
ảnh hưởng đến học tập của học sinh. Người lớn chưa làm gương về chuyện học.
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh
lười học xin nghỉ để làm việc riêng cha mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình
là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn bản...và rồi yếu kém
dần đi
d. Về phía giáo viên
Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần
ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Người ta thường nói “ có Thầy hay thì
7
mới có trò giỏi ”. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi
hỏi giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi
thì sẽ giảng dạy tốt mà điều quan trọng nhất ở đây là người giáo viên phải phân loại
và nắm rõ được các nhóm đối tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để từ đó
biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là phù hợp với từng đối tượng học sinh và
với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác bản thân nhận thấy, vẫn còn
một bộ phận nhỏ giáo viên chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh, đặc biệt
là học sinh yếu kém. Chưa chịu khó tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích
pháp cũ truyền thống, phương pháp giảng giải nêu vấn đề thường là phương pháp
chủ đạo làm cho học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động nên rất dễ quên
kiến thức nếu không học thuộc lòng, học bài thường xuyên. Nhiều giáo viên còn
đọc cho học sinh chép đã tạo cho các em thói quen không tự rèn luyện được tính
làm việc độc lập, tự nghiên cứu có hiệu quả, thậm chí học sinh không quan tâm
giáo viên giảng bài như thế nào mà khi đọc cho ghi thì mới ghi vào vở, kiến thức
ghi có thể không chính xác do nghe lộn dẫn đến hiểu sai lệch kiến thức, lâu dần sẽ
mất căn bản môn học.
- Còn một số giáo viên chưa nắm chắc những những yêu cầu kiến thức của từng
bài dạy nên nhiều giáo viên còn “tham” kiến thức trong các tiết dạy nên việc dạy
học còn dàn trải, còn nâng cao kiến thức một cách tùy tiện, dạy cả những phần chỉ
dành đọc thêm, đặc biệt với các giáo viên mới ra trường mang tâm lí thể hiện bản
thân, chưa chú trong đến đối tượng học sinh.
- Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng;
có những tiết giáo viên còn nói lan man, ngoài lề chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm
nên khi giáo viên đưa ra câu hỏi thì lập tức học sinh không tự suy nghĩ trả lời mà
lập tức cắm cúi vào sách giáo khoa, vào tài liệu, có khi còn sợ bị gọi trả lời, làm tiết
học trở nên trầm trầm rời rạc. Kết quả là giáo viên thường xuyên bị “ cháy” giáo
9
án, học sinh nắm bài hời hợt trở thành yếu kém làm hiệu quả tiết dạy chưa cao .
- Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối
tượng còn hạn chế, việc tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phù
hợp.
- Môn Vật lý là một môn học thực nghiệm nhưng một lượng lớn giáo viên sử dụng
đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác
hết tác dụng của đồ dùng dạy học; một số giáo viên thì ngại sử dụng nên đã làm
cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh trở nên thụ động, không tạo được hứng thú
bình thường.
Nhóm 3: Có kiến thức cơ bản, có ý thức học tập nhưng chưa có phương pháp học
tập đúng đắn
Nhóm 4: Học sinh không quan tâm, lơ là việc học, học sinh lười học.
c. Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém
* Các biện pháp chung
- Giáo dục ý thức học tập, hình thành lòng ham thích và say mê môn học cho
học sinh: Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự
hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh ham học, có ý thức vươn lên
trong học tập, bằng cách:
+ Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh
thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn.
+ GV phải tăng cường sử dụng triệt để các thí bị thí nghiệm, ĐDDH sẵn có và tự
làm trong các bài học, tăng cường cho học sinh làm các thí nghiệm thực hành.
Đồng thời, giáo viên dịnh hướng và giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh (đặc biệt
là nhóm các học sinh yếu kém) tự làm các thí nghiệm đơn giản và các ĐDDH có
trong chương trình học.
11
+ Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia
đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò
chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên
trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học. Đồng thời, giáo
viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh. Do hiện nay, đa số
các phụ huynh thiếu sự quan tâm đến con cái, bản thân phụ huynh cũng chưa hiểu
được tầm quan trọng của việc học tập. Giáo viên cần phân tích để các bậc phụ
huynh thể hiện sự quan tâm đúng mức. Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy
cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên.
sinh, học sinh hiểu rằng sự nghiêm khắc ấy nhằm mục đích giáo dục, vì bản thân
các em, không có sự trù dập hay phân biệt đối xử với học sinh.
- Giáo viên phân loại các đối tượng học sinh: Trong thực tế người ta nhận thấy
có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về
phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc
tổ chức các hoạt động sư phạm thông qua đặc trưng này.
Do đó, để các biện pháp và phương pháp đưa ra đạt được hiệu quả thì người
Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn
có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng
của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả
năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm
tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp hơn.
Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho
đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các
em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích
thực của mình trong tập thể.
13
Ví dụ yêu cầu luyện tập của một tiết là 5 bài tập, các em này có thể dành cho 2-3
bài, còn 2-3 bài mức độ cao hơn dành cho các dối tượng học sinh khá hơn.
Ngoài ra, giáo viên có thể đề nghị với nhà trường tổ chức phụ đạo cho những học
sinh yếu khi các biện pháp giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Có thể tổ
chức phụ đạo từ 1 đến 3 tiết trong một tuần. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải
được giáo viên chuẩn bị kỹ, làm sao cho học sinh đi học phụ đạo thấy được rằng
việc đi học này có tác dụng, bổ ích, học sinh có khả năng tiếp thu và tiến bộ trong
học tập thì công tác phụ đạo mới thu hút được học sinh và phát huy được tác dụng
của nó.
phần kiến thức và hệ thống bài tập giao về nhà phải phù hợp với các nhóm học sinh
yếu kém ở trên.
+ Trong các tiết dạy tôi thường hỏi han việc học và giải bài tập về nhà của các
em, một mặt để tỏ thái độ quan tâm, nhắc nhở và để tạo sự cởi mở trong giao tiếp
làm cho các em không ngần ngại.Mặt khác để các em có cơ hội hỏi giáo viên
những chỗ các em bị vướng mắc, chưa hiểu để về nhà giải tiệp
+ Đến cuối tuần tôi kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các em, thu bài lại để
chấm và dành thời gian thích hợp để chỉ cho các em các lỗi sai ( Đây là một yếu tố
để đưa vào đánh giá học sinh yếu kém)
- Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh
Theo tôi, với đối tượng học sinh này thù việc kiểm tra đánh giá các em có vai trò
rất quan trọng trong việc làm cho các em tiến bộ hay yếu hơn nên trong quá trình
dạy các lớp học sinh này khi kiểm tra đánh giá chúng ta cần chú ý:
Đối với kiểm tra:
15
+ Hệ thống câu hỏi phải thật đơn giản, dễ hiểu
+ Nội dung câu hỏi phải sát với các kiến thức cơ bản trọng tâm trong bài học
+ Trong các bài kiểm tra nên kết hợp cả hình thức TNKQ và tự luận, hệ thống
câu hỏi và bài tập đưa ra phải vừa sức với đối tượng này.
+ Phải chấm bài một cách nghiêm túc, tìm ra những chỗ đúng mà các học sinh
này làm được để cho điểm để động viên khích lệ.
+ Lời phê vào bài kiểm tra của những học sinh này rất quan trong nên: phải
khen nhiều chê ít và chỉ rõ cái sai trọng tâm cho học sinh.
+ Khi trả bài phải dành thời gian khen ngợi tuyên dương trước tập thể lớp và
phải sửa cho học sinh này những cái sai cụ thể nhất để các em khắc phục.
Đối với việc đánh giá kết quả học sinh:
Khi đánh giá đối tượng học sinh này, bản thân tôi luôn kết hợp nhiều mặt trong
kiểmn tra 15 phút, điều tra …Công cụ đánh giá chính của tôi là tính xác suất học
sinh hiểu bài thông qua quá trình học sinh xây dựng bài học và vận dụng kiến thức
ở chính tiết học đó. Từ đó sàng lọc học sinh thành nhiều cấp độ nhận thức và nắm
bắt được cụ thể các học sinh yếu kém bộ môn này. Sau khi sàng lọc và phân loại
học sinh ( 4 nhóm yếu kém như trên), Tôi dựa trên những biện pháp chung ở trên
để đưa ra các biện pháp cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh yếu kém
như sau:
- Đối với nhóm 1: Học sinh mất căn bản kiến thức chung, không có hoặc có khả
năng tiếp thu bài rất thấp ( Ta hay nói ngắn gọn là “ Học sinh mất gốc ” ).
Do Trường THPT Đinh Chương Dương– Huyện Hậu lộc- là trường bán công
được thành lập năm 1998 và mới được chuyển sang hệ công lập từ năm 2010: Tỷ lệ
17
học sinh yếu kém rất cao, thậm chí có những lớp số học sinh này chiếm từ 50% dến
70%. Vì thế mà đối tượng học sinh yếu kém thuộc nhóm 1 chiếm phần đông.
Qua thưc tiễn giảng dạy, tôi thấy học sinh thuộc nhóm này yếu kém ở các
khâu sau đây:
+ Các em thiếu kiến thức cơ bản ở cấp dưới, có tiếp thu được nhưng không hiểu
được nhiều kiến thức bài dạy của Thầy Cô trên lớp và dẫn đến không nắm được
kiến thức cơ bản trọng tâm của các bài học.
+ Các em không nắm được hệ thống đơn vị và không biết đổi đơn vị của các đại
lượng.
+ Các em không hiểu được, không xác định được đề và không tóm tắt được một
bài toán dù đơn giản nhất
+ Các em không giải sử dụng được cũng như không biến đổi được các biểu thưc,
công thức đơn giản nhất.
+ Các em không biết tính toán và cả không biết dùng máy tính để tính toán các
phép tính đơn giản
cũng không nên che bai trước lớp mà phải tìm những cái nhỏ nhất mà học sinh làm
được để khen hoặc khen về mặt tự giác học tập của học sinh.
- Đối với Nhóm 2: Có ý thức học tập, có khả năng tiếp thu bài nhưng chậm so với
học sinh bình thường.
Qua thưc tiễn giảng dạy, tôi thấy học sinh thuộc nhóm này yếu kém ở các khâu sau
đây:
+ Các em kiến thức cơ bản ở cấp dưới, có tiếp thu được kiến thức bài dạy nhưng
với tốc độ chậm
+ Khả năng xử lí kiến thức, xử lí công thức của các em cũng chậm.
+ Do đó, khả năng xử lí và tốc độ giải bài tập cũng chậm
Một số giải pháp cụ thể sau đây:.
19
+ Giáo viên chia nhỏ nhóm học sinh này ra, các nhóm được chia càng nhỏ càng
tốt, phân công các học sinh khá về học cùng nhóm này để giúp đỡ các học sinh yếu
này. Ban đầu tôi cho học sinh tự chọn nhóm theo mong muốn cá nhân, sau một thời
gian nếu chưa hợp lý thì điều chỉnh. Tôi ghi lại danh sách các nhóm, theo dõi sát
trong quá trình học cũng như sau mỗi bài kiểm tra, nếu nhóm nào tiến bộ tôi tuyên
dương và cộng điểm thưởng nhóm trưởng.
+ Giáo viên chú ý phân tích cho học sinh những kiến thức thường sai, việc phân
tích này thường xuyên thực hiện kết hợp trong các tiết học bài mới cũng như các
tiết luyện tập để giúp các em lấp lỗ hổng, chỗ yếu thường xuyên hơn.
+ Học sinh yếu kém khả năng tiếp thu và nắm bắt kiến thức chậm, nên giáo viên
cần giảm tải quá trình nhận thức của học sinh bằng cách giản lược hóa nội dung bài
học, rút gọn lại dưới dạng trọng tâm, truyền tải súc tích dưới dạng hình ảnh trực
quan, dễ hiểu dễ quan sát. Đối với bài tập, giáo viên cố gắng đưa ra các bước càng
cụ thể, rõ ràng càng tốt, với phương châm: “Điều tôi nghe tôi quên. Điều tôi nhìn
tôi nhớ. Điều tôi làm tôi hiểu”.
hiện kế hoạch học tập ở trường và ở nhà.
- Đối với Nhóm 4: Học sinh không quan tâm, lơ là việc học, học sinh lười học.
+ Nguyên nhân:
Do các em không có một chút kiến thức nào về môn học nên có đi học, có đến
lớp cũng không hiểu gì.
Do các em ham muốn một trò chơi nào đó hoặc bạn bè hư hỏng lôi kéo.
Do các em chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học.
Do gia đình thường xảy ra xung đột, thiếu tình cảm hoặc gia đình, người thân …
thiếu sự quan tâm, nhắc nhở và kiểm tra.
+ Các giải pháp:
Làm thay đổi nhận thực về tầm quan trọng của việc học của các em, thay đổi sự
bi quan chán nản trong tâm của các em khi phải đối mặt với hoàn cảnh gia đinh…
bằng cách: Giáo viên vừa phân tích động viên cho các em sự cấn thiết của việc học,
21
nêu ra các trường hợp thật cụ thể của học sinh các năm trước vì không chú tâm học
nên không thi đậu tốt nghiệp trung học phổ thông, sau khi thi trượt hối hận thì
không kịp. Nêu lên những tấm gương các bạn học sinh vượt lên trên hoàn cảnh để
đạt được kết quả cao trong học tập... ( Muốn làm tốt giải pháp này giáo viên bộ
môn phải kết hợp với GVCn để tìm hiểu vầ gia đình, về con người của các học sinh
này)
Giúp các em tránh xa các trò chơi vô bổ, tránh xa các bạn bè hư hỏng: phân tích
cho các em về sự tác hại của các trò chơi đến tinh thần, đến sức khỏe và đến học
tập của các em. Đồng thời, tôi làm thay đổi nhận thức về bộ môn và tăng lòng yêu
thích học tập bộ môn để cuốn các em quay trở về việc học tập: Tôi hay giao cho
các nhóm học sinh này đi sưu tầm các ĐDDH như: máy biến áp nhỏ cũ, các điện
mảng điện tử cũ, các loại Pin...; Giao cho các em vẽ các ĐDDH hoặc làm các
ĐDDH tự làm...Sau đó thu lại rồi đem ra hội thảo đánh giá trước lớp, có tuyên
4
0
4
20112012
Tỉ lệ
2012-2013
Cuối
Cuối
Đầu năm
học kỳ I năm
Tỉ lệ
còn
So sánh
lại
17 em
13em
6 em
15%
12B2
0
Kết quả bộ môn Vật lý của nhóm
Môn
Tổng HS
Số học sinh yếu kém
Cuối
Cuối
3 khối
Đầu năm
Vật lý
983em
học kỳ
học kỳ
I
II
328 em = 33,4% 286 em 105 em
Trong bài viết chắc không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế. Kính mong quí thầy, cô
đóng góp ý kiến một cách chân thành nhất để tôi sửa chữa, bổ sung để bài viết được
hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 05 tháng 05 năm
2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
XÁCN NHẬN CỦA THỦ
khác.
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Người viết
24
Mai Văn Hóa
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT ĐINH CHƯƠNG DƯƠNG
----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢM TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM