Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại khu công nghiệp việt nam singapore II, IIA bình dương đến năm 2020 - Pdf 34

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia đang nổi lên với nền kinh tế phát triển năng động và có
tốc độ tăng trưởng cao. Các tổ chức kinh tế, tài chính trên thế giới đã đưa ra những
đánh giá và dự báo rất khả quan về sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời
gian tới. Cùng với sự phát triển kinh tế là quá trình chúng ta đang hội nhập sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới. Dấu mốc quan trọng cho quá trình này là nước ta đã chính
thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO
(11/01/2007).
Trong nền kinh tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được
quan tâm giải quyết. Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển các
Khu công nghiệp như thế nào để đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển của ngành
công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời việc thu hút vốn
đó phải đạt được hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay, tỉnh Bình Dương đã hình thành một số Khu công nghiệp tập trung
thu hút hàng trăm nhà đầu tư đến đây thành lập doanh nghiệp, tiến hành sản xuất
kinh doanh. Các Khu công nghiệp này cần huy động số lượng lớn vốn đầu tư phát
triển của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong nước và nước ngoài.
Trong đó nổi bậc của tỉnh là Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (viết tắt là
VSIP – Vietnam Singapore Industrial Park).
Nhận thấy tầm quan trọng của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, học viên đã chọn đề tài: “MỘT SỐ
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI
KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM – SINGAPORE II, IIA BÌNH DƢƠNG
ĐẾN NĂM 2020.”
Mặc dù kinh tế quốc tế là một lĩnh vực có tính vĩ mô và mang tính chính sách
nhà nước nhưng với cơ sở lý luận được đúc kết từ nhiều nguồn lý thuyết đã được

Trong luận văn này, chủ yếu sử dụng các phương pháp như thống kê, phân

tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu… trên cơ sở sử dụng các số liệu thống kê thu
thập được; các tư liệu thu thập được tại Ban quản lý Khu công nghiệp Việt Nam –
Singapore, tư liệu trên sách báo, internet, từ đó tổng hợp, phân tích, đánh giá rút ra
kết luận cho vấn đề nghiên cứu.
-

Khảo sát sự hài lòng của nhà đầu tư theo thang đo Likert 5: qua việc lấy ý kiến

khảo sát từ các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Khu công nghiệp
VSIP II, IIA. Số lượng doanh nghiệp được chọn gửi bảng khảo sát là 130 doanh
nghiệp, số bảng câu hỏi thu lại được 114, đạt yêu cầu là 108 bảng.
Xử lý kết quả điều tra: bằng bảng câu hỏi được tác giả thực hiện bằng phần
mềm EXCEL, SPSS.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu có kiến thức, kế thừa các tài liệu liên
quan…
5. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chuyên đề được kết cấu thành 3 chương.


3

Chương 1: Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu
công nghiệp.
Chương 2: Phân tích hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Khu công nghiệp VSIP II, IIA Bình Dương trong thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào VSIP II, IIA Bình Dương đến năm 2020.

1.1.2 Khái niệm vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của một đơn vị kinh tế hay một
quốc gia. Các loại vốn đang trong quá trình đầu tư xây dựng được gọi là vốn đầu tư.
Vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một
thời kỳ nhất định. Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương
trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu


5

động. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều nguồn khác nhau: vốn của chính phủ
các nước, các tổ chức quốc tế, vốn của tư nhân bao gồm vốn của người nước ngoài hay
của người Việt Nam ở nước ngoài.
Luật Đầu tư số 59 (2005) nêu rõ “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp
khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư
gián tiếp”.
Nguyễn Bạch Nguyệt – Từ Quang Phương (2012) nêu rõ đầu tư trực tiếp của
nước ngoài (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang
các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia trực tiếp quản lý quá trình sử dụng
và thu hồi số vốn bỏ ra.
1.1.3 Quan niệm, nội dung thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
a) Quan niệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hoạt động nhằm khai thác, huy động các
nguồn vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Thu hút vốn
đầu tư nước ngoài bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện
về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội, các nguồn tài nguyên, môi
trường… để thu hút các nhà đầu tư đầu tư vốn, khoa học công nghệ… để sản xuất, kinh
doanh nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
b) Nội dung thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
-

Tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài: Xúc tiến đầu tư là sử

dụng các biện pháp: Tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu, tiếp cận, môi giới trung gian…
bằng nhiều hình thức như: ấn phẩm, hội nghị, hội thảo, truyền tin, truyền hình, tổ chức
gặp gỡ, qua kênh thông tin điện tử… để các nhà đầu tư có cơ hội nắm bắt được thông
tin, hiểu rõ về thông tin để có sự lựa chọn và đưa ra quyết định đầu tư.
1.1.4 Các nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thu hút

1.1.4.1 Theo nguồn hình thành vốn đầu tư nước ngoài bao gồm:
Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng, đặc biệt đối với các nước đang phát
triển như Việt Nam, và còn đang trong tình trạng thiếu vốn gay gắt. Nhờ có nguồn vốn
này tạo nên một động lực lớn giúp các nước này giải quyết được những vấn đề kinh tế
xã hội to lớn, nâng cao năng lực công nghệ và khả năng lao động…nhanh chóng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Vốn đầu tư
nước ngoài được chia thành: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn đầu
tư gián tiếp nước ngoài (ODA).
 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động nhằm mục đích thu lợi
nhuận. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều nguồn khác nhau: vốn của chính phủ
các nước, các tổ chức quốc tế, vốn của tư nhân bao gồm vốn của người nước ngoài hay
của người Việt Nam ở nước ngoài.
Mục đích của đầu tư nước ngoài là thu về lợi nhuận do vậy đầu tư trực tiếp nước
ngoài chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, thời gian hoàn vốn nhanh,
những lĩnh vực ít rủi ro. Bởi vậy nước tiếp nhận đầu tư nếu không biết điều chỉnh sẽ
làm ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế.
 Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA được Ngân hàng thế giới định
nghĩa: “ODA là khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại, hoặc lưu dụng ưu đãi của
các tổ chức chính phủ, dành cho các nước đang và chậm phát triển”. ODA bao gồm:

Rõ ràng trong nguồn vốn khác nhau thì có vai trò khác nhau đối với sự phát
triển kinh tế xã hội. Trong khi vốn trong nước có vai trò quyết định đến sự phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan
trọng đặc biệt đối với những nước đang phát triển như nước ta. Tuy vậy trong quá trình
huy động vốn, một câu hỏi lớn được đặt ra là chúng ta sẽ huy động bao nhiêu từ nguồn
vốn trong nước. Trong đó bao nhiêu là từ ngân sách, bao nhiêu là từ dân cư và chúng ta


8

sẽ huy động bao nhiêu từ nước ngoài. Trong đó bao nhiêu là đầu tư trực tiếp (FDI) và
bao nhiêu là đầu tư gián tiếp (ODA). Để trả lời cho câu hỏi này cần làm rõ vai trò của
từng loại vốn, xác định cái được, cái mất khi sử dụng loại vốn đó. Ví như mục tiêu của
đầu tư trực tiếp (FDI) là lợi nhuận vì vậy mà những ngành thường được chọn để đầu tư
là những ngành có tỷ suất lợi nhuận lớn, nhanh thu hồi vốn, ít rủi ro. Do đó nếu không
có biện pháp điều chỉnh sẽ dẫn đến mất cân đối trong cơ cấu. Do đó một trong những
nội dung quan trọng của thu hút vốn đầu tư nước ngoài là phải xác định cho được vai
trò từ đó có biện pháp khai thác và huy động có hiệu quả.
b) Huy động vốn từ đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn liền với sử dụng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong những năm vừa qua có một thực tế là chúng ta đã thu hút được vốn đầu
tư nước ngoài từ rất nhiều nguồn khác nhau. Song việc sử dụng lại có rất nhiều bất cập
dẫn tới tình trạng kém hiệu quả, trong hoạt động đầu tư nước ngoài chúng ta là nước
đang phát triển, nhu cầu về vốn là rất lớn, việc huy động và khai thác vốn còn gặp
nhiều khó khăn và hạn chế. Do đó chúng ta cần tính toán thật kỹ lưỡng việc sử dụng
nguồn vốn sao cho đạt được bài toán hiệu quả cao nhất. Hơn nữa việc sử dụng nguồn
vốn có hiệu quả lại có tác dụng tích cực trở lại tới việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Nó tạo ra cơ sở cho việc chúng ta kêu gọi các nhà đầu tư.
c) Khai thác vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn liền với việc thực
hiện các mục tiêu của khu công nghiệp.

nhà đầu tư.
Hoạt động theo nguyên tắc một cửa, nghiên cứu, cân nhắc những yêu cầu của
nhà đầu tư nước ngoài và có định hướng vào các ngành công nghiệp mũi nhọn của
đất nước như cơ khí, hoá chất, thiết bị và linh kiện. Áp dụng cách tiếp cận theo cụm,
tập trung vào những công ty thuộc các ngành điện tử - bán dẫn, hoá dầu và công
nghiệp chế biến. Cách tiếp cận theo cụm là một công cụ của chính sách công nghiệp
nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời tăng cường các mối liên kết
và các tác động lan tỏa.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty đa quốc gia cũng là
một trong những kênh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quan trọng mà các
quốc gia luôn tìm mọi cách để tăng cường.
e) Các hoạt động xúc tiến đầu tư
Cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng gay gắt,
trước hết được phản ánh qua số lượng các cơ quan xúc tiến đầu tư được thành lập
trong những năm gần đây. Ngoài ra, rất nhiều cơ quan xúc tiến tăng cường mở rộng
mạng lưới, bao gồm nhiều chi nhánh ở nước ngoài và họ có quyền tự chủ lớn hơn,
đồng thời, nhiều cơ quan chính phủ các nước có nguồn lực nhiều hơn cho việc thu


10

hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mức độ cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài bằng các ưu đãi có xu hướng tăng ngay cả đối với hình thức cạnh tranh
bằng thuế.
1.2 Tổng quan về Khu công nghiệp
1.2.1 Khái niệm Khu công nghiệp
Khu công nghiệp hiện đại ngày nay bắt nguồn từ lâu đời, dạng phổ biến và cổ
điển nhất của nó là Cảng tự do (Free Port) tức là Cảng mà tại đó áp dụng Quy chế
ngoại quan, theo đó hàng hóa từ nước ngoài vào và từ Cảng đi ra, được vận chuyển
một cách tự do mà không phải chịu thuế quan. Chỉ khi nào hàng hóa vào nội địa

nhà đầu tư nước ngoài cũng giảm bớt chi phí tìm nơi đầu tư, tránh các thủ tục hành
chính rườm rà trong việc cấp phép đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khu công nghiệp hình thành và phát triển sẽ góp phần làm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng của ngành công
nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp của cả nước và của địa phương nơi có
các khu công nghiệp. Khu công nghiệp phát triển sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh
của hàng hoá trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch
xuất khẩu.
Khu công nghiệp là nơi tiếp nhận chuyển giao và áp dụng có hiệu quả nhất
những thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất,
kinh doanh và dịch vụ với một địa bàn tương đối rộng, được quy hoạch theo một kế
hoạch và chiến lược phát triển lâu dài của nền kinh tế; với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ
thuật tương đối hiện đại, đồng bộ; cùng với những ưu đãi mà Nhà nước dành cho
các khu công nghiệp trong nhập khẩu vật tư, thiết bị, về nguồn vốn vay, về thuế…
tạo điều kiện thuận lợi cho các khu công nghiệp có thể tiếp nhận công nghệ tiên tiến,
hiện đại trên Thế giới, tận dụng được lợi thế của các nước đi sau để rút ngắn dần
khoảng cách về khoa học công nghệ với các nước khác. Việc tiếp nhận khoa học
công nghệ đã tạo ưu thế nổi trội của các khu công nghiệp mà các khu vực kinh tế
khác ít hoặc không có cơ hội. Điểm khác biệt chủ yếu của khu công nghiệp với vùng
ngoài khu công nghiệp là cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp được xây dựng
tương đối hoàn thiện và các doanh nghiệp khu công nghiệp trong quá trình sản xuất
phải thực hiện nghiêm và được giám sát chặt chẽ hơn về công tác đảm bảo vệ sinh
môi trường thúc đẩy phát triển bền vững.
Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động. Mở ra các khu công nghiệp để
tạo nhiều cơ hội làm việc cho người lao động là một trong những mục tiêu quan
trọng của các nước đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, khu công nghiệp là nơi thực
hiện chiến lược toàn dụng lao động tại các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang


12

tác dụng lan tỏa của khu công nghiệp. Khu công nghiệp còn là nơi sản xuất hàng hoá
xuất khẩu hướng ra thị trường Thế giới, là cửa ngõ khai thông nền kinh tế
trong nước với bên ngoài, góp phần đẩy nhanh quá trình tham gia vào phân công lao


13

động quốc tế, hòa nhập vào nền kinh tế Thế giới. Thông qua việc thành lập khu
công nghiệp, nước chủ nhà muốn đẩy mạnh hoạt động ngoại thương. Với những ưu
đãi vượt trội, cơ chế quản lý thuận lợi, vị trí xây dựng khu công nghiệp có điều kiện
thuận lợi cho vận chuyển, lưu thông hàng hoá sẽ giảm chi phí sản xuất, tạo điều
kiện cho việc sản xuất hàng hoá.
1.2.3 Ban quản lý các Khu công nghiệp cấp tỉnh
Ban quản lý Khu công nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và
chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công tác và kinh
phí hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về
chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, Ngành.
Ban Quản lý Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (sau đâygọi tắt là Ban)
do Thủ tướng quyết định thành lập, là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình
Dương, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế, chương trình kế hoạch công
tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và
kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực có
liên quan; có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý các khu công nghiệp Việt Nam –
Singapore trên địa bàn tỉnh.
Ban có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu mang hình quốc huy; được
mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, kinh phí quản lý hành chính nhà nước, kinh phí
hoạt động sự nghiệp và vốn đầu tư do ngân sách Nhà nước cấp theo kế hoạch hàng
năm.
1.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trong khu

cây xanh,… là nét đặc thù của khu công nghiệp. Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
hiện đại, là điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài.
Tác động cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại để thu hút đầu tư nước ngoài.
Nhà đầu tư nước ngoài chọn địa điểm đầu tư trong khu công nghiệp tiết kiệm được
nhiều chi phí ngoài doanh nghiệp như: chi phí mua đất xây dựng nhà máy với giá
cao, phí tự xây dựng hệ thống đường dây tải điện, đường giao thông vận tải và nhà
máy, hệ thống viễn thông v.v.... Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại trong khu công
nghiệp là một yếu tố để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng đó không phải là
yếu tố quyết định. Một số khu công nghiệp, khu kinh tế ở nước ta, dù đầu tư cơ sở
hạ tầng kỹ thuật hiện đại nhưng thu hút đầu tư nước ngoài cho đến nay còn rất yếu.
Dưới góc độ kinh tế, đây là sự lãng phí trong phân bố nguồn lực tài nguyên đất
nước.


15

Lựa chọn nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Một trong những yếu tố tác
động đến sự thành công của khu công nghiệp là lựa chọn chủ đầu tư, để xây dựng
cơ sở hạ tầng một cách hiện đại, trước hết chủ đầu tư cần có tầm nhìn sâu rộng để
lựa chọn vị trí chiến lược xây dựng khu công nghiệp, cần có nguồn vốn tương đối
dồi dào đủ để đảm bảo xây dựng theo đúng tiến độ, cần có kinh nghiệm trong việc
xây dựng, quản lý khu công nghiệp, cũng như trong việc quảng bá, tiếp thị thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm từng bước nâng cao vị thế của khu công nghiệp
trên thương trường.
d) Phát triển cơ sở hạ tầng xã hội cho công nhân khu công nghiệp
Phát triển khu công nghiệp tạo ra một kênh thu hút lao động rất có tiềm năng
và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ và lao
động nhập cư. Lao động di cư tới các khu công nghiệp đã đóng một vai trò không
nhỏ trong việc cung ứng nguồn lao động và bù đắp sự thiếu hụt lực lượng lao động,
đặc biệt là nguồn lao động giản đơn và không có chuyên môn kỹ thuật, góp phần

trường hợp địa điểm kém thuận lợi hơn về địa lý – kinh tế lại được chọn làm nơi
xây dựng khu công nghiệp, bởi yếu tố khác chi phối đặc biệt là yếu tố chính trị: như
mong muốn có sự phát triển đồng đều giữa các vùng của đất nước…
1.3.2 Các yếu tố bên ngoài
a) Môi trường chính trị
Sự ổn định chính trị và an ninh là yếu tố cơ bản đảm bảo cho quá trình đầu tư
lâu dài. Vì vậy, chính trị là yếu tố đầu tiên khiến các nhà đầu tư nước ngoài quan
tâm khi có ý định đầu tư vào một quốc gia. Đây là điều kiện ảnh hưởng đến mức độ
rủi ro của đồng vốn mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra. Những bất ổn chính trị- xã hội
sẽ ảnh hưởng tới khả năng sản xuất và tiêu dùng. Nó làm cho dòng vốn từ nước
ngoài đổ vào từ trong nước đổ ra ngoài nhằm tìm cơ hội đầu tư tốt hơn.
Những bất ổn định kinh tế chính trị không chỉ làm cho dòng vốn này bị
chững lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm
đến những nơi "trú ẩn" mới an toàn và hấp dẫn hơn. Bất kỳ sự bất ổn định chính trị
nào, các xung đột khu vực, nội chiến hay sự hoài nghi, tẩy chay, thiếu thiện cảm và
"gây khó dễ" của giới lãnh đạo và nhân dân đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
đều là những nhân tố nhạy cảm tác động tiêu cực đến tâm lý và hành động thực tế
của các chủ đầu tư, cũng như làm chậm lại các cải cách chính sách cần thiết đối với
việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước chủ nhà.
b) Môi trường kinh tế
Nhân tố về khả năng hấp thu vốn của nền kinh tế: Khả năng hấp thu vốn biểu
hiện thông qua các nguồn lực như: Nguồn lực về con người, thể hiện thông qua số
lượng và chất lượng lao động, tiềm lực về khoa học công nghệ thể hiện qua việc sở hữu


17

và áp dụng những công nghệ tiên tiến vào quản lý sản xuất, tiềm năng phát triển bao
gồm điều kiện tự nhiên (vị trí, địa hình khí hậu) tiềm năng về tài nguyên (khoáng sản,
tài nguyên đất nước, rừng) và tiềm năng phát triển chưa được khai thác hết ở các


18

triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương. Bộ máy đó phải thống nhất, gọn
nhẹ, sáng suốt và nhạy bén về chính sách, với những thủ tục hành chính, những quy
định pháp lý có tính chất tối thiểu, đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện
bởi những con người có trình độ chuyên môn cao, được giáo dục tốt và có kỷ luật,
tôn trọng pháp luật.
d) Các chính sách thu hút đầu tư vào khu công nghiệp
Trong điều kiện của một quốc gia đang trong giai đoạn tiến hành công
nghiệp hóa đất nước, bản thân cụm từ “Khu công nghiệp” đã có nghĩa là vùng đất
được hưởng những ưu đãi riêng biệt để thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển công
nghiệp, dịch vụ.
Các ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp so
với doanh nghiệp hoạt động ngoài khu công nghiệp, chủ yếu tập trung ở thuế thu
nhập doanh nghiệp, cụ thể là thuế suất thấp hơn được áp dụng cho suốt đời họat
động của dự án hoặc một số năm; thời gian miễn giảm thuế dài hơn kể từ khi có thu
nhập chịu thuế.
Hỗ trợ về tín dụng phát triển hạ tầng khu công nghiệp. Nhà nước hỗ trợ khoản
vay tín dụng ưu đãi cho các công ty xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công
nghiệp khi có gặp khó khăn về vốn, nhằm tạo điều kiện cho họ xây dựng cơ sở hạ
tầng khu công nghiệp một cách hiện đại, đồng bộ, hoàn thiện theo đúng tiến độ và
quy họach chi tiết được duyệt, góp phần đảm bảo công tác môi trường tại khu công
nghiệp được tốt hơn thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững.
Các ưu đãi về cho thuê đất: Công ty phát triển hạ tầng được miễn, giảm tiền
thuê đất, và thuế sử dụng đất theo quy định hoặc được chậm nộp tiền thuê đất hoặc
tiền sử dụng đất trong một khoảng thời gian nhất định.
e) Chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường trong phát triển Khu
công nghiệp
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, quy mô dự án đầu tư có tác động đến

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp. Thu hút đầu tư là kết quả
tổng hợp của chính sách vĩ mô (môi trường tổng quát) và chính sách vi mô (thuộc
vùng và địa phương và của Công ty kinh doanh phát triển hạ tầng khu công nghiệp).
Để khu công nghiệp phát triển bền vững, phải xây dựng chiến lược thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài, trong đó, xây dựng môi trường đầu tư có tính cạnh tranh là
phương tiện để đạt mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việc chọn lựa
các dự án vào các ngành nghề sử dụng công nghệ cao với giá trị gia tăng sản phẩm
lớn.


20

TÓM TẮT CHƢƠNG 1
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế hiện nay, nhất là trong bối cảnh nước ta đang trên đà hội nhập vào kinh tế quốc
tế. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp là một trong những
công cụ của chính sách kinh tế đối ngoại, mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài đến
thành lập dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm, học hỏi công nghệ
kỹ thuật mới, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, là điều kiện chuyển biến cơ bản về mọi mặt đời sống xã hội theo
hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa …Nghiên cứu cơ sở lý luận về vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài, khu công nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn
đầu tư nước ngoài trong khu công nghiệp từ đó có cơ sở đi vào phân tích, đánh giá
thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua và đề ra giải
pháp cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Khu công nghiệp
Việt Nam – Singapore II, IIA trong thời gian tới.


21



22

Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ
khác.
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam (gồm 8 tỉnh thành, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà
Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong
những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của
cả nước.
Bình Dương là cửa ngõ giao thương với TP. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế
- văn hóa của cả nước, là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy
rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Trong hệ thống đường bộ,
nổi lên đường quốc lộ 13 - con đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ
thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía Bắc, qua
tỉnh Bình Phước và nối Vương quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan. Đây là con
đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế.
Đường quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài,
Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường
chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ hòa bình xây
dựng đất nước. Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long
(Bình Phước); Liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ
16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh; lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng ... và hệ thống đường
nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh, cách sân bay quốc tế Tân Sơn
Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 Km… thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
toàn diện.
Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa 3 con sông lớn,
nhất là sông Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao
lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

phát triển của thành phố, với dịch vụ chuyên nghiệp và những tiện ích khác.
VSIP được xem như một trong những Khu Công Nghiệp kiểu mẫu tại Việt
Nam với sự tham gia góp vốn đầu tư và chuyển giao kinh nghiệm trong lĩnh vực
xây dựng cơ sở hạ tầng và tiếp thị đầu tư của các tập đoàn có uy tín như Sembcorp
Industries, Ascendas, United Overseas Land, KMP Group, Mitsubishi Corporation
và Becamex (Việt Nam).


24

Nhằm đáp ứng nhu cầu thuê đất ngày càng tăng của các nhà đầu tư, VSIP đã
triển khai mở rộng thêm 1.700 ha dự án VSIP II, IIA được gọi là KCN – Đô thị
VSIP Bình Dương, trong đó 1.000 ha phát triển KCN và 700 ha phát triển Khu đô
thị. Sự thành công của các dự án VSIP không những góp phần vào công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn đô thị hóa các khu vực xung quanh như dự án Khu
Phức hợp The Canary Bình Dương 17,5 ha của công ty Guocoland Singapore tại
VSIP I, Khu đô thị Việt - Sing, Làng biệt thự chuyên gia The Oasis, The Aroma,
TDC Plaza, Sora Garden…
Đến nay, VSIP đã và đang phát triển tổng cộng 05 dự án tại miền Nam (tỉnh
Bình Dương), miền Bắc (tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hải Phòng) và gần đây nhất là
dự án tại miền Trung (tỉnh Quảng Ngãi) với tổng quỹ đất hơn 6.000 ha bao gồm đất
công nghiệp, đô thị và dịch vụ.
2.2.2 Mô hình quản lý nhà nước tại Khu công nghiệp VSIP II, IIA
Đặc điểm vượt trội của khu công nghiệp VSIP là việc cung cấp ngay trong
khu một Ban Quản lý riêng. Chức năng của Ban Quản lý này hoạt động như cơ
quan cấp giấy phép của Chính phủ bao gồm việc cấp giấy phép đầu tư, giấy phép
lao động, giấy phép xây dựng, hỗ trợ tối đa cho các nhà đầu tư trong việc tiến hành
các thủ tục hành chính trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.3 Phân tích hoạt động thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của Khu

đó vấn đề chất lượng và môi trường ở đây được quan tâm và đặt lên hàng đầu như :
Khu công nghiệp có nhà máy xử lý nước thải được xây dựng cùng thời điểm với
việc triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp; Khu công nghiệp được
quy hoạch theo hướng hiện đại, có nhà máy điện riêng cho Khu công nghiệp nhằm
khắc phục hiện tượng thiếu điện của nước ta tại thời điểm đó.
Thành lập Chi cục Hải quan VSIP và địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất nhập
khẩu (1,5 ha) giúp giải quyết nhanh các vấn đề liên quan đến công tác xuất nhập
khẩu đặc biệt là đối với các doanh nghiệp chế xuất hoạt động trong Khu công
nghiệp.
 Cơ sở hạ tầng ngoài Khu công nghiệp
Song song đó, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào Khu công
nghiệp cũng không kém phần quan trọng cụ thể như : hệ thống cung cấp nước sạch
theo tiêu chuẩn WHO công suất tối đa 20.000 m3 (Giai đoạn 1) và 50.600 m3 (Giai
đoạn 2) cho Khu công nghiệp, hệ thống lưới điện quốc gia 6x63 MVA equal to
321.3 MW. Nâng cấp và mở rộng các tuyến đường liền kề Khu liên hợp công
nghiệp – dịch vụ - đô thị Bình Dương, cách Trung tâm hành chính tập trung tỉnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status