A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp giáo dục có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con
người, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Vì lẽ đó, có thể coi giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển. Có thể khẳng
định rằng, không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con
người, đối với kinh tế, văn hóa và xã hội. Hiện nay, công cuộc đổi mới kinh tế xã hội đang diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước, đòi hỏi những lớp
người lao động mới có bản lĩnh có năng lực hoạt động sáng tạo, dám nghĩ, dám
làm thích ứng được với thực tiễn cuộc sống xã hội luôn luôn phát triển. Nhu cầu
này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải được điều chỉnh một cách
thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và phương pháp dạy học nhằm
“phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi
dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn
lên”. Để thực hiện nhiệm vụ này cần tổ chức hợp lý quá trình học tập của học
sinh, kích thích nhu cầu, động cơ và hứng thú học tập của học sinh; giúp học
sinh có khát vọng, niềm tin để nắm vững và hoàn thiện tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Muốn tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục trước hết là nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo. Bởi vì, đội ngũ nhà giáo là nhân tố hàng đầu quyết định
chất lượng giáo dục.
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất
lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở Tiểu học. Mỗi môn
học ở tiểu học đều góp phần vào sự hình thành, phát triển nhân cách con người
lao động mới. Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn
Toán chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Nó góp phần vào việc hình thành và
phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người. Các kiến thức, kỹ
năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần
thiết để học các môn học khác ở Tiểu học. Môn Toán còn góp phần rất quan
1
1
2
2
hình thành khái niệm, dạy các quy tắc, ghi nhớ công thức để thực hành tính toán
các bài toán một cách máy móc mà chưa hướng dẫn học sinh các phương pháp
giải, những kĩ năng làm toán cụ thể. Nếu có thì cũng chỉ xem nhẹ hoặc lướt qua.
Chính vì thế nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Và trong
dạy học ở tiểu học cũng đã có nhiều bài báo nói về vấn đề này. Trong đó các tác giả
đã nêu lên một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng tích cực.
Về dạy học số thập phân ở tiểu học cũng đã có nhiều tác giả quan tâm đến
nội dung này. Tuy nhiên các tác giả chỉ mới dừng lại ở chỗ nêu ra nội dung về
dạy học số thập phân hoặc đề cập đến một số vấn đề về phương pháp dạy học
chung chung. Chẳng hạn như bài báo: “Tim hiểu nội dung dạy học số thập phân
ở lớp 5 trên cơ cở của toán học cao cấp” của thạc sỹ Nguyễn Thị Châu Giang
(TCGD-7/2006). Tác giả bài này đã làm rõ một số vấn đề chính của nội dung số
thập phân trên cơ sở toán học cao cấp và theo tư tưởng trình bày của sách giáo
khoa lớp 5 chương trình mới. Trong quyển “Toán và phương pháp dạy học ở
tiểu học” (dự án phát triển giáo viên tiểu học) của Trần Diên Hiển (chủ biên)
cũng đã nêu lên nội dung dạy học số thập phân đồng thời nêu lên một số phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Như vậy đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về nội dung dạy học toán về số
thập phân. Tuy nhiên chưa có tác giả nào đề ra được phương pháp giải toán về
số thập phân cụ thể cho nội dung số thập phân. Có nghĩa là phương pháp dạy
học nội dung về số thập phân chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Đây
là một khoảng trống cần được khắc phục. Do vậy tôi xin đi sâu vào vấn đề này
nhằm tìm ra cách dạy về kĩ năng cũng như hướng dẫn học sinh các phương pháp
giải các bài toán có nội dung về số thập phân . Để từ đó góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả của dạy học nội dung số thập phân ở tiểu học.
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận.
Nghiên cứu tìm hiểu nguồn thông tin từ tài liệu, giáo trình có liên quan đến
đề tài.
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Dùng phiếu điều tra kết hợp với phỏng vấn giáo viên và học sinh về
phương pháp giải một số dạng toán về số thập phân ở Toán 5.
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng những đề xuất đề ra tác động đến học sinh lớp 5 tại trường tiểu học
trong quá trình thực nghiệm. Thu được kết quả xử lí bằng phương pháp toán học.
4
4
8. Cấu trúc của khóa luận
Mở đầu.
Nội dung.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Phương pháp giải một số dạng toán về số thập phân.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Kết luận.
Tài liệu tham khảo
5
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
Thứ hai: Trên bình diện nội dung dạy học, những bài tập toán học là giá
mang hoạt động liên hệ với những nội dung nhất định để người học kiến tạo
những tri thức nhất định trên cơ sở đó thực hiện những mục tiêu dạy học khác.
Những bài tập toán còn là một phương tiện cài đặt nội dung để hoàn chỉnh hay
bổ sung cho những tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lí thuyết.
Thứ ba: Trên bình diện phương pháp dạy học, bài tập toán học là giá mang
hoạt động để người học kiến tạo những tri thức nhất định và trên cơ sở đó thực
hiện các mục tiêu dạy học khác. Khai thác tốt những bài tập như vậy sẽ góp
phần tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác,
tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện độc lập, linh hoạt trong giao lưu.
Trong thực tiễn dạy học, bài tập được sử dụng với những dụng ý khác nhau
về phương pháp dạy học. Đảm bảo trình độ xuất phát, gợi động cơ, làm việc với
nội dung mới, củng cố hoặc kiểm tra. Đặc biệt là về mặt kiểm tra, bài tập là
phương tiện đánh giá mức độ, kết quả dạy và học, khả năng làm việc độc lập và
trình độ phát triển của học sinh. Một bài tập cũng có thể nhằm vào một hay
nhiều dụng ý trên, nhưng cũng có thể bao hàm những ý đồ nhiều mặt.
1.1.2. Vai trò của nội dung số thập phân trong dạy học và thực tiễn
Nội dung cốt lõi của môn Toán lớp 5 là dạy học và ứng dụng những kiến
thức, kỹ năng về số thập phân và bốn phép tính với số thập phân. Có thể nói, đây
là sự kết tinh các kết quả của quá trình dạy học số học ở bậc tiểu học. Để học tập
có hiệu quả về số thập phân và các phép tính về số thập phân học sinh phải huy
động các kiến thức và kỹ năng về số tự nhiên, phân số, số đo đại lượng và các
phép tính với các loại số này đã được học từ lớp 1 đến lớp 4. Ngược lại, khi học
và thực hành với số thập phân, học sinh vừa hiểu hơn về các số đã học vừa hệ
thống hóa và củng cố các kiến thức, kỹ năng về các số và phép tính đã học. Như
vậy, phạm vi và cấu trúc nội dung của chương trình môn Toán ở tiểu học đã tạo
điều kiện cho học sinh phát triển các kiến thức và kỹ năng cơ bản của số học
ngày càng sâu và rộng, đến lớp 5 có thể đạt đến đỉnh cao của sự phát triển đó.
thập phân. Biết đọc, viết, so sánh các STP. Biết sắp xếp một nhóm các số thập
phân theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại.
- Nhận biết được hỗn số và biết hỗn số có phần nguyên, phần phân số. Biết
đọc, viết hỗn số, biết chuyển một hỗn số thành phân số.
8
8
* Phép cộng và phép trừ các STP
- Biết cộng, trừ các STP có đến ba chữ số ở phần thập phân, có nhớ không
quá hai lượt.
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép cộng hoặc phép trừ.
- Biết tính giá trị của các biểu thức có không quá ba dấu phép tính cộng, trừ
có hoặc không có dấu ngoặc.
- Biết sử dụng tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép cộng các
số thập phân trong thực hành tính.
* Phép nhân các STP
- Biết nhân nhẩm một STP với 10, 100, 1000,… hoặc cho 0,1; 0,01; 0,001;
…
- Biết tính giá trị của các biểu thức STP có đến ba dấu tính.
- Biết thực hiện phép nhân có tích là số tự nhiên, STP có không quá ba chữ
số ở phần thập phân trong một số trường hợp:
+ Nhân một STP với một số tự nhiên có không quá hai chữ số, mỗi lượt
nhân có nhớ không qua hai lần.
+ Nhân một STP với một STP, mỗi lượt nhân có nhớ không qua hai lần.
- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép nhân hoặc phép chia với STP.
1.2.1.2. Khái niệm số thập phân
Số thập phân được đưa vào chương trình Toán lớp 5 sau phần ôn tập về
niệm về phân số, phân số thập phân.
Chú ý: Khi hình thành khái niệm STP cho HS lớp 5 cần làm rõ:
- STP là loại số mới, một dạng biểu diễn khác của phân số thập phân. Nó
mở rộng tác dụng so với số tự nhiên ở chỗ có thể biểu diễn chính xác hơn các số
đo đại lượng.
- Cách ghi số thập phân cũng dựa trên nguyên tắc ghi số theo vị trí với hệ
cơ số 10 giá trị của mỗi chữ số phụ thuộc vào vị trí hàng mà nó đứng trong cách
ghi. Cụ thể là: mọi số tự nhiên đều có thể coi là số thập phân có phần thập phân
là 0, mọi số thập phân đều có thể biểu diễn dưới dạng phân số thập phân và
ngược lại.
10
10
1.2.1.3. So sánh số thập phân
So sánh STP dựa trên thuật toán so sánh số tự nhiên có nhiều chữ số và so
sánh phân số có cùng mẫu số.
- Quy tắc so sánh số thập phân theo cấu tạo hàng:
+ Nếu phần nguyên của hai số đó bằng nhau thì so sánh phần thập phân, lần
lượt từng hàng phần mười, phần trăm, phần nghìn.., đến tận cùng hàng nào đó,
số thập phân nào có chữ số ở hàng tương ứng lớn hơn thì số đó lớn hơn.
+ So sánh các phần nguyên của hai số đó như so sánh hai số tự nhiên, số
thập phân nào có phần nguyên lớn hơn thì số đó lớn hơn.
+ Nếu phần nguyên và phần thập phân của hai số đó bằng nhau thì hai số
đó bằng nhau.
- Tính chất bằng nhau của số thập phân:
+ Nếu một số thập phân có chữ số 0 ở tận cùng bên phải phần thập phân thì
khi bỏ chữ số 0 đó đi ta được một số thập phân bằng nó.
Mọi tính chất của phép toán trên số tự nhiên đều được áp dụng trên STP.
- Tính chất kết hợp của phép cộng, phép nhân.
- Tính chất giao hoán của phép cộng, phép nhân.
- Một tổng nhân với một số, một số nhân với một tổng.
Mối quan hệ giữa các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trên STP.
- Khi học về phép trừ STP có thể thử lại bằng phép cộng số thập phân, khi
học về phép chia STP có thể thử lại bằng phép nhân STP.
- Tạo thành nhóm các bài tập cộng, trừ, nhân, chia.
1.2.1.6. Ứng dụng số thập phân
- Viết và chuyển số đo đại lượng dưới dạng số thập phân bao gồm:
+ Viết các số đo khối lượng dưới dạng só thập phân.
+ Viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân.
+ Viết các số đo diện tích dưới dạng số thập phân.
- Giải toán về tỉ số phần trăm.
1.2.2. Một số phương pháp thường dùng khi giải Toán về số thập phân
* Phương pháp chung tìm lời giải bài toán
Để giải một bài toán ta thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích đề bài
Phát biểu đề bài dưới những dạng hình thức khác nhau để hiểu rõ nội dung
bài toán.
12
12
Xác định cái đã cho, cái phải tìm.
Có thể dùng công thức, kí hiệu, hình vẽ để hỗ trợ cho việc diễn tả đề bài.
Bước 2: Tìm phương pháp giải
Tìm tòi, phát hiện cách giải nhờ những suy nghĩ có tính chất suy đoán.
Biến đổi cái đã cho, biến đổi cái phải tìm hay phải chứng minh, liên hệ cái đã
+ Thông qua việc giải những bài toán cụ thể, cần nhấn mạnh để học sinh
nắm được phương pháp chung gồm 4 bước và có ý thức vận dụng 4 bước này
trong quá trình giải toán
Như vậy, quá trình học sinh tìm tòi phương pháp chung giải toán là một
quá trình biến những tri thức phương pháp tổng quát thành kinh nghiệm giải
toán của bản thân mình thông qua việc giải hàng loạt các bài toán cụ thể. Từ
phương pháp chung giải bài toán đi tới cách giải cụ thể một bài toán còn là cả
một chặng đường đòi hỏi lao động tích cực của người học sinh, trong đó có
nhiều yếu tố sáng tạo: “Tìm được cách giải bài toán là một phát minh”.
* Các yêu cầu đối với lời giải bài toán
Để phát huy tác dụng của bài tập toán học, trước hết cần nắm vững các yêu
cầu của lời giải bài toán. Nói một cách vắn tắt, lời giải phải đúng, ngắn gọn, dễ
hiểu cụ thể là:
i) Kết quả đúng, kể cả các bước trung gian
Kết quả cuối cùng phải là một đáp số đúng, một biểu thức, một hình vẽ,…
thỏa mãn các yêu cầu đề ra. Kết quả các bước trung gian cũng phải đúng. Như
vậy, lời giải không thể chứa những sai lầm tính toán, hình vẽ.
2i) Lời giải đầy đủ
Lời giải phải không được bỏ sót một trường hợp, một chi tiết cần thiết nào.
3i) Lập luận chặt chẽ
Phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Luận đề phải nhất quán
- Luận cứ phải đúng
- Luận chứng phải hợp lôgic
4i) Trình bày rõ ràng, đảm bảo tính thẩm mỹ
Yêu cầu đặt ra đối với cả lời văn, chữ viết, cách trình bày phép tính trong
lời giải.
5i) Ngôn ngữ chính xác
Đây là một yêu cầu về giáo dục tiếng mẹ đẻ đặt ra cho tất cả các bộ môn.
Việc dạy học môn toán cũng phải đảm bảo yêu cầu này.
hai, hoặc ba hàng thì số đó giảm đi 10, 100, 1000 lần.
Tính chất 2: Khi dời dấu phẩy của một số thập phân từ trái qua phải một,
hai, hoặc ba hàng thì số đó tăng lên gấp 10, 100, 1000 lần.
15
15
1.2.2.2. Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng
Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng là một phương pháp giải toán ở tiểu học,
trong đó, mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho và đại lượng phải tìm trong bài
toán được biểu diễn bởi các đoạn thẳng.
Việc lựa chọn độ dài của các đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng và sắp
thứ tự của các đoạn thẳng trong sơ đồ hợp lý sẽ giúp cho học sinh tìm được lời
giải một cách tường minh.
Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng dùng để giải nhiều dạng toán khác nhau, chẳng
hạn: các bài toán đơn, các bài toán hợp và một số bài toán có lời văn điển hình.
1.2.2.3. Phương pháp tính ngược từ cuối
Có một số bài toán cho biết kết quả sau khi thực hiện liên tiếp một số các
phép tính đối với số phải tìm. Khi giải các bài toán dạng này bằng phương pháp
tính ngược từ cuối, ta thực hiện liên tiếp các phép tính ngược với các phép tính
đã cho trong bài toán. Kết quả tìm được trong bước trước chính là thành phần đã
biết của phép tính liền sau đó. Sau khi thực hiện hết dãy các phép tính ngược với
các phép tính đã cho trong đề bài, ta nhận được kết quả cần tìm.
Những bài toán giải được bằng phương pháp tính ngược từ cuối thường
cũng giải được bằng phương pháp đại số hay đồ thị.
1.2.2.4. Phương pháp thử chọn
Phương pháp thử chọn dùng để giải các bài toán về tìm một số khi số đó
đồng thời thỏa mãn một số điều kiện cho trước.
ngược cần thực hiện để đi đến số cần tìm.
1.2.2.6. Phương pháp dùng chữ thay số
Trong khi giải nhiều bài toán, số cần tìm được kí hiệu bởi một biểu tượng
nào đó (có thể là ?, * hoặc các chữ a, b, c, x, y,…). Từ cách chọn kí hiệu nói
trên, theo điều kiện của đề bài, người ta đưa về một phép tính hay dãy tính chứa
các biểu tượng này. Dựa vào quy tắc tìm thành phần chưa biết của phép tính, ta
tính được số cần tìm. Cách giải bài toán như trên ta gọi là phương pháp dùng
chữ thay số (hay còn gọi là phương pháp đại số).
Phương pháp dùng chữ thay số được dùng để giải nhiều dạng toán khác
nhau: Tìm số chưa biết trong dãy tính hoặc phép tính; tìm chữ số chưa biết của
một số tự nhiên; điền chữ số thay cho các số trong các phép tính,…. .
Cơ sở khoa học của phương pháp dùng chữ thay số là các quy tắc về tìm
thành phần chưa biết của phép tính.
17
17
1.2.3. Những điều cần lưu ý khi giảng dạy
Để dạy học giải bài tập ta cần chú ý những điểm sau:
Khi dạy học giải bài tập cần xây dựng, chọn lọc hệ thống bài tập bao gồm:
+ Bài tập tương tự với bài tập trong SGK dành cho học sinh trung bình.
+ Bài tập tổng hợp nhằm ôn lại, hệ thống hóa các kiến thức.
+ Bài tập mở có tính chất khái quát mà bài tập trong SGK là một trường
hợp riêng dành cho học sinh khá giỏi.
+ Thực hiện các bước tìm tòi lời giải.
+ Tiến hành tổ chức, hướng dẫn học sinh giải bài tập.
1.2.4. Điều tra khảo sát thực trạng dạy và học về số thập phân
Để tìm hiểu thực trạng dạy và học phần số thập phân ở trường tiểu học, tôi
đã tiến hành điều tra trên hai đối tượng: học sinh khối 5 và giáo viên tại trường
thành thạo
thạo
1
2
3
4
5
So sánh
Phép cộng
Phép trừ
Phép nhân
Phép chia
43
42
40
40
38
Chưa
biết
5
6
8
6
7
Đ
-10
Vĩnh
Ninh
Tuổi nghề GV (Năm)
62
-20
3
0
10
Trê
n 20
25
H
7
C
Đ
3
túng khi vận dụng.
1.2.5. Đề xuất giải pháp sư phạm
Qua việc tìm hiểu cơ sở lí luận, nội dung kiến thức về số thập phân, căn cứ
vào việc điều tra thực trạng dạy và học về số thập phân, tôi xin đề xuất giải pháp
sư phạm như sau:
Trong quá trình giảng dạy, mỗi giáo viên cần tìm hiểu những khó khăn,
những lỗi sai mà học sinh thường mắc phải, tìm hiểu rõ nguyên nhân để có biện
pháp khắc phục. Trong quá trình giảng dạy cần áp dụng các phương pháp giải
toán vào việc giải các bài tập liên quan tới số thập phân, hướng dẫn học sinh áp
dụng các phương pháp ấy để giải bài toán. Đồng thời, giáo viên cần tích cực
tham gia vào các buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên môn, tự bồi dưỡng để nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ và biết cách áp dụng các phương pháp giải toán
vào giải các bài tập.
Đối với các cấp quản lí cần tổ chức nhiều buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên
môn để giáo viên cùng trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau.
1.2.6. Kết luận chương
Qua việc nghiên cứu, phân tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của khóa
luận đã làm rõ hơn được quan niệm về bài toán, vai trò của bài tập toán trong
quá trình dạy học, tìm hiểu về vai trò của nội dung số thập phân trong dạy học
20
20
và thực tiễn; nghiên cứu nội dung dạy học số thập phân: mục đích - yêu cầu,
khái niệm số thập phân, so sánh số thập phân, bốn phép tính về số thập phân,
một số tính chất của các phép tính trên số thập phân, ứng dụng số thập phân; tìm
hiểu một số phương pháp thường được sử dụng khi giải các bài toán về số thập
phân; nghiên cứu những điều cần lưu ý khi giảng dạy; tìm hiểu thực trạng dạy và
học về số thập phân … Chính vì vậy đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ quan tâm tới
khi bỏ chữ số 0 đó đi, ta được một số thập phân bằng nó.
- Nếu viết thêm chữ số 0 vào bên phải phần thập phân của một số thập phân
thì được một số thập phân bằng nó.
- Trong hai số thập phân có phần nguyên khác nhau, số thập phân nào có
phần nguyên lớn hơn thì số đó lớn hơn.
Trong hai số thập phân có phần nguyên bằng nhau, số thập phân nào có
hàng phần mười lớn hơn thì số đó lớn hơn.
- Muốn so sánh hai số thập phân ta làm như sau:
+ So sánh các phần nguyên của hai số đó như so sánh hai số tự nhiên, số
thập phân nào có phần nguyên lớn hơn thì số đó lớn hơn.
+ Nếu phần nguyên của hai số đó bằng nhau thì so sánh phần thập phân, lần
lượt từ hàng phần mười, phần trăm, phần nghìn, …; đến cùng một hàng nào đó,
số thập phân nào có chữ số ở hàng tương ứng lớn hơn thì số đó lớn hơn.
+ Nếu phần nguyên và phần thập phân của hai số đó bằng nhau thì hai số
đó bằng nhau.
* Phương pháp giải
Dạng bài toán về so sánh, sắp xếp các số thập phân bao gồm các loại bài
tập như: so sánh hai số thập phân, điền dấu thích hợp vào ô trống, điền dấu thích
hợp vào chỗ ba chấm, tìm x, … . Học sinh cần nắm rõ các tính chất, quy tắc về
số thập phân và sử dụng các phương pháp như phương pháp dùng chữ thay số,
phương pháp thử chọn… để giải các bài toán dạng này. Sau đây là một số ví dụ:
Ví dụ 1:
22
22
Tìm chữ số x, biết: 9,7x 8 < 9,728 (với mọi x > 0)
- Đây chính là loại bài tập tìm số chưa biết của một số thập phân. Áp dụng
phương pháp thử chọn để giải bài toán.
+ Đối với câu a, yêu cầu học sinh so sánh hai số thập phân có phần nguyên
khác nhau. Học sinh chỉ cần so sánh phần nguyên của hai số thập phân, số thập
phân nào có phần nguyên lớn hơn thì số đó lớn hơn.
Số thập
Số thập
So
phân
thứ
phân thứ hai sánh
nhất
Phần
96
96
96
nguyên
96
Phần thập
40
40
38
phân
38
Kết luận
=
> 38
96,40>96,
Vậy 96,4 > 96,38.
về đơn vị bé) rồi so sánh hai số thập phân vừa đổi.
Ta có:
3,18m = 31,8dm > 31,08dm hoặc 3,18m > 3,108m = 31,08dm;
12,8m = 1,28dm > 1,028dm hoặc 12,8m > 10,28m = 1,028dm;
2006,05m = 2,00605km < 2,605km hoặc 2006,05m < 2605m = 2,605km;
1,8km = 1800m > 1008,99m hoặc 1,8km > 1,00899km = 1008,99m.
24
24
* Một số bài luyện tập
Bài 1: Viết các số sau theo thứ tự từ bé đến lớn:
6,375 ; 9,01 ; 8,72 ; 6,735 ; 7,19.
(Bài 2- trang 42- SGK Toán 5)
Bài 2: Viết các số sau theo thứ tự từ lớn đến bé:
0,32 ; 0,197 ; 0,4; 0,321 ; 0,187.
(Bài 3- trang 42- SGK Toán 5)
Bài 3: Điền dấu thích hợp vào chỗ 3 chấm:
84,2 … 84,19 47,5 … 47,500
6,843 … 6,85 90,6 … 89,6.
( Bài 1- trang 43- SGK Toán 5)
Bài 4: Viết các số sau theo thứ tự từ bé đến lớn:
5,7 ; 6,02 ; 4,23 ; 4,32 ; 5,3.
( Bài 2- trang 43- SGK Toán 5)
Bài 5: Tìm số tự nhiên x, biết :
a) 0,9 < x < 1,2
b) 64,97 < x < 65,14.