Giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Pdf 34

MỤC LỤC

A. MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
Trong tâm thức của những người con đất Việt từ bao đời nay, Hùng Vương

là vị tổ đã có công dựng nên quốc gia Văn Lang -nhà nướcc đầu tiên, sơ khai của
dân tộc Việt Nam.Vua Hùng chính là tổ tiên chung của cả dân tộc Việt Nam ,là tổ
tiên của cộng đồng người Việt.Chính vì vậy, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã
trở thành loại hình đặc sắc trong đời sống văn hóa tâm linh và tình cảm của các thế
hệ người dân Việt Nam, vừa thiêng liêng vừa cụ thể vừa là điểm tựa tinh thần tạo
nên sức mạnh dân tộc cùng nhau dựng nước và giữ nước. Như Bác Hồ đã tổng kết
và khái quát thành chân lý của dân tộc và của cả thời đại “Các vua Hùng đã có
công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đó cũng là biểu tượng
cội nguồn khơi dậy sức mạnh đào kết và niềm tự hào dân tộc. Với người Việt, về
với đền Hùng Phú Thọ chính là cuộc hành hương trở về với cội nguồn. “ Sự tử là
để sự vinh, sự vong là để sự tồn”, quan niệm truyền thống ấy của người Việt đã
1


được lưu truyên từ thế hệ này qua thế hệ khác. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa ,
việc thờ Quốc Tổ Việt Nam chính là sự phát triển cao nhất của văn hóa thờ cúng tổ
tiên. Điều đặc biệt trong giá trị văn hóa tâm linh này chính là ý thức hướng về
nguồn cội, là sự kết nối đồng bào. Ý thức chung về nguồn cội, gắn kết những
người cùng sinh ra từ 1 bọc trứng đã theo người Việt trong quá trình Nam tiến. Thờ
cúng Hùng Vương là một tín ngưỡng có vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm thức
đương đại, trong đời sống xã hội. Các thể chế cũng như các vương triều trong lịch
sử đều đã rất chú trọng việc thờ cúng tổ tiên. Cho nên có thể nói rằng đây là tín
ngưỡng có sức sống và nó là điểm tựa của quốc gia của cộng đồng. Đồng thời nó

người đọc một cách nhìn về Văn hóa Tín Ngưỡng của người Việt. Từ việc thờ cúng
cỏ cây, thần sông thần núi của người Việt Cổ đến những dòng tiên tri tản mạn trong
dân gian miền Tây Nam Bộ, những giao thoa trong Văn Hóa tín ngưỡng giữa dân
tộc Việt Nam và Trung Quốc, giữa Việt Nam và nền Văn Hóa Chăm. Đặc biệt ông
nhấn mạnh sự liên tục văn hóa để thấu hiểu hiện tượng tín ngưỡng trong tính đơn
nhất và sống động của nó. Sự nghiên cứu của ông là một sự nghiên cứu các thay
đổi trong nghi thưc thờ cúng. Tác gải đã giúp chúng ta thực hiện một cuộc hành
trình đi tìm lại diện mạo các thần linh trên đất Việt từ thời tối cổ cho tới thời hiện
đại. Qua đó giúp ta hiểu thêm về tín ngưỡng thờ thần của dân tộc Việt ta.
4


Ngoài ra có Thạc sỹ Lưu Thị Minh Toàn, trưởng phòng quản lý di tích
bảo tàng khu di tích lịch sử đền Hùng, có đề tài “ Nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng
Hùng Vương tại các di tích tiêu biểu trong cả nước” (2011). Đề tài đã làm rõ giá trị
và ý nghĩa của tín ngưỡng Hùng Vương trong quá trình lịch sử dân tộc, góp phần
vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam. Góp phần chuẩn hóa
nội dung và nghi thức thờ cúng Vua Hùng tại các di tích trong cả nước.
Bên cạnh đó cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã có bài nghiên cứu về “ Tín
ngưỡng thờ cũng Hùng Vương” với tiêu đề “Căn bản triết lý đền Hùng và giỗ tổ
vua Hùng”. Bài viết đã đề cập đến việc người Việt Nam đi từ việc thờ cúng tổ tiên
đến việc tôn thờ Hùng Vương. Đó là sự tìm về với cội nguồn, là sự tôn thờ một
thời đại, tôn trọng quyền của của con người, tôn trọng quyền của người dân.
Góp phần vào lịch sử nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không
thể không nhắc đến PGS.TS Đặng Việt Bích, nghiên cứu viên cao cấp Viện Văn
Hóa và Nghệ thuật Việt Nam đã có bài tham luận “ Hùng vương với sự hình thành
người Việt và tục thờ cúng Hùng Vương”( 2011). Phó trưởng phòng Văn học, Cục
Văn hóa cơ sở Lê Thị Hồng Phúc có bài nghiên cứu về “ Tín ngưỡng thờ cúng
Hùng Vương- tìm hiểu sự thờ cúng và phát huy giá trị trong bối cảnh toàn cầu
hóa”.

nước, Tổ Tiên của dân tộc Việt Nam. Ngày xa xưa vùng đất này là khu vực trung
tâm của nước Văn Lang, nằm giữa hai dòng sông giống như hai dãy hào thiên
nhiên khổng lồ bao bọc lấy cố đô xưa của các vua Hùng. Ở đề tài này tôi sẽ đi
nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên từ thế kỷ
XVIII cho đến nay, mối liên hệ giữa thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng thờ cúng vua
Hùng để chứng tỏ rằng “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” luôn trường tồn và
phát triển bền vững cho đến tận thời đại bây giờ.

5.

Phương pháp nghiên cứu

6


Với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, tôi sẽ sử dụng một số
phương pháp nhgiên cứu cụ thể. Đầu tiên là phương pháp lịch sử-logic, tức là
nghiên cứu vấn đề theo tiến trình thơi gian Ngoài ra để hoàn thành đề tài này, tôi sử
dụng phương pháp thu thập, tập hợp tài liệu, sau đó thựcc hiện phương pháp phân
tích, tổng hợp.Từ những tư liệu thu thập được tôi lựa chọn thông tin chính xác,
phân tích đánh giá nhằm đảm bảo tính khoa học của đề tài.

6.

Bố cục

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có cấu trúc 4 chương:
Chương 1: Khái quát về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Chương 2: Lịch sử hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Chương 3: Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương


8


Tuy nhiên dù có quan niệm thờ cúng tổ tiên như nột tôn giáo một tín ngưỡng, một
phong tục hay một luật tục thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn là một truuyền
thống, một nét văn hóa đẹp trong đời sống tinh thần của người dân đất Việt.
1.2.

Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng thờ tổ tiên
Cho đến nay việc xác định nguồn gốc sự ra dời của tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên vẫn chưa được thống nhất. Tuy vậy nhiều người cho rằng cơ sở quan trọng
đầu tiên cho việc hình thành bất kì tín ngưỡng nào đều xuất phát từ quan niệm tâm
linh của con người. Khi bắt đầu xã hội loài người là thời gian bắt đầu hình thành
tín ngưỡng, tuy chỉ là hình thức sơ khai gắn với tổ chức thị tộc, nhưng càng về sau
khi xã hội phát triển, con người có nhận thức mới, họ coi cái chết không phải là kết
thúc mà đó là là sự tiếp nối của một cuộc sống ở thế giới khác. Con người ngoài
phần thể xác còn có cả linh hồn.Khi con người chết đi linh hồn vẫn tồn tại ở thế
giới bên kia và linh hồn cũng có nhu cầu sinh hoạt như thế giới bên này của người
sống. Vì vậy dần dần hình thành nên tục thờ cúng tổ tiên trong mỗi gia đình, họ,chi
và họ.
Nguồn gốc thư hai đẫn đến sự hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
chính là gắn với vai trò của người đàn ông trong gia đình. Trong thời kì công xã thị
tộc phụ hệ, người đàn ông nắm vai trò quản lý gia đình từ săn bắt, trồng trọt để nuôi
sống gia đình. Rồi những người con trai ra đời và họ tiếp tục ý thức về vai trò cũng
như quyền uy của người đàn ông trong gia đình. Từ đó tuc thờ cúng tổ tiên ra đời.
Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được hình thành và phát triển dựa
trên quan niệm tâm linh cũng như trên nền tảng kinh tế xã hội. Vì vậy tín ngưỡng
này được bảo tồn và phát triển trong suốt tiến trình lịch sử và biến đổi phù hợp với

người họ thờ cúng. Và do vậy việc thờ cúng tổ tiên mang một ý nghĩa, một giá trị
văn hóa tinh thần sâu sắc.

1.4.

Ý nghĩa của việc thờ cúng tổ tiên
10


Việc thờ cúng tổ tiên của cộng đồng dân tộc Việt không phải ngẫu nhiên nó
trường tồn và phát triển bền bỉ trong đời sống tâm linh của mỗi người, mà bởi vì nó
mang nhiều ý ngĩa sâu sắc. Đầu tiên, nó thể hiện lòng hiếu thảo của con cái với ông
bà và bố mẹ,tổ tiên; thể hiện sự hòa thuận của anh em trong một gia đình, một dòng
tộc. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người, thờ cúng tổ tiên là biểu
hiện của sự hướng về, tìm về với cội nguồn. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên dần dần đã
trở thành nghi thức, tập tục. Nó có ý nghĩa nhắc nhở con cháu phải luôn nhớ về
công lao của những người đã khuất, đồng thời nhắc nhở mội người luôn phải có
trách nhiệm với quá khứ, hiện tại và tương lai. Đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, những
người vẫn luôn tiếp xúc với cái mới của xã hội, thì tục thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa
nhắc nhở họ luôn hướng về cội nguồn mình, không được quên tổ tiên trên cơ sở sự
tiếp thu văn minh của nhân loại.
Tiểu kết: Như vậy việc thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp văn hóa mang
đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Nó không chỉ củng cố quan hệ trong gia đình, dòng
họ mà nó còn còn khẳng định tính cộng đồng trong làng xã. Đặc biệt thông qua
nghi lễ thờ cúng tổ tiên, cư dân Việt muốn gửi gắm tình cảm sâu đậm trong đạo lý
“ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay “ Uống nước nhớ nguồn”.

Chương 2: Lịch sử hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ
cúng Hùng Vương
2.1.

thế kỉ XIX- đầu thế kỷ XX, có tới 381 làng thực hiện tín ngưỡng thờ Hùng
Vương. . Cụ thể những tỉnh như sau : -Tỉnh phú Thọ có 37 nơi. -Tỉnh Phúc yên có
23 nơi. -Tỉnh Sơn Tây có 36 nơi. -Tỉnh Bắc Nimh có 42 nơi. -Tỉnh Hà nam có 32
nơi. -Tỉnh Hà Đông có 63 nơi. -Tỉnh Hưng Yên có 41 nơi. -Tỉnh Thái Bình có 33
nơi. - Tỉnh Thanh Hóa có 2 nơi -Tỉnh Nghệ An có 2 nơi.

12


Về mặt văn hóa vật thể: bức tranh xây dựng tín ngưỡng tưởng niệm Vua Hùng
và thời Hùng Vương không chỉ có ở khu vực Đền Hùng, mà còn có tới nhiều địa
phương khác trong toàn quốc suốt thế kỷ XIX. Con số thống kê hơn 1000 di tích
thờ Hùng Vương và thời Hùng Vương ở nhiều địa phương còn tồn tại đến ngày
nay, chính là nhờ vào sự xuất hiện đại trà và dồn dập của những di tích ấy ở vào
thế kỷ này. Tín ngưỡng Hùng Vương chính là chủ đề cho nhiều di tích văn hóa vật
thể khác xuất hiện ở nhiều nơi.
Về giá trị văn hóa phi vật thể: thế kỷ thứ XIX là sự hội tụ những truyền
thuyết thiêng liêng cao quý, và sự triển khai những lễ hội tưng bừng. Từ chỗ là
trung tâm địa bàn của lễ hội của mấy làng rồi một vùng dưới chân núi Cả (núi
Hùng), trong đó chủ yếu là làng Cả, Đền Hùng (và Khu di tích Đền Hùng ) dần trở
thành trung tâm lễ hội Hùng Vương trong cả nước, cả dân tộc.Thế kỷ XIX là bản lề
của sự thăng hoa đó.
2.2.

Tín ngưỡng Hùng Vương nửa đầu thế kỉ XX
Thế kỉ XX là một thế kỉ đầy biến động lịch sử quan trọng. Ở Việt Nam đây

là một thế kỉ của lòng yêu nước và ý thức dân tộc. Sự xâm lược và nô dịch của
ngoại bang ở nửa đầu thế kỉ XX đã làm dấy lên những phong trào đấu tranh của
các sĩ phu yêu nước và các trí thức có tinh thần yêu nước dân chủ. Một thời kì của

Hùng và lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương lần đầu tiên được chứng kiến một sự kiện, vừa
là sự tinh kết của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần Cách Mạng, vừa là dấu hiệu tiêu
biểu của hành động cách mạng, bắt đầu từ đây, chọn lựa và gắn kết - Đền hùng nơi
huyệt đạo của tín ngưỡng thờ Tổ Tiên thiêng liêng. Tới năm 1945, khi giành được
chính quyền của thực dân –phong kiến, thành lập chính quyền của nhân dân. Ở
miền Nam: đền thờ Các Vua Hùng trong thời kỳ cách mạng, nhờ tấm lòng người
dân Nam Bộ và những người miền Bắc di cư được xây dựng ở nhiều địa phương,
điều đó khẳng định sự thống nhất của dân tộc, tất cả người Việt Nam dù ở miền
14


Bắc, miền Trung, miền Nam vẫn là chung một nguồn gốc tổ tiên. Tại tỉnh Lâm
Đồng từ năm 1951 đến năm 1958, đã xây dựng 2 đền thờ Vua Hùng: Đền thờ Vua
Hùng tại số 93- Ngô Quyền-Tp Đà Lạt được xây dựng vào năm 1957-1958. Đền
thờ Vua Hùng tại TP.Nha Trang được xây dựng từ năm 1971 với nguồn kinh phí
đóng góp của nhân dân TP. Nha Trang. Năm 1973 được xây dựng mở rộng thêm,
quy mô kiến trức xây dựng còn tồn tại đến hôm nay. Văn hóa dân tộc với Tín
ngưỡng thờ Tổ tiên – Các Vua Hùng – là đạo lý “Cội nguồn”, trở thành điều sống
còn, tồn vong của đất nước từ bao đời nay

Tiểu kết: “ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” trong suốt giai đoạn từ thế kỉ
XVIII đến nay đã trải qua biết bao khó khăn, biết bao cuộc chiến tranh xâm lược
nhưng nó vẫn trường tồn và phát triển tốt đẹp. Đó là nhờ có nhân dân cả nước đã
đông tâm hiệp lực chống giặc và cùng nhau hình thành và giữ vững những giá trị
của Tín ngưỡng thờ vua Hùng- Ông Tổ của nước Việt Nam ta. Điều đó càng chứng
tỏ dân ta luôn hướng về cội nguồn của dân tộc để tín ngưỡng này phát triển cho
đến ngày hôm nay.

Chương 3: Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
3.1.

3.1.2.

Điều kiện tự nhiên

*Đặc điểm địa hình

Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành
tiểu vùng chủ yếu. Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp
một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng
phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại. Tiểu
vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven
16


sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy. Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công
nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi.

*Khí hậu
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 0C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng
1.600 đến 1.800 mm. Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 –
87%. Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật
nuôi đa dạng

3.2.

Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Khởi nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Việt đã thờ cúng Vua

Hùng là ông Tổ khai sinh ra đất nước dân tộc Việt Nam. Ý thức tín ngưỡng thờ

long trọng vào mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm và được sự quan tâm của tất cả
đồng bào dân tộc Việt Nam, những người con cùng được sinh ra từ 1 bọc trứng.

3.4.

Vai trò của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Việc thờ phụng các vua Hùng là nhằm thoả mãn được nhu cầu tâm linh của

con người. Xưa kia, người Việt nói chung và cư dân Phú Thọ nói riêng đề sinh
sống chủ yếu bằng canh tác ruộng nước nên sự tác động của tự nhiên như: hạn hán,
mưa bão, thiên tai… ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống. Trong điều kiện xã hội cổ
truyền còn lạc hậu, con người bất lực trước thiên nhiên.Vì thế họ đã dặt niềm tin và
cầu mong sự phù hộ của các thần linh, sự che chở của các vua Hùng. Ngày nay,
khoa học kỹ thuật đã hiện đại (ở một chừng mực nào đó có thể cải tạo và làm chủ
được tự nhiên), trình độ nhận thức về thế giới xung quanh đã cao hơn nhưng có vẻ
18


như niềm tin vào thần linh, vào tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của người Việt
không suy giảm.Như vậy, không chỉ có con người thời nguyên thuỷ, hay con người
thời phong kiến mới có niềm tin vào thần thánh mà cho đến thời hiện đại, con
người ở thế kỷ XXI vẫn đặt niềm tin, hi vọng vào sự che chở của thánh thần.
Việc thờ phụng các vua Hùng, con vua và các tướng lĩnh.
Lễ hội Đền Hùng thực chất là tôn thờ tinh thần đoàn kết, tài trí, biểu
dương sức mạnh cộng đồng… đại diện cho quốc gia, dân tộc. Việc thờ phụng các
vua Hùng, đặc biệt là lễ hội Đền Hùng còn là môi trường để con người sáng tạo và
hưởng thụ văn hoá, nơi gìn giữ và nuôi dưỡng những giá trị văn hoá dân gian đặc
sắc như hát xoan, đâm đuống… Đó là nơi bảo tồn, lưu giữ và trao truyền các giá trị
tinh hoa văn hoá của dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác.


nơi có cộng đồng người Việt sinh sống. Điều đó đã tạo nên triết lý nhân văn sâu
sắc, động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam, hình thành nên nét đặc sắc của văn
hóa nhân loại.
Việc thờ cúng Hùng Vương là biểu hiện tình cảm, sự biết ơn và sự tri ân
công đức các Vua Hùng có công khai quốc, sinh dân. Thông qua nghi lễ thờ cúng
nhằm xác lập mối liên hệ dòng tộc giữa các Vua Hùng với mọi thế hệ trong cộng
đồng người Việt từ quá khứ, hiện tại đến mai sau. Mối liên hệ ấy là sợi dây liên
kết tinh thần giữa thời đại Hùng Vương và thời đại Hồ Chí Minh, phản ánh quan
niệm sống của người Việt Nam: trọng tình nghĩa, thủy chung, sự biết ơn, tình yêu
thương, đùm bọc lẫn nhau.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có những đóng góp quan trọng cho việc
thực hành các chức năng xã hội của văn hóa. Trước hết là các giá trị về nhận thức,
giáo dục, đào luyện nhân cách văn hóa, định hướng hành vi con người, chuyển
hóa các giá trị đạo đức thành hành động cho các cá nhân, các nhóm cộng đồng xã
hội. Tiếp đến, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và lễ hội đền Hùng còn trực tiếp
20


tác động đến việc hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó là “Lòng yêu nước
nồng nàn, ý thức tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình,
đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản
dị trong lối sống”. Nhưng có lẽ, lòng yêu nước nồng nàn là truyền thống tốt đẹp
nhất trong bảng giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy rằng, yếu tố quyết định làm nên bản
sắc văn hóa dân tộc, làm cho nó không giống các quốc gia, dân tộc khác phải là cả
hệ thống các giá trị văn hóa truyền thống. Nhưng chỉ xét riêng lĩnh vực hoạt động
tôn giáo, tín ngưỡng, thì đền Hùng đã là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt
Nam mà ta rất ít thấy ở các quốc gia khác. Trên thế giới, hiếm có loại hình tín
ngưỡng dân gian nào tạo được sự đồng thuận và nhất quán giữa cộng đồng và nhà
nước lại trải qua nhiều thể chế chính trị - xã hội như hiện tượng đền Hùng và lễ

văn hóa dân tộc. Mặt khác, đó cũng là thách thức lớn lao mà thế hệ của chúng ta
hôm nay phải cùng nhân dân Phú Thọ nỗ lực vượt qua. Với điều kiện kinh tế - xã
hội của đất
Có thể thấy rằng, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành bản sắc
văn hóa đặc biệt của dân tộc Việt Nam . Truyền thống thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡn
thờ cúng vua Hùng đã thấm sâu vào trong tâm khảm của mỗi “con dân Đất Việt”.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành một nhu cầu về tâm linh và tình
cảm không thể thiếu được và là phẩm chất đạo đức, là ý chí đoàn kết, cố kết cộng
đồng thành một quốc gia - dân tộc Việt Nam hôm nay. Tín ngưỡng truyền thống
thiêng liêng ấy đã tạo nên sức mạnh vật chất và động lực tinh thần vô song để dân
tộc ta có đủ "sức mạnh và của cải, tinh thần và nghị lực" để vượt qua "muôn trùng
sóng gió, phong ba", làm rạng rỡ non sông gấm vóc Việt Nam.
22


Chương 4: Giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy tín ngưỡng
thờ cúng Hùng Vương trong đời sống văn hóa tinh thần
của người Việt thời nay
Bảo tồn Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính là truyền thống văn hoá
đặc biệt của nước Việt Nam. Nó thể hiện lòng biết ơn sâu sắc và ý thức tôn vinh
kính trọng công lao dựng nước của các Vua Hùng và các thế hệ cha ông; cũng là
nền tảng tâm linh vững chắc để củng cố và phát triển phẩm chất, nhân cách của
mỗi con người Việt Nam, góp phần giáo dục truyền thống "yêu nước, thương nòi"
cho các thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mãi mãi mai sau; để dân tộc Việt Nam mãi
mãi là khối sức mạnh đại đoàn kết vững chắc chống lại mọi thế lực thù địch để
trường tồn tiến bước.Việc “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại Phú Thọ” được
UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã chứng
tỏ sức sống của văn hóa Việt Nam, gắn với dòng chảy văn hóa hội nhập vào thế
giới. Đây cũng là một dấu mốc, là động lực giúp công tác bảo tồn và phát huy
những giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đạt hiệu quả cao hơn. Ngày

phê duyệt.
Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành phân cấp quản lí trong công tác tu bổ,
phục hồi, bảo vệ di tích, di vật có trong di tích để phát huy giá trị của các di tích

24


trong mọi thời đại. Trên cơ sở đó ban hành các quy chế, các văn bản có liên quan
đến bảo vệ, tôn tạo di tích, di sản văn hóa đó.
Ban quản lí khu di tích có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, ban, ngành
và chính quyền cấp cơ sở tại địa phương như: Sở tài chính, Cục thuế, Sở văn hoá
thể thao và du lịch… tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng các mức thu phí, lệ phí
thăm quan du lịch theo quy định của pháp luật và trình cơ quan quản lí Nhà nước
có thẩm quyền quyết định
Thực hiện tốt các biện pháp quản lí và bảo vệ khu di tích thờ tín ngưỡng
Hùng Vương như trên có tác động rất lớn đến sự phát triển của tín ngưỡng đặc sắc
này. Như vậy, cùng với sự phát triển đi lên không ngừng của khu di tích theo qui
luật phát triển đi lên của đất nước, con người Việt Nam, việc quan tâm, xây dựng
các tổ chức quản lí cũng luôn phải lớn theo sự phát triển của di tích.
4.1.2.

Tôn tạo, tu sửa Đền Hùng và Khu di tích Đền Hùng

Đền Hùng đã trở thành một trọng điểm đầu tư xây dựng các hạng mục công trình
văn hóa của cả nước, đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ quản lí, phát huy tác dụng
của khu di tích này.. Công tác tôn tạo, tu sửa các kiến trúc đền, chùa trên núi Hùng
tuân thủ theo nguyên tắc bảo tồn một cách nghiêm túc. Việc đại trùng tu các cơ sở
kiến trúc thượng tầng là các đền, chùa trên núi Hùng trong thời hiện tại không làm
phá vỡ cảnh quan diện mạo của khu di tích
4.1.3.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status