ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG ANH
DÀNH CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
(BẢN HOÀN THIỆN SAU NGHIỆM THU CẤP BỘ)
Hà Nội 7/2012
1
MỤC LỤC
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH
1.1 Thông tin chung
1.2 Phương pháp xây dựng chương trình
1.3 Cơ sở và nguyên tắc xây dựng chương trình
3
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
2.1 Đối tượng tham gia Khóa học
2.2 Mục tiêu Khóa học
2.3 Cấu trúc và Nội dung Chương trình
2.4 Phương pháp dạy và học
2.5 Phương pháp đánh giá
10
lực Tiếng Anh (400 tiết, bao gồm học trên lớp và học có ứng dụng công nghệ thông tin) và
Bồi dưỡng Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh (50 tiết).
Chương trình Bồi dưỡng Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh (dưới đây gọi tắt là Chương
trình PPGD) được xây dựng với mục đích giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn và
nghiệp vụ để đáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp: Giáo viên bậc THCS cần có năng lực Tiếng
Anh đạt chuẩn B2 theo Khung Tham chiếu Châu Âu CEFR, và có kiến thức, kỹ năng và
nghiệp vụ sư phạm phù hợp với việc giảng dạy môn Tiếng Anh bậc THCS.
Chương trình bồi dưỡng PPGD là một trong một số chương trình nội dung bồi dưỡng mà
người giáo viên THCS có thể tham gia như bồi dưỡng sử dụng sách giáo khoa, chuyên đề
chuyên sâu về phát triển năng lực kiểm tra đánh giá, hay ứng dụng CNTT trong giảng dạy
ngoại ngữ.
Với thời lượng 50 tiết học, Chương trình PPGD được thiết kế theo 5 chuyên đề (modules)
với các nội dung cơ bản, cô đọng, tiên tiến về phương pháp giảng dạy Tiếng Anh bậc
THCS, giúp giáo viên củng cố nền kiến thức họ đã được trang bị từ các trường đào tạo Sư
phạm đồng thời nắm bắt được xu hướng phát triển hiện nay của việc dạy và học Tiếng Anh
trên thế giới và tại Việt Nam, cũng như phát triển một số năng lực cần thiết để giáo viên có
thể bồi dưỡng chuyên môn của mình để theo kịp yêu cầu của việc giảng dạy tiếng Anh. Các
kiến thức và năng lực này giúp giáo viên sử dụng bộ sách giáo khoa đang được biên soạn
theo Đề án NNQG.
Chương trình PPGD cấp THCS do các giảng viên Khoa Sư phạm Tiếng Anh, Trường Đại
học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội biên soạn.
Địa chỉ liên hệ: Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Đường Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: (844) 3754 7269; Fax: (844) 3754 8057
Email:
Website: www.ulis.vnu.edu.vn
1.2 Phương pháp xây dựng chương trình
Chương trình PPGD được xây dựng dựa trên chuẩn đầu ra (Outcome-based curriculum
planning). Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trên thế giới khi biên soạn chương
trình đào tạo, bắt đầu từ việc xác định cụ thể các kết quả cần đạt được (learning outcomes)
Chủ trương mở cửa và hội nhập của Việt Nam đã tạo nhu cầu sử dụng ngoại ngữ nhất là
Tiếng Anh khi các công ty, nhà doanh nghiệp vào làm việc tại nước ta, hoặc các hoạt động
khoa học kĩ thuật cũng đòi hỏi một đội ngũ sử dụng được ngôn ngữ này. Việt Nam cần có
nguồn nhân lực có trình độ sử dụng Tiếng Anh cho phép họ và đất nước hội nhập trong nền
kinh tế toàn cầu, và hoạt động trong một môi trường cạnh tranh đa văn hóa. Ngoài ra, người
học còn có các nhu cầu văn hóa – xã hội khác như đi du lịch, tìm hiểu hay nghiên cứu về các
quốc gia, và nền văn hóa khác. Số lượng người học Tiếng Anh tại Việt Nam chiếm đa số so
với các ngoại ngữ khác và tiếp tục tăng lên. Tiếng Anh được giảng dạy sớm hơn (chính thức
từ lớp 3), với mức độ yêu cầu cao hơn.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã có chính sách nhằm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng của
việc dạy ngoại ngữ:
-
-
Kì họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Giáo dục (sửa đổi) trong đó quy
định tại Điều 7, mục 3 như sau: “Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là
ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại
ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học
liên tục và có hiệu quả.”
Ngày 30/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 1400/QĐ-TTg phê duyệt
Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 –
2020” (gọi tắt là Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020).
4
-
-
Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát năng lực giáo viên Tiếng Anh trong khuôn khổ Đề án
NNQG tại nhiều tỉnh thành trên cả nước được đăng tải trên một số phương tiện truyền
thông, hiện tại chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu giáo viên và giáo viên tiếng
Anh không đủ chuẩn. Đa số các giáo viên tham gia khảo sát còn yếu về năng lực chuyên
môn, hạn chế về năng lực sư phạm. Có tới 90% giáo viên tiếng Anh chưa đạt chuẩn năng
lực ngoại ngữ, trong đó, theo phản hồi, một trong số những kỹ năng kém nhất của giáo viên
là kỹ năng Nghe. Một số nguyên nhân được nêu ra gồm có ý thức tự bồi dưỡng chưa cao và
do chưa có nhiều cơ hội được tham gia các lớp bồi dưỡng do các chuyên gia có nhiều kinh
nghiệm giảng dạy, có ít cơ hội được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của các giáo viên có
trình độ và kinh nghiệm.1
Khảo sát nhu cầu hiện tại của giáo viên cấp THCS
Để bước đầu có được thông tin chi tiết hơn về nhu cầu của giáo viên THCS, chúng tôi đã
tiến hành khảo sát 264 giáo viên Tiếng Anh hiện đang giảng dạy ở các trường THCS ở 4
tỉnh thành phố là Hải Dương, Thái Bình, Ninh Bình, và Điện Biên. Tuy chưa có điều kiện
1
Xem chi tiết tại Phụ lục 1.
5
tiến hành khảo sát tại các địa phương ngoài khu vực miền Bắc, số liệu thu được từ khảo sát
điểm này sẽ góp phần bổ sung bức tranh về tình hình BDGV cùng với các thông tin đề cập
đến các địa phương trong cả nước mà chúng tôi tìm hiểu qua các phương tiện thông tin đại
chúng.2
Kết quả khảo sát cho thấy giáo viên cần được tham gia các khóa bồi dưỡng về phương pháp
giảng dạy và nâng cao khả năng thực hành tiếng của mình, bởi hiện tại họ có rất ít cơ hội bồi
dưỡng chuyên môn như vậy.
Về phương pháp giảng dạy Tiếng Anh, giáo viên tỏ ra khá thiếu tự tin về khả năng của
mình. Các lĩnh vực họ ít tự tin nhất bao gồm hướng dẫn học sinh học tập tích cực chủ động,
yếu nhất phải kể đến kỹ năng phát âm, điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến cách giáo viên
dạy phát âm cho học sinh; khả năng sử dụng công nghệ một cách thực sự hiệu quả cho việc
dạy học v.v… Đồng thời, với tâm lý nặng về thi cử, đa số giáo viên vẫn chỉ biết đến các bài
kiểm tra và các kỳ thi mà chưa biết cách áp dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau
nhằm thúc đẩy việc học tập của học sinh.
2
Xem chi tiết tại Phụ lục 2.
6
(c) Kinh nghiệm bồi dưỡng giáo viên/PPGD hiện tại trên thế giới có thể áp dụng tại Việt
Nam
Một giáo viên cần có những nền tảng kiến thức gì để có thể giảng dạy một cách hiệu quả?
Họ cần BIẾT những gì và có thể LÀM được những gì? Trong nghiên cứu về đào tạo giáo
viên ngoại ngữ, các nhà giáo dục thường chia các nền tảng kiến thức này theo lĩnh vực, từ
đó phân nhỏ thành các tiêu chí. Ví dụ Freeman (2009) chia thành các mảng gồm substance
(content và processes), engagement, và outcomes. Johnson (2009) lại có cách phân chia như
sau: content (giáo viên biết những gì), pedagogies (giáo viên dạy như thế nào) và delivery
(giáo viên học cách dạy như thế nào).
Tại Việt Nam, khung năng lực dành cho giáo viên ngoại ngữ dựa trên mô hình của
Bransford, Darling-Hammond & LePage (2005) và Ball & Cohen (1999) đang được xây
dựng gồm 5 mảng như sau:
1. Kiến thức về môn học giảng dạy và chương trình giảng dạy
2. Kiến thức về phương pháp giảng dạy
3. Hiểu biết về người học
4. Thái độ và giá trị nghề nghiệp thể hiện trong tất cả các lĩnh vực kiến thức
5. Kết nối giảng dạy và phát triển chuyên môn với bối cảnh thực tế
•
Tự suy ngẫm và tự nêu câu hỏi tìm hiểu
(Dudzik, 2012)
Chương trình bồi dưỡng PPGD này cũng hướng tới một số đặc điểm cần có của một chương
trình Bồi dưỡng giáo viên thành công (Hayes, 2008, nghiên cứu chương trình BDGV tại
Hàn Quốc), như:
Hướng cho giáo viên nhận thức và có được kỹ năng cần thiết để họ tiếp tục tự học,
tự bồi dưỡng (lifelong learning)
Ưu tiên các phương pháp hiệu quả, mang lại ảnh hưởng tích cực đối với việc học của
học sinh
Khuyến khích khả năng giáo viên áp dụng những gì được học từ khóa BDGV vào
bối cảnh lớp học của họ
Một số chương trình đánh giá năng lực giảng dạy của nước ngoài như chương trình ICELT
(In-service Certificate in English Language Teaching) của Cambridge ESOL, TKT
(Teaching Knowledge Test) của Cambridge ESOL, Pearson Teacher Development
Interactive của Pearson Education cũng được tham khảo trong quá trình biên soạn.
Bên cạnh nội dung, chương trình cũng chú ý tới hình thức và phương pháp tập huấn sao cho
tăng tối đa sự tương tác giữa giảng viên-học viên và giữa học viên với nhau - yếu tố quan
trọng khiến khóa học thực sự hiệu quả (Chodidjah, 2009, nghiên cứu chương trình BDGV
tại Indonesia). Đây cũng là phương pháp tập huấn hiện đang được sử dụng tại các chương
trình bồi dưỡng PPGD tại Việt Nam của Hội đồng Anh, Đại sứ quán Mỹ, NXB Oxford,
NXB Pearson Longman, v.v…
(d) Tóm tắt kết luận nghiên cứu
Trên cơ sở:
- Các văn bản pháp quy (trong đó có Quy định về Chuẩn Nghề nghiệp giáo viên
THCS, giáo viên THPT Bộ Giáo dục Đào tạo, và Chương trình Giáo dục phổ thông
môn Tiếng Anh thí điểm cấp Trung học cơ sở do Bộ Giáo dục & Đào tạo phê duyệt
năm 2012),
- Kết quả khảo sát năng lực giáo viên các tỉnh thành tại Việt Nam,
Nội dung Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy sẽ được lồng ghép vào nội dung (2),
(4) và (5). Một số nội dung khác như Phương pháp giảng dạy Kỹ năng (Nghe-Nói-ĐọcViết) được lồng ghép vào nội dung (1) và (2) do thời lượng của Chương trình chỉ giới hạn
trong 50 tiết, và bởi chúng tôi cho rằng giáo viên THCS đã được trang bị những kiến thức
này tại các trường Sư phạm. Cũng vì những lý do đó, nội dung quan trọng khác là Khai thác
sử dụng tài liệu giảng dạy và một số nội dung khác sẽ được đề cập trong các khóa BDGV
khác.
Chương trình cũng cần phù hợp với sứ mệnh của Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc
gia Hà Nội là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, sứ mệnh cung
cấp các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng yêu cầu của xã hội theo chuẩn quốc tế, đồng thời
khẳng định những giá trị cốt lõi mà Trường coi trọng, bao gồm tính năng động, sáng tạo,
trung thực, tinh thần trách nhiệm, khả năng sống và làm việc trong môi trường cạnh tranh đa
văn hóa.
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
2.1 Đối tượng tham gia khóa học
Khóa học bồi dưỡng này được thiết kế cho đối tượng là giáo viên đang giảng dạy bộ môn
tiếng Anh ở các trường THCS. Các giáo viên này có chung các điểm sau:
đã trải qua đào tạo ở các trường cao đẳng hoặc đại học và có một lượng kiến thức
nhất định về phương pháp giảng dạy nói chung và giảng dạy tiếng Anh nói riêng,
đã có kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh tại trường THCS trong một số năm nhất định
và sẵn sàng sử dụng những kinh nghiệm giảng dạy này để phát triển chuyên môn và
nghiệp vụ.
Ngoài ra, khóa bồi dưỡng này cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý giáo
dục (cụ thể là các chuyên viên/thanh tra tiếng Anh bậc THCS) để nắm bắt những đổi mới
trong công tác giảng dạy tiếng Anh và thuận lợi hơn trong việc quản lý giáo dục.
2.2 Mục tiêu chung của Khóa học
Là một trong các khóa học bồi dưỡng dành cho giáo viên tiếng Anh bậc THCS, và diễn ra
trong thời gian ngắn (50 tiết), khóa bồi dưỡng này nhằm giúp giáo viên Tiếng Anh bậc
THCS:
cập nhật các kiến thức về các xu hướng và phương pháp giảng dạy tiếng Anh tiên
tiến, từ đó nâng cao nhận thức về công việc giảng dạy tiếng Anh ở bậc THCS,
thúc đẩy việc học tập.
- Tìm hiểu, lựa chọn, và thực hiện một số phương pháp tự bồi dưỡng nâng cao năng lực
chuyên môn phù hợp với bản thân.
- Bước đầu áp dụng các phương pháp, kiến thức, kỹ năng học được trong việc giảng dạy
theo SGK THCS bộ mới.
- Có cơ hội tìm hiểu, quan sát thực tế giảng dạy và thực hành giảng dạy tại một trường
THCS, từ đó có những chiêm nghiệm và ứng dụng phù hợp với bối cảnh dạy và học của bản
thân.
Thái độ
- Tự tin hơn trong việc giảng dạy
- Có thêm động cơ tham gia các hoạt động BDCM
- Yêu nghề hơn
10
2.4 Cấu trúc và Nội dung Chương trình
2.4.1 Mô tả module
STT Nội dung
Thời
lượng
Kiến thức chuyên môn; Nghiệp vụ giảng dạy; Kiến thức về người học
1
Dạy Tiếng Anh cho học sinh Trung học Cơ sở - Một số vấn đề về cơ 10 tiết
sở lý luận và phương pháp
2
dạy và học tiếng Anh cho giáo viên và học sinh.
4
Phương pháp giảng dạy Phát âm
10
Module cung cấp cho giáo viên tiếng Anh THCS hiểu biết sâu hơn về
các thành tố ngữ âm trong chương trình tiếng Anh THCS gồm: các
nguyên âm, nguyên âm đôi, bán nguyên âm, phụ âm, tổ hợp phụ âm;
trọng âm từ, nhịp điệu và ngữ điệu câu cơ bản trong tiếng Anh. Cùng
với đó, học viên cũng được giới thiệu các kỹ thuật giảng dạy ngữ âm
theo đường hướng giao tiếp và các hoạt động nhằm ôn luyện, củng cố và
ghi nhớ các thành tố ngữ âm này, khả năng sử dụng các phần mềm dạy
phát âm, thiết kế giáo án và tiến hành bài giảng ngữ âm trên lớp sao cho
phù hợp với môi trường và đối tượng giảng dạy của mình.
Phát triển chuyên môn
11
5
Phương pháp tự nâng cao chuyên môn.
10
Module giúp giáo viên THCS hiểu thêm về những kỹ năng tự học cơ
bản, đặc biệt các kỹ năng tự học để nâng cao năng lực Tiếng Anh.
Module cũng cung cấp cho học viên một số kiến thức và kỹ năng liên
and useful teaching strategies for this age group. These would serve as a
background for planning and teaching activities at lower-secondary
level.
2
Motivating learning through Project-based activities
10
What is project-based learning (PBL)? What are the steps that teachers
need to go through in order to plan a project-based lesson? What are
some possible drawbacks of PBL? This module aims at providing
participants with basic knowledge about PBL and practical ideas on how
to plan and implement a task-based lesson. Participants will be involved
in discussions, analysis of sample projects and designing small-scale
projects that can be applicable to their real teaching situations at
secondary schools in Vietnam. Some common concerns in applying
PBL such as managing desciplines, using technology in PBL, and
preparing students for high-stake English exams via PBL will also be
discussed.
3
Assessment in secondary English classrooms
10
What are “assessment” and “testing” and how they are currently used in
your English class? In this module, secondary teachers will be
introduced to different aspects of assessment and reflect on their
assessment practices, and how to make assessment most significant to
skills in class observation, journal writing, portfolio keeping as their
learning and development tools. They will have chances to discuss,
evaluate, and select other PD tools suitable for their own conditions.
Knowledge of learners; Learning in & from practice, informed by context
7
Classroom Observation: conducted at a lower secondary school
8
Teaching Practicum
9
Guest speaker Workshop
2.4.2 Mục tiêu cụ thể của các module
Module 1: Background to Teaching English to Adolescents
By the end of the module, teachers will be able to:
- understand psychological features of adolescences, especially cognitive features
- understand the fundamental second language learning theories
- identify the teaching methods that support adolescents’ learning
- demonstrate an understanding of skill-based method in their lesson planning and teaching
- apply the strategies to support learner-centered learning
Module 2: Motivating learners through project-based learning activities
By the end of the module, teachers will be able to:
- understand the concept of project-based learning
- recognize the advantages and be aware of possible drawbacks of project-based learning
- understand/ identify the basic steps of a project work
- plan small-scale projects that can be applicable to their real teaching situations at
secondary schools in Vietnam
Module 3: Assessment in secondary English classrooms
By the end of the module, teachers will be able to:
- be able to identify what assessment and testing are through reflecting on their ssessment
practice;
13
dung lý thuyết mới (nếu có). Phần lớn thời gian nên tập trung vào việc cho học viên thực
hành các nội dung đó trên cơ sở nguồn học liệu sách giáo khoa phổ thông, hoặc các nguồn
học liệu khác sắn có. Sau mỗi phần thực hành này, cần tổ chức cho học viên nhận xét, đánh
giá, rút ra điểm mạnh hay điểm yếu của các bài tập mà học viên đã thực hiện.
Do các học viên đều đã có một số kinh nghiệm giảng dạy, chương trình BD PPGD gợi ý sử
dụng phương pháp tự suy ngẫm/chiêm nghiệm (reflective) để có thể minh hoạ hay chia sẻ
các bài học thành công/thất bại.
Đồng thời học viên cũng cần được khuyến khích chủ động khám phá trong quá trình học,
tích cực cả trong thời gian trên lớp và thời gian tự học cá nhân hoặc học nhóm. Các kỹ năng
cần trang bị cho học viên bao gồm: kỹ năng tư duy, kỹ năng tự khám phá, kỹ năng học
nhóm, kỹ năng suy luận, kỹ năng đặt câu hỏi, v.v…
Đây là phương pháp tập huấn hiện đang được sử dụng phổ biến trong các khóa BDGV trên
thế giới (tại Việt Nam có thể kể đến các khóa BDGV của Hội đồng Anh, NXB Pearson
Longman, NXB Oxford, Cambridge ESOL, etc.)
2.6 Phương pháp kiểm tra đánh giá
14
Mục đích của đánh giá là nhằm nâng cao hiệu quả học tập, và giám sát và chứng nhận kết
quả học tập. Phương pháp kiểm tra đánh giá của Khóa học sử dụng kết hợp nhiều hình thức
đánh giá, đi từ đánh giá quá trình (formative assessment) đến đánh giá kết thúc (summative
assessment) đang được sử dụng phổ biến hiện nay (Tognolini & Stanley, 2011).
- Nhật ký học tập
- Quan sát lớp học
- Bài kiểm tra nhanh
- Giảng tập
- Mini-project
- Bài kiểm tra cuối khóa
PHẦN 3: HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
Có khả năng giảng các nội dung chuyên môn về PPGD bằng Tiếng Anh một cách dễ
hiểu.
Có khả năng tiến hành các hoạt động tập huấn, quản lý lớp học một cách hiệu quả
Chủ động, sáng tạo trong công việc; linh hoạt trong quá trình tập huấn.
3.3 Phương pháp Tập huấn
Phương pháp chung
Khi thực hiện Chương trình, giảng viên có thể chủ động chọn lựa các nội dung phù
hợp với thực tế của khóa tập huấn (ví dụ nhu cầu của học viên hoặc trình độ của học
15
viên). Một số nội dung trong Chương trình có thể được lược bớt hoặc điều chỉnh tùy
theo thực tế.
Trong suốt khóa học, giảng viên nên tạo điều kiện cho học viên nhớ lại và sử dụng
kiến thức và kinh nghiệm liên quan của họ đối với từng nội dung bài học mới.
Khi trình bày nội dung Lý thuyết, cần đặt câu hỏi để học viên suy nghĩ và thảo luận,
tránh trình bày một chiều. Khuyến khích học viên trao đổi với giảng viên và với các
học viên khác.
Đối với phần Thực hành, giảng viên có thể sử dụng các hoạt động/nhiệm vụ (hoạt
động cá nhân, hoạt động cặp, hoạt động nhóm) và chủ động điều chỉnh cách thức
Thảo luận nhóm/cặp (Discussion)
Động não (Brainstorm)
Liên hệ bản thân/Liên hệ thực tế (Reflection)
Đọc bài khóa theo nhóm (Group reading)
Xem video/tình huống kịch và thảo luận, phân tích (Video observation, Demo
observation)
Sử dụng trò chơi (Games)
Tham gia thi tài cá nhân/nhóm/đội (Competition)
Đóng vai (Role-play/Simulation)
Thuyết trình (Presentation)
Giải quyết tình huống (Case study)
Làm project (Project)
Giảng tập (Microteaching)
3.4 Phương pháp quản lý và đánh giá Khóa Bồi dưỡng PPGD
Như mọi chương trình đào tạo khác, Khóa học cần được quản lý và đánh giá thường xuyên.
Đánh giá thường xuyên sẽ mang lại kết quả bền vững (Royse et al., 2006).
Mục đích của quá trình quản lý và đánh giá là để đảm bảo chất lượng tổ chức và giảng dạy
cao nhất, đồng thời có được phản hồi kịp thời để nội dung và phương pháp tập huấn có thể
được điều chỉnh phù hợp với thực tế lớp học cũng như yêu cầu và mong muốn của các bên
liên quan.
Khi quản lý và đánh giá Khóa học, cần luôn so sánh với các mục đích và mục tiêu, cũng như
các tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra của Khóa học.
16
Có 4 phương pháp quản lý và đánh giá Khóa học thường được sử dụng (White, 2001):
- Tự đánh giá (self-assessment)
/>Cameron, L. (2001). Teaching languages to young learners. Cambridge University Press.
Celce-Murcia, Marianne (2001). Teaching English as a Second or Foreign Language - 3rd
Edition. New York: Heinle & Heinle.
Costas, G. (2002). Reading aloud and clear: Reading aloud in ELT. Retrieved 11 January
2010
from
/>ED477572.
Chen,C.F.,Fan,C.Yn,Lin,H.P.(1996).AnewperspectiveonteachingEnglish
Pronunciation:
Rhythm. Retrieved 18 June 2011 from
/>cno=
Chodidjah, I. (2009). Structured and monitores teacher developmen: the wind of change. In
Access EnglishEBE Symposium Proceedings. British Council, pp. 88-94.
Dörnyei, Z. (2001). Motivational Strategies in the Language Classroom. Cambridge:
Cambridge University Press.
Dudzik, D. (2010, 2011). Vietnam English Teacher Competency Standards.
Fragoulis, I. (2009). Project-Based Learning in the Teaching of English as A Foreign
Language in Greek Primary Schools: From Theory to Practice. CCSE English Language
Teaching
Journal,
2
(3),
113-119.
Retrieved
June
6th
2012
from:
/>Freeman, D. (2009). The scope of second language teacher education.In A. Burns &
J.C. Richards (Eds.) The Cambridge guide to second language teacher education (pp. 1119). Cambridge: Cambridge University Press.
Spatt, M. Pulverness, A. & Williams, M. (2005) The TKT Course. London: Cambridge
University Press.
Tanner R., Longayroux D., Beijaard, D., and N Verloop, Douwe R. (2000). Piloting
portfolios: using portfolios in pre-service teacher education, ELT Journal Volume 54/1
January 2000.
Tognolini, J. & Stanley, G. (2011). A standards perspective on the relationship between
formative and summative assessment. In British Council TeachingEnglish: New Directions:
Assessment and Evaluation. British Council East Asia Brand and Design, pp. 25-31.
19
White,
G.
Peer
observation,
retrieved28,
November,
/>
2011
from
White, R. (2001). Programme management. In R. Carter & D. Nunan. The Cambridge
Guide to Teaching English to Speakers of Other Languages. Cambridge: Cambridge
University Press, pp. 194-200.
Wiggins, G. & McTighe, J. (2005). Understanding by Design. New Jersey: Pearson
Education, Inc.
Wragg, E.C., An introduction to classroom observation, Routledge: London and New York,
2002.
University of Bradford,Writing effective learning journals retrieved28, November, 2011
chất và năng lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tuy nhiên, hiện tại chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu giáo viên và giáo viên
tiếng Anh không đủ chuẩn (báo Tiền Phong online 27/6/2011). Cụ thể, theo công bố từ Bộ
Giáo dục & Đào tạo, có đến 90% giáo viên tiếng Anh chưa đạt chuẩn (Báo Pháp luật TP
HCM 27/12/2011).
Bảng 1. Tình hình khảo sát GV Tiếng Anh tại một số địa phương (Nguồn: Báo Tuổi trẻ online 11/06/2012)
Theo Báo VietnamPlus, Thông tấn xã Việt Nam, ngày 19/10/2011, tại Hội nghị triển khai đề
án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020, lãnh đạo
nhiều sở giáo dục và đào tạo đều đưa ra nhận định những khó khăn hiện nay là giáo viên
vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng, cơ sở vật chất không đáp ứng yêu cầu, ý thức
học tập của học sinh còn kém… Tại Đà Nẵng, giáo viên thiếu cả về số lượng lẫn năng lực
chuyên môn và năng lực sư phạm. Tại Hải Dương, năng lực ngoại ngữ và năng lực giảng
dạy của một bộ phận lớn giáo viên còn hạn chế. Nhiều giáo viên còn yếu cả về phương pháp
giảng dạy do ý thức tự bồi dưỡng chưa cao và do chưa có nhiều cơ hội được tham gia
các lớp bồi dưỡng do các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, có ít cơ hội được
giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của các giáo viên từ những nước nói tiếng Anh. Ngoài ra,
nhiều đại biểu tại Hội nghị (Hải Dương, Quảng Nam) đưa đề xuất cần tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy và học ngoại ngữ. Qua đợt khảo sát, phản
hồi từ đa số giáo viên khu vực ĐBSCL cho thấy kỹ năng kém nhất của giáo viên là kỹ
năng Nghe (Tuổi trẻ online 11/6/2012).
21
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHU CẦU GIÁO VIÊN THCS
Khảo sát đã được tiến hành với 264 giáo viên Tiếng Anh hiện đang giảng dạy ở các trường
THCS ở 4 tỉnh thành phố là Hải Dương, Thái Bình, Ninh Bình, và Điện Biên.
Kết quả cho thấy phần lớn giáo viên THCS được khảo sát tốt nghiệp đại học sư phạm và cao
3
Có khả năng giao tiếp tốt bằng tiếng Anh
3
Hiểu tâm lý lứa tuổi
3
Phong cách sư phạm, lời nói, chữ viết chuẩn mực
7
Phát huy được tất cả các đối tượng học sinh trong lớp học
7
Có mối quan hệ gần gũi, thân thiện với học trò:
7
9
Có kinh nghiệm giảng dạy
Phát âm tốt
12
Thiết kế hoạt động dạy học sáng tạo:
49
57
Nhiệt tình, trách nhiệm với công việc:
69
Chuyên môn vững:
102
Phương pháp truyền đạt phù hợp:
0
20
40
60
80
100
120
22
Bảng 2. Giáo viên tự đánh giá điểm mạnh về chuyên môn giảng dạy Tiếng Anh
230
Phát âm Tiếng Anh
235
0
50
100
150
200
250
Bảng 3. Giáo viên tự đánh giá về nhu cầu nâng cao năng lực Tiếng Anh
Về câu hỏi nguyện vọng của giáo viên nếu được tham gia tập huấn ngắn hạn BDCM, câu trả
lời cho thấy các nội dung được giáo viên mong đợi nhất (60-80% số người chọn) bao gồm:
Phương pháp tự nâng cao năng lực Tiếng Anh và năng lực sư phạm, Phương pháp và
kỹ năng giảng dạy THCS, Sử dụng công nghệ, Phương pháp kiểm tra đánh giá, và lý
thuyết căn bản về giảng dạy THCS.
Phương pháp quản lý lớp học
116
Phương pháp thiết kế, biên soạn, sử dụng tài liệu giảng dạy
150
200
250
Bảng 4. Nguyện vọng được bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên THCS
23
PHỤ LỤC 3: CHUẨN TRÌNH ĐỘ THEO KHUNG THAM CHIẾU CHÂU ÂU CEFR
Trình độ B2
1. Mục tiêu chung
Kết thúc chương trình, người học có thể:
Nắm được ý chính của những văn bản phức tạp xoay quanh những chủ đề trừu tượng
hay cụ thể, bao gồm cả những cuộc thảo luận về các vấn đề thuộc chuyên môn của
người học. Có thể tương tác với một mức độ trôi chảy mà không cần chuẩn bị nhiều, qua
đó có thể tương tác thường xuyên với người nói bản ngữ mà không gây khó khăn cho
đôi bên.
Có thể tạo ra các văn bản rõ ràng, cụ thể về nhiều đề tài khác nhau; có thể diễn giải quan
điểm đối với một vấn đề có tính thời sự, biết trình bày về cả mặt lợi và hại của một vấn
đề.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Kiến thức ngôn ngữ
Ngữ âm
Kết thúc chương trình, người học có thể:
Phát âm tương đối rõ ràng
Ngữ điệu tương đối tự nhiên
Đọc thư từ liên quan đến lĩnh vực mà mình ưa thích và không khó khăn để nắm được ý
chính.
Đọc lướt nhanh qua các bài đọc dài và phức tạp nhằm xác định thông tin phù hợp.
Nhanh chóng xác định được nội dung và độ phù hợp của các bản tin, bài báo và báo
cáo về nhiều đề tài chuyên môn khác nhau, qua đó quyết định xem có đáng tiến hành
các nghiên cứu sâu hơn hay không.
Thu thập được thông tin, ý tưởng từ các nguồn thuộc chuyên ngành của bản thân.
Hiểu được các bài báo chuyên ngành nằm ngoài chuyên môn của bản thân, với điều
kiện đôi lúc được phép sử dụng từ điển để xác nhận cách hiểu của mình về các thuật
ngữ chuyên ngành.
Hiểu được các bài báo và báo cáo liên quan đến các vấn đề ‘thời sự’, ở đó người viết
đứng trên một lập trường hay quan điểm nhất định.
Hiểu được các chỉ dẫn dài, phức tạp về chuyên môn của mình, bao gồm chi tiết về
các điều khoản và khuyến cáo, với điều kiện được phép đọc lại những đoạn khó.
Kỹ năng Nghe
Kết thúc chương trình, người học có thể:
Hiểu đuợc ngôn ngữ nói chuẩn, dù là trực tiếp hay qua các phương tiện truyền thông, về
các vấn đề quen thuộc hay xa lạ hay có trong cuộc sống riêng tư, trong xã hội, học tập và
lao động. Khả năng nghe hiểu chỉ bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn lớn trong ngữ cảnh, những
cấu trúc diễn ngôn không phù hợp và khi người nói sử dụng thành ngữ.
Nắm được ý chính của những ngôn bản phức tạp xoay quanh các các đề tài cụ thể cũng
như trừu tượng được truyền tải bằng giọng chuẩn, gồm cả những cuộc bàn luận có tính
chuyên ngành thuộc chuyên môn người học.
Bắt kịp với những cuộc trò chuyện sôi nổi của người bản xứ.
Theo dõi được các ngôn bản dài và các đoạn lập luận phức tạp, với điều kiện đề tài khá