ĐẾ TÀI: DU LỊCH CHỢ NỔI VÙNG ĐBSCL
Α.CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam-dải đất hình chữ S xinh đẹp được bạn bè quốc tế biết
đến với những con người chịu thương,chịu khó, thân thiện và luôn mến
khách... Không những vậy, Đất nước ta còn được du khách khắp nơi trên thế
giới xem là nơi có tình hình an ninh chính trị ổn định. Với khí hậu luôn mát
mẽ, trải dài từ Bắc xuống Nam, mọi miền đất nước đều có nhiều cảnh quan
thiên nhiên hữu tình và thơ mộng, những danh lam thắng cảnh tươi đẹp,
cùng với những công trình kiến trúc, những di tích lịch sử hào hùng của dân
tộc... Đó là những lí do góp phần làm cho du khách quốc tế luôn chọn Việt
Nam là một điểm đến lý tưởng để tham quan và du lịch.
Mỗi vùng miền đều có sản phẩm du lịch đặc trưng riêng của nó. Nếu như
ở miền Bắc có những dãy núi hùng vĩ thích hợp cho loại hình du lịch khám
phá và nghỉ dưỡng, còn ở vùng duyên hải miền Trung là những bãi biển với
bờ cát trắng trải dài tuyệt đẹp và hữu tình,cùng với Tây Nguyên thơ mộng
với những ngọn đèo, những thác nước hùng vĩ, với khí hậu mát mẻ quanh
năm... Thì ở Nam Bộ đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Cửu Long – Chợ Nổi
là một loại hình du lịch độc đáo nơi đây.
Đến với đồng bằng Sông Cửu Long đi chợ nổi vừa có cái thú đi xuồng
máy trên sông nước mênh mang, ngắm cảnh làng quê trù phú bên sông, lại
được mua trái cây, rau quả, cá tôm và nhiều sản vật tươi sống, còn nguyên
hương vị đồng quê miệt vườn.Ở Phong Điền, người ta thuộc lòng câu ca dao
đậm tình sông nươć :
“Phong điền chợ nổi trên sông
Bồng bềnh mặt nước chợ đông sớm chiều”
Nói đến đồng bằng Sông Cửu Long là nói đến hệ thống sông ngòi, kênh
rạch chằng chịt đan xen cùng những vườn cây ăn trái sum xuê trĩu quả,
những cánh đồng cò bay thẳng cánh, khí hậu mát mẻ đặc biệt là con người
nơi đây luôn chân chất, hiền hòa và đầy lòng hiếu khách... Là nơi dừng chân
lý tưởng không thể thiếu của du khách trong và ngoài nước. Các chợ nổi
năm 2030; Đề án phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 và một số nghiên
cứu khoa học đã định hướng khá rõ về hệ thống sản phẩm và hình ảnh điểm
đến vùng ĐBSCL, tuy nhiên cho đến nay việc liên kết phát triển sản phẩm
du lịch đặc thù và xúc tiến quảng bá du lịch vùng ĐBSCL chưa được như
mong muốn, ảnh hưởng đến vị thế và sức cạnh tranh du lịch chung của
vùng.
Điều này được thể hiện rõ qua việc so sánh số lượt khách du lịch đến
vùng ĐBSCL và tổng thu nhập du lịch của vùng. Theo đó, năm 2013, toàn
2
vùng đón được 1.668.800 lượt khách du lịch quốc tế, bằng 8,3% tổng lượng
khách quốc tế cả nước; 9,8 triệu lượt khách nội địa, chiếm 5,8% tổng lượt
khách nội địa cả nước; tổng thu nhập từ du lịch của vùng đạt 5.141 tỷ đồng,
chiếm 2,7% tổng thu nhập du lịch của cả nước. Tình trạng ì ạch này của du
lịch ĐBSCL không có gì thay đổi nhiều trong suốt thời gian từ năm 2006
đến nay. Có thể thấy đồng bằng sông cửu long chưa đủ sức hấp đẫn để thu
hút khách du lịch trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, nhiều cuộc hội thảo quốc tế đã được tổ chức để
tìm hướng đi cho du lịch của vùng. Hầu hết các chuyên gia đều khẳng định
“đồng bằng Sông Cửu Long có thể được ví như một khu vườn địa
đàng”, nhưng làm thế nào để vực dậy tiềm năng du lịch của vùng vẫn là câu
hỏi của nhiều năm qua chưa có lời giải đáp? Với mong muốn được góp một
phần công sức trong khả năng của mình cho sự phát triển ngành du lịch của
vùng đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và cho chợ nổi Nam Bộ nói
riêng nên em chọn “Du lịch Chợ Nổi” vùng đồng bằng Sông Cửu Long làm
đề tài thảo luận.
Hoạt động buôn bán ở chợ nổi
2. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
Năm 2002 ngành Văn Hóa Thông Tin – Bảo Tàng tỉnh Cần Thơ, thực hiện
dự án chợ nổi Phụng Hiệp – Cần Thơ, với bài nghiên cứu khoa học và bộ
phim tài liệu video dài 35 phút. Cũng trong năm này, dịp Xuân Nhâm Ngọ,
báo Gia Đình và Xã Hội có viết một trang khá dài mô tả từ chợ nổi xưa đến
chợ nổi ngày nay. Bài báo nhận xét: “Chợ nổi miền Tây có nhiều nhưng nổi
tiếng nhất là các chợ nổi Cái Răng, Phong Điền, Phụng Hiệp(Cần Thơ), Cái
Bè(Tiền Giang), Gành Hào(Cà Mau)…” ở phần kết bài báo có một nhận xét
khá sâu sắc: “Chợ nổi miền Tây Nam Bộ mang đậm chất thiên nhiên
mộc mạc như thế, nên chợ không đơn thuần là nơi mua bán mà đã biến
thành một địa chỉ văn hóa của vùng đất nơi đây”.
Chợ nổi Phong Điền
Hay như trong “Non nước Việt Nam – Sắc màu Nam Bộ” do nhà xuất
bản Phương Đông ấn hành của tác giả Phạm Công Sơn với tiêu đề “Văn hóa
4
chợ nổi”, tác giả cũng đã nêu những nhận xét khái quát về chợ nổi Cái Răng;
bên cạnh đó là việc trích dẫn bài báo nhan đề “Chợ nổi – Hương sắc miền
Tây” của tác giả Nguyễn Anh Thi. Bài báo này là cách nhìn của chính tác
giả về phong cách bán buôn của những người sống trên sông nước miền
Tây.. Và gần đây nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Nhâm Hùng với
cuốn “Chợ nổi đồng bằng Sông Cửu Long”. Tác giả đưa người đọc trở về
với không gian đặc trưng của vùng đồng bằng Sông Cửu Long để xem
những phiên chợ nhóm họp trên sông, soi rọi đến cùng sự hình thành và phát
triển của những phiên chợ độc đáo này... Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa có
đề tài nào nghiên cứu về hệ thống chợ nổi vùng đồng bằng Sông Cửu Long
dưới góc nhìn du lịch
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
gồm nhiều mặt như hoạt động xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, giao lưu
quốc tế; bên cạnh đó nhu cầu của khách du lịch cũng hết sức đa dạng, phong
phú… Hơn nữa du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, nên việc phát triển du lịch
đồng thời phải có sự liên kết với các ngành khác. Vì thế, với đề tài này, tác
giả đi sâu tìm hiểu nghiên cứu vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, trên cơ
sở đó tổng hợp lại nhằm: Nghiên cứu một cách tổng hợp các nhân tố ảnh
hưởng đến tình hình phát triển du lịch chợ nổi Cà Mau.
Phát triển du lịch chợ nổi miền Tây Nam Bộ nằm trong hệ thống phát
triển du lịch chung của đồng bằng Sông Cửu Long.
b) Quan điểm lịch sử:
Dựa trên quan điểm lịch sử, tác giả có cái nhìn bao quát hơn, xuyên suốt
hơn về vị trí địa lí, lịch sử hình thành, quá trình phát triển và trở thành sản
phẩm du lịch của chợ nổi Cà Mau cũng như là định hướng qui hoạch, phát
triển chợ nổi miền Tây Nam Bộ trong tương lai.
c) Quan điểm lãnh thổ:
Qui hoạch phát triển du lịch chợ nổi Cà Mau phải cụ thể trên từng lãnh
thổ (thành phố, các tuyến, huyện) để thấy rõ mối liên hệ giữa chợ nổi này và
các điểm du lịch khác trong tỉnh, vùng.
5.2, Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp sưu tầm tài liệu:
Đây là phương pháp phổ biến được nhiều người sử dụng khi nghiên cứu
đề tài, lập kế hoạch dự án đầu tư… Trước khi đi khảo sát thực tế, với tác giả
6
là quá trình sưu tầm tài liệu sách, báo, đĩa VCD, DVD, bài giảng ở các nơi
như thư viện, nhà sách và cả ở bạn bè, người thân.
b) Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống:
Du lịch được xem là hệ thống, hình thành trên năm phân hệ khác nhau
Bình minh trên chợ nổi
8
B .CHƯƠNG CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm du lịch
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du
lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà
khách chưa biết. Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo
việc làm và tăng thu nhập cho người lao động (hướng dẫn viên, các dịch vụ
liên quan...).
2. Khái niệm du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản
địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát
triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở
các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn
thiên nhiên và cá giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy
công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cưc đến môi trường và tạo các ảnh
hưởng tích cực về mặt kinh tế- xã hội cho cộng đồng địa phương
du lịch sinh thái
3, Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là những của cải vật chất và tinh thần do con
bạc, rạp chiếu phim, nhà hát, trung tâm biểu diễn nghệ thuật, khu triển lãm,
khu mua sắm...
- Các lễ hội, sự kiện: Các lễ hội tôn giáo, lễ hội văn hoá, các hội thi đấu thể
thao, hội chợ,..
c) Các nguyên tắc qui hoạch điểm du lịch
10
1. Phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, chiến lược phát triển ngành du lịch.
2. Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch và môi trường, giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc.
4. Bảo đảm tính khả thi, cân đối giữa cung và cầu du lịch.
5. Phát huy thế mạnh để tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù của từng vùng, từng
địa phương nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du lịch.
6. Bảo đảm công khai trong quá trình lập và công bố quy hoạch.
d) Các nguyên tắc thiết kế tuyến du lịch
Theo mục 9, điều 4 của Luật Du lịch thì “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết
các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp các dịch vụ du lịch, gắn với
các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”.
Khi xây dựng, thiết kế tuyến du lịch, chương trình du lịch mới sẽ tuân
theo 6 nguyên tắc cơ bản sau:
Phân tích qui mô môi trường (Môi trường
kinh tế, văn hóa – xã hội, chính trị, công nghệ,
sinh thái)
Phân tích thị trường
Phân tích tình hình cạnh tranh
Phân tích nguồn lực (Nhận dạng những cơ
– Tính không đồng nhất : Khách hàng khó có thể kiểm tra chất lượng sản
phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm.
Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau. Khách
mua sản phẩm du lịch ít trung thành với công ty bán sản phẩm. Việc tiêu
dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ.
Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du lịch, yếu tố thiên nhiên và
quan niệm của các tác giả, có thể kết hợp các yếu tố căn bản để đưa ra các
mô hình sản phẩm du lịch chủ yếu : 4S và 3H của Mỹ và mô hình 6S của
Pháp.
6) Khái niệm về chợ nổi
Nét văn hóa sông nước
12
Chợ nổi là một loại hình chợ thường xuất hiện tại vùng sông nước được
coi là tuyến giao thông chính. Nơi cả người bán và người mua đều dùng
ghe/thuyền làm phương tiện vận tải và di chuyển. Địa điểm có chợ nổi
thường tại các khúc sông không rộng quá mà cũng không hẹp quá. Khúc
sông phải tương đối rộng, không cạn quá mà cũng không sâu quá. Nếu sông
sâu quá, lớn quá thì không thể neo đậu ghe, xuồng một cách dễ dàng và rất
nguy hiểm.
5 chợ nổi độc đáo miền Tây
Chợ nổi không chỉ thu hút du khách bởi đặc trưng văn hóa sông nước
miền Tây, mà còn bởi phong phú sản vật nhiệt đới được bày bán giữa bao la
ghe,
thuyền
tấp
nập
bông từ dừa, đặc sản nổi tiếng Cái Bè. Bạn cũng nên căn giờ ra chợ từ sớm
để tham quan bằng thuyền vì chợ chỉ họp từ 2h tới 8h sáng đã tan.
Chợ nổi Phụng Hiệp, Hậu Giang
Chợ nổi Phụng Hiệp cách thành phố Vị Thanh, Hậu Giang 75km và trung
tâm thành phố Cần Thơ khoảng 30km về phía Nam. Chợ nằm trên ngã bảy
Phụng Hiệp – nơi 7 tuyến sông gặp nhau nên còn gọi là chợ Ngã Bảy.Cũng
giống như chợ Cái Bè và Cái Răng, chợ Phụng Hiệp tập trung hàng trăm ghe
thuyền chuyên chở hàng hóa, sản vật cho không chỉ địa phương mà còn ra
tận phía Bắc và khách du lịch năm châu. Ngoài thưởng thức đặc sản miền
Tây, du khách còn có thể mang về làm quà những hàng thủ công mỹ nghệ
nổi tiếng Hậu Giang. Điểm đặc biệt khác ở Phụng Hiệp đó là chợ rắn với đủ
các loại rắn và rượu rắn hảo hạng. Ngoài ra còn có rùa, ba ba, tắc kè, kì đà...
Nếu bạn muốn khám phá sông nước miền Tây thì chợ nổi Ngã Bảy này chắc
14
chắn sẽ làm hài lòng bạn cả về cảnh đẹp lẫn văn hóa đặc trưng của khu vực
đồng bằng sông Cửu Long.
Chợ nổi Long Xuyên
Cách trung tâm thành phố chừng 2km, chợ nổi Long Xuyên tuy không nổi
tiếng như các chợ khác nhưng đến đây du khách vẫn có thể cảm nhận được
phong thái hào sảng của người dân miệt vườn miền Tây Nam Bộ.
Ở chợ nổi Long Xuyên nhiều nhất là các loại hoa màu như rau, dưa cà, cải,
bí, khoai...và cũng không thiếu những hoa trái nức tiếng đủ loại như chuối,
bưởi, cam, quít...Thêm vào đó, bạn có thể đi chợ cả ngày mà không phải
tranh thủ từ sớm như nhiều chợ nổi khác. Cùng với những ghe thuyền buôn
bán, du khách còn được tận mắt chứng kiến cảnh sinh hoạt thường ngày của
thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu lao động,
tình bạn… Điều đó quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá
nhân trong toàn xã hội.:
b, Chức năng kinh tế.
Chức năng này của du lịch thể hiện ở sự liên quan mật thiết với vai trò của
con người như là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Hoạt động sản xuất
là cơ sở tồn tại của xã hội. Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được
tổ chức hợp lý sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp. Một mặt nó góp phần vào
việc phục hồi sức khoẻ cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái
sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt.Ngoài ra
chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở khía cạnh khác. Đó là dịch vụ
du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ cấu
lao động của nhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận
tải, ngoại thương… và là cơ sở quan trọng, tạo đà cho nền kinh tế phát triển.
c, Chức năng sinh thái.
Tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái. Nghỉ ngơi du lịch là nhân
tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hoá môi trường
thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khoẻ và hoạt động của con người.Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch,
tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu
hoá quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Lúc này đòi hỏi con
người phải tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử
dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lí.Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh
vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển
tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi
tác động phá hoại của các dòng khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật
16
Việt Nam.
Năm 1862, ngày 13 tháng 4, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ
(Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp.
Năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa
của Pháp. Từ đó, Nam Kỳ được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền
thực dân, đứng đầu là một thống đốc người Pháp.
Hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1883) nhập thêm tỉnh Bình
Thuận vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) coi như trừ số tiền bồi thường chiến
18
phí còn lại mà triều đình Huế chưa trả hết, nhưng năm sau, Hiệp ước Giáp
Thân (6 tháng 6 năm 1884) lại trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ.
Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang
Đông Dương. Năm 1933, quần đảo Trường Sa sát nhập vào Nam Kỳ thuộc
Pháp.
Tháng 3 năm 1945 Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam
Bộ.
Năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim tuyên
bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam độc lập. Sau
khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đã
ra mắt ngày 25 tháng 8 năm 1945 do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch.
Thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần
đánh rộng ra chiếm lại Nam Bộ. Chính phủ Nam Kỳ quốc được thành lập
theo sự chỉ đạo của Pháp hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam với tên Nam
Kỳ Quốc.
Năm 1946, trước khi sang Pháp tìm kiếm một giải pháp hòa bình, Hồ Chí
Minh đã viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, ông khẳng định: "Đồng bào Nam
Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó
không bao giờ thay đổi!"
Nhưng không còn cách nào khác, dù có hoang vu, dù có hiển trở, họ vẫn
buộc phải sống, phải chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt. Miền tây
Nam Bộ là mảnh đất lưu đày và nổi dậy cuối cùng của Tổ quốc.
Chính vì vậy họ là những con người có tính cách ngang tàn ,chịu đựng,có óc
mạo hiểm,sẵn sàng hi sinh giúp họ sống hòa thuận với nhau, liên kết cộng
đồng, cùng chung sức khẩn hoang, lập ấp.Họ tự hào và yêu quý mảnh đất
nam bộ.
Phần lớn những người vào Nam khẩn hoang là nông dân nghèo đi tìm đất
sống, cho nên bên cạnh việc có sẵn dòng máu truyền thống đoàn kết của dân
tộc, họ càng thương yêu đùm bọc nhau hơn, giúp đỡ nhau tạo dựng cuộc
sống. Họ ý thức rằng: trước điều kiện thiên nhiên như vậy, nếu chia rẽ là
chết.
Tinh thần đoàn kết, sống với nhau vì nghĩa không chỉ giúp cho họ sẻ chia
công việc với nhau, hợp sức đánh đuổi các loài ác thú, mà còn là để cho có
bạn, để giúp đõ nhau trong những lúc hoạn nạn, ốm đau, “Mà muốn kết
20
đoàn, thì phải sống vì nhau, lo cho nhau, dám xả thân để cứu bạn bè, dám
hy sinh vì nghĩa lớn, chứ không phải chỉ biết sống cho riêng mình”.
Người Nam Bộ có tính hào sảng, hiếu khách, trọng tình nghĩa. Nghèo thì
nghèo, lo co bạn chu đáo cái đã, tiền bạc có sá gì, nhân nghĩa mới là điều
trọng. Vì vậy, những ai không có nhân nghĩa thì cũng đừng hòng họ đáp lại
bằng nhân nghĩa:
“Tiền tài như phấn thổ
Nhơn nghĩa tợ thiên kim
Bởi đứt dây nên gỗ mới chìm
Tại ai ở bạc nên mới tìm nơi xa.”
Tây tỉnh Kiên Giang và Campuchia.
Hai hệ thống sông lớn nhất trong vùng là sông Đồng Nai và sông Cửu
Long. Ngược với dòng Sông Đồng Nai có lượng phù sa thấp, dòng sông Cửu
Long có lượng nước đổ về trung bình khoảng 4.000 tỷ mét khối và hàng
năm vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, giữ vai trò rất quan trọng đối
cho đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.734 km².
Cho đến nay, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng đất thấp, độ
cao trung bình so với mặt biển chỉ vào khoảng 5 mét.
Một số khu vực như tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và phía
tây sông Hậu đang tồn tại ở mức thấp hơn mặt biển, chính vì vậy mà hàng
năm có tới 1 triệu ha bị ngâp nước mặn trong thời gian từ 2 đến 4 tháng.
Các nhà nghiên cứu lịch sử về vùng đất này cho rằng, cách đây hàng triệu
năm nơi này vốn là một vịnh lớn nhưng đã được bồi đắp dần bởi phù sa của
sông Cửu Long.
Khu vực đồi núi chủ yếu tập trung ở phía đông nam Bộ như núi Bà Rá
(Bình Phước) cao 736m, núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 839m, núi Bao
Quan (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 529m, núi Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao
461m, núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986m... Khu vực phía tây có dãy Thất
Sơn (An Giang) và dãy Hàm Ninh (Kiên Giang).
22
Một con rạch lớn ở ĐBSCL
d, Văn hóa Nam Bộ
Có thể nhìn nhận khởi điểm lịch sử văn hóa Nam Bộ được tính mốc là
năm1623 khi vua Chân Lạp cho chúa Nguyễn di dân Việt đến định cư ở
Prey Kôr (thành phố Hồ Chí Minh hiện nay).
Vùng đất Nam Bộ bấy giờ chỉ là một vùng hoang dại với hệ thống đất đai
trũng, úng, sình lầy và sông rạch chằng chịt. Bắt đầu từ các cửa biển Cần
Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở vào.
24
Bánh xèo Nam bộ
Nam Bộ vừa có bề dày tiến trình lịch sử văn hóa lại vừa là vùng đất giàu sức
trẻ do các tộc người ở đây đang dày công gây dựng nên.
Từ vị thế địa lý, văn hóa của Nam Bộ, đang giúp trở thành trung tâm của
quá trình tiếp biến văn hóa, phần nào tạo cho vùng có những nét đặc thù,
diện mạo mới đối với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam. Hệ giá trị văn hóa
Nam Bộ là truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị cốt lõi hình thành
phong cách văn hóa riêng vùng. Tính mở của một vùng đất mới làm nên tính
năng động, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm của người dân Nam Bộ. Tính mở
là cơ sở cho việc tiếp nhận và tiếp biến thành công nhiều giá trị văn hóa cao
và hiện nay có thêm nền văn minh hiện đại.
2) Đặc điểm sinh hoạt chợ nổi ĐBSCL
a, Sự hình thành và phát triển của chợ nổi
Giai đoạn khai phá miền Nam của nhà Nguyễn cũng gần thời điểm khi
nhà Thanh bên Trung Quốc lập triều đại mới. Rất nhiều dân Trung Quốc vẫn
còn trung thành với Minh triều đã ly khai và chạy trốn đến các vùng đất
khác như Đài Loan và các vùng đất Đông Nam Á, trong đó có đất Gia Định
thuộc Việt Nam.Các thương thuyền của người Hoa ra vào buôn bán ở Gia
Định vào thời đó không phải là hiếm. Họ đưa thuyền theo biển, đi ngược
sông và buôn bán hoặc mãi võ khắp các sông rạch vùng Mê-kông.Vì lý do
chính trị nên thành phần người Hoa (có nguồn gốc Thiên Địa Hội) này
không bao giờ ở một chỗ mà ở trên ghe. Tôi nghĩ đó là lý do vì sao người
dân Gia Định có thói quen "ở trên ghe thuyền" (chứ không phải di chuyển
bằng ghe thuyền), vì một bộ phận trong số họ là dân du mục có nguồn gốc
Trung Hoa.Tỉ lệ người dân Gia Định có nguồn gốc Trung Hoa nhiều hơn tỉ
lệ người Thăng Long lai Hoa, tôi nghĩ cũng vì lí do này. Dĩ nhiên đây không
phải là lí do duy nhất nhưng nó cũng góp phần trong lịch sử hình thành nên