đánh giá sự đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài bề sát (reptilia) và ếch nhái (amphibia)tại trạm đa dạng sinh học mấ linh tỉnh vĩnh phúc - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

TRẦN ĐẠI THẮNG

ĐÁNH GIÁ SỰ ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ
CỦA CÁC LOÀI BÒ SÁT (REPTILIA) VÀ ẾCH NHÁI
(AMPHIBIA)TẠI TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC
MÊ LINH - TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 01 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN QUẢNG TRƯỜNG

Hà Nội, 2014


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI VIỆN SINH THÁI
VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN QUẢNG TRƯỜNG

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Lâm Hùng Sơn

Phản biện 2: TS.Nguyễn Văn Sáng


với nhóm bò sát và ếch nhái Phòng Động vật học CXS đã ghi nhận 27 loài (13 loài
ếch nhái, 14 loài bò sát) ở khu vực Trạm ĐDSH Mê Linh. Vì vậy, để góp phần
đánh giá giá trị đa dạng sinh học làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển của
Trạm, tôi chọn đề tài “Đánh giá sự đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài bò
sát (Reptilia) và ếch nhái (Amphibia) tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh,
tỉnh Vĩnh Phúc”.


2

Mục tiêu của đề tài


Thống kê và cập nhật danh sách các loài bò sát và ếch nhái ở Trạm ĐDSH

Mê Linh. Phát hiện các ghi nhận mới về các loài bò sát và ếch nhái ở khu vực
nghiên cứu.


Đánh giá đặc điểm phân bố theo sinh cảnh của các loài bò sát và ếch nhái ở

Trạm ĐDSH Mê Linh.


Đánh giá hiện trạng quần thể loài Rồng đất Physignathus cocincinus, một

loài bò sát quý hiếm ở Trạm ĐDSH Mê Linh.


Đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ bò sát và ếch nhái ở Trạm ĐDSH Mê

Danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XVII) là người đầu tiên đã thống kê được 16 vị
thuốc có nguồn gốc từ bò sát và ếch nhái trong 498 vị thuốc nam dùng chữa bệnh
(Tuệ Tĩnh, 1972).
Bourret (1936, 1941, 1942) đã thống kê và mô tả 177 loài và phân loài thằn
lằn, 245 loài và phân loài rắn, 44 loài và phân loài rùa, 171 loài và phân loài ếch
nhái ở Đông Dương, trong đó có nhiều loài của Việt Nam; đây là công trình đầy đủ
nhất lúc bấy giờ.
1.1.2. Thời kỳ thứ hai
Thời kỳ này được mở đầu bằng đợt điều tra do đoàn của Đào Văn Tiến ở tỉnh
Quảng Trị đã thống kê được 1 loài ếch nhái, 7 loài thằn lằn, 4 loài rắn và 2 loài rùa,
trong đó có một loài rùa mới Annamensis grrochovkiae (nay là Mauremys mutica)
(Đào Văn Tiến, 1957, 1960).
Nguyễn Văn Sáng và cs. (1975) đã thống kê ở Miền Bắc Việt Nam có 69 loài
ếch nhái và 159 loài bò sát, bổ sung 16 loài cho khu vực Miền Bắc.
Ở Miền Nam có công trình khảo sát về rắn của Campden-Main, thống kê được
77 loài rắn (Campden-Main, 1970). Năm 1972, Saint Girons công bố 38 loài rắn
thuộc sưu tập rắn của Morice sưu tầm ở Nam Bộ năm 1873 và 1874 hiện lưu giữ ở
Bào tàng Lịch sử tự nhiên Li-on (Pháp).


4

1.1.3. Thời kỳ thứ ba
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã thống kê được 82 loài ếch
nhái và 258 loài bò sát.
Lathrop et al. (1998) đã công bố 4 loài mới Leptobrachium xanthospilum, L.
banae, Leptolalax sungi, L. nahangensis ở Gia Lai, Tam Đảo và Na Hang.
Ziegler et al. (2000) mô tả một giống rắn và loài rắn mới thu thập được ở
Phong Nha tỉnh Quảng Bình: Triceratolepidophis sieversorum.
Orlov et al. (2003) mô tả một loài ếch mới Rana trankieni sưu tầm được ở

Đặc điểm tự nhiên, xã hội khu vực Trạm ĐDSH Mê Linh
1.3.1.Vị trí địa lý
Trạm ĐDSH Mê Linh, Vĩnh Phúc thuộc địa bàn của xã Ngọc Thanh, thị xã
Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Cách trung tâm thị xã Phúc Yên khoảng 35 km về phía
Bắc. Trạm nằm ở phía Đông nam dãy núi Tam Đảo, là nơi có địa hình dốc trung
bình ở độ cao từ 50–550 m so với mực nước biển. Với diện tích trên 170 ha trong
đó chiều dài khoảng 3.000 m, chiều rộng trung bình khoảng 550 m (chỗ rộng nhất
khoảng 800 m, chỗ hẹp nhất khoảng 300 m).
Khu vực Trạm có toạ độ:
21o23’57’’ - 21o23’35’’ vĩ độ Bắc
105o42’40’’ - 105o42’40’’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; phía Đông và phía Nam
giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên; phía Tây giáp vùng
đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.3.2. Địa hình
Đây thuộc vùng bán sơn địa ở phía Bắc thị xã Phúc Yên, là phần kéo dài về
phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp theo hướng từ Bắc
xuống Nam.
Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiều
dông phụ gần như vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 15-30 o, nhiều
nơi dốc đến 30-35o, điểm cao nhất là 520 m (điểm cực đông thuộc đỉnh núi Đá
trắng). Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theo ven suối phía Tây.
1.3.3.Thổ nhưỡng
Đất gồm 2 loại chủ yếu:


6
+ Ở độ cao trên 400 m đất feralitic màu vàng phát triển trên đá sa thạch cuội
hoặc dăm kết.
+ Ở độ cao dưới 400 m đất feralitic màu vàng đỏ phát triển trên sa phiến

7
- Rừng giang: Là dạng thoái hoá của rừng kín cây lá rộng, kiểu này thường là
những khoảnh nhỏ phân bố dọc theo suối ở tiểu khu 11.
- Trảng cây bụi thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp:
Trảng cỏ: Trảng cỏ dạng lúa trung bình: Có ưu hợp lách (Saccharum
spontaneum L.), Chít (Thysanolaena maxima (Roxb.) Kuntze) và Cỏ tranh
(Imperata cylindrica (L.) Beauv).
Khu vực rừng trồng (khoảng 100 ha) với các loại cây sau: Thông đuôi ngựa
(Pinus massoniana Lamb.), Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh. & Vriese), Keo tai
tượng (Acacia auriculiformis A. Cunn. ex Benth.), Keo lá tràm (Acacia confusa
Merr.), Bạch đàn (Eucalyptus globulus Labill.).
1.3.6.Tình hình dân sinh kinh tế
Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn xã Ngọc Thanh với diện tích đất lâm
nghiệp chiếm 51,8% tổng diện tích tự nhiên của toàn xã. Mật độ dân số của xã là
139 người/km2, dân tộc Kinh chiếm 53%, dân tộc thiểu số (Sán Dìu) chiếm 47%.
Thu nhập bình quân đầu người của xã khoảng 3 triệu đồng/người/năm.
Trong khu vực nghiên cứu không có người dân sinh sống, tuy nhiên do tập
quán của người dân quanh vùng nên rừng trong khu vực nghiên cứu vẫn chịu
những tác động tiêu cực như: Thả gia súc sau mùa vụ, lấy củi, lấy măng và khai
thác lâm sản ngoài gỗ.
CHƯƠNG II
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Trạm ĐDSH Mê Linh, xã Ngọc Thanh,
Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chúng tôi tiến hành thu mẫu ở các địa điểm sau:
- Xung quanh khu vực hành chính.
- Dọc theo suối chính từ khu hành chính Trạm đến suối 32 dài khoảng 3 km.
- Dọc theo đường mòn trong rừng.
- Các khe suối cạn.

21023.577’N-105043.686’E
21023.47,5’N-105043.157’E
21024.133’N-105043.303’E

50
55
20 0
100
300

Hai khe suối cạn

21023.114’N-105042.465’E
21023.149’N-105042.540’E

60
150

Địa điểm

Tọa độ

Thời gian thu mẫu

Sinh cảnh

Ngày 9, 16, 23, 30/4/2014
Ngày 4, 11, 18, 25/6/2014

Rừng thứ sinh

- Từ tháng IV đến tháng VIII năm 2014, mỗi tháng khảo sát 8 ngày với tổng
số 40 ngày thực địa.
- Tháng IX/2014: Phân tích đặc điểm hình thái và so sánh mẫu vật.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thu thập mẫu vật
+ Khảo sát thực địa
Chọn địa điểm thu mẫu: Mẫu vật thu ở ven suối, vũng nước nhỏ hoặc các
vùng ẩm ướt ven các đường mòn trong rừng hay ven suối. Tọa độ các điểm nghiên
cứu được xác định bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin etrex 10.
Thời gian thu mẫu: Các loài bò sát, ếch nhái thường thu thập mẫu vào cả ban
ngày và đêm.


11
Phương pháp thu mẫu: Các loài ếch nhái chủ yếu thu thập bằng tay; các loài
rắn thu bằng gậy, kẹp chuyên dụng
Xử lý mẫu vật: Mẫu vật ếch nhái thu được thường đựng trong các túi nilon,
mẫu rắn, thằn lằn, nhông các loại dựng trong túi vải mềm. Sau khi chụp ảnh mẫu
vật, mẫu vật đại diện cho các loài thường được giữ lại làm tiêu bản nghiên cứu.
+ Làm tiêu bản:
Gây mê: Mẫu vật được gây mê trong vòng 24 giờ bằng miếng bông thấm etyl
a-xe-tat.
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, mẫu vật được đeo nhãn có đánh số ký hiệu.
Nhãn và chỉ buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn. Đối
với ếch nhái, thằn lằn, nhông thì buộc nhãn vào chân , đối với rắn thì dùng kim
xuyên qua thân hoặc buộc vào cổ.
Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ phân tích
hoặc quan sát sau này. Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải
màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80-90% trong vòng 8-10 tiếng. Đối
với mẫu ếch nhái, rắn, nhông, thằn lằn cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ


Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới.

4.

UEW

Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên

5.

IOD

Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng hẹp nhất giữa 2 ổ mắt

6.

ED

Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang

7.

TD

Đường kính lớn nhất của màng nhĩ

8.

SL

13.

FLL

Dài chi trước từ mép ngoài của đĩa ngón III đến nách

14.

FTD

Đường kính đĩa bám ngón tay III

15.

HLL

Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn
Bảng 2.3.2: Các chỉ tiêu hình thái các loài nhông

STT Kí hiệu

Giải thích

1.

SVL

Dài mõm huyệt

2.

Khoảng cách từ mút mõm tới màng nhĩ

7.

ED

Đường kính mắt ( chiều thẳng đứng)

8.

TY

Đường kính màng nhĩ

9.

SL

Dài mõm(từ mút mõm tới hốc mắt)

10.

NO

Khoảng cách từ mũi tới góc trước của mắt

11.

DO



Giải thích

1.

SVL

Dài mõm huyệt

2.

TaL

Dài đuôi

3.

HL

Dài đầu

4.

HW

Rộng đầu

5.

SL

1.

SVL

Dài mõm huyệt

2.

TaL

Dài đuôi

3.

SL

Vẩy môi trên

4.

IL

Vẩy môi dưới

5.

DSR

Vẩy thân


khác có liên quan. Tên khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen Van Sang et
al. (2009) và một số tài liệu mới công bố gần đây.
Thống kê: Sử dụng phần mềm PAST Statistics (Hammer et al., 2001) để phân
tích thống kê và so sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái của
khu vực nghiên cứu với các khu vực so sánh.


15
Số liệu về phân bố được mã hóa theo dạng đối xứng (1: có mặt, 0: không có
mặt). Chỉ số tương đồng (Dice index) dựa trên công thức của Sorensen được tính
như sau:
djk = 2M/ (2M+N)
Trong đó M là số loài ghi nhận ở cả 2 vùng, N là tổng số loài chỉ ghi nhận ở
một vùng.
2.3.3. Đánh giá kích cỡ quần thể loài Rồng đất
Để ước lượng kích cỡ quần thể loài Rồng đất, chúng tôi sử dụng phương pháp
bắt - đánh dấu - thả - bắt lại. Đây là phương pháp truyền thống và dễ áp dụng trong
điều kiện Việt Nam. Đánh dấu các cá thể Rồng đất bằng bút xóa. Với số lần khảo
sát nhắc lại là 4 lần thì kích cỡ quần thể được ước tính theo công thức Schnabel:

Trong đó : Mi = tổng số cá thể đã đánh dấu ở lần khảo sát thứ i
Ci = số cá thể bắt gặp lần khảo sát thứ i
Ri = số cá thể bắt gặp lại ở lần khảo sát thứ i

Với mức độ sai số là:
Trong đó: k = số cá thể bắt gặp lại, Pi = số cá thể bắt gặp ở lần khảo sát i.


16
CHƯƠNG III

suối vừa và nhỏ, có nhiều vũng nước thích hợp cho môi trường sống của các loài
ếch nhái và bò sát. Hơn nữa, đây là sinh cảnh chiếm phần lớn diện tích của Trạm
ĐDSH Mê Linh.
Ở sinh cảnh rừng trồng (keo, thông) ghi nhận 18 loài vì các khoảnh rừng trồng
thường ở trên cao và khô, thảm thực vật thực bì thuần loại.
Ở sinh cảnh khu vực canh tác nông nghiệp ghi nhận 14 loài, chủ yếu là các
loài phổ biến vì sinh cảnh bị nhiều tác động của con người
3.3. Các loài ếch nhái và bò sát bị đe dọa
Các loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam: Trong số các loài ghi nhận ở
Trạm Mê Linh, có 3 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) chiếm 7,5% số
loài ghi nhận được, bao gồm: một loài ở bậc EN (nguy cấp) là Rắn cạp nong
(Bungarus fasciatus) và hai loài ở bậc VU (sẽ nguy cấp) là Ếch giun ban-na
(Ichthyophis bannanicus) và Rồng đất (Physignathus cocincinus).


18
Có 1 loài ghi trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ là Rắn cạp
nong (Bungarus fasciatus) thuộc nhóm IIB.
3.4. So sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái của
Trạm ĐDSH Mê Linh với một số VQG, KBT lân cận
Dựa vào kết quả nghiên cứu của Bain & Nguyen (2004), Hecht et al. (2013),
Nguyễn văn Sáng và cs. (2010), Nguyễn Quảng Trường (2006) chúng tôi so sánh
khu hệ bò sát và ếch nhái của Trạm ĐDSH Mê Linh với một số vườn quốc gia, khu
bảo tồn có dạng sinh cảnh tương tự ở phía bắc Việt Nam gồm VQG Tam Đảo
(Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang), KBTTN Tây Côn Lĩnh (Hà Giang),
KBTTN Tây Yên Tử (Bắc Giang) và KBTTN Xuân Nha (Sơn La).
Trạm ĐDSH Mê Linh có sự đa dạng về thành phần loài thấp hơn hẳn so với
VQG Tam Đảo (ghi nhận 40 loài). Điều này có thể giải thích do Trạm ĐDSH Mê
Linh có diện tích nhỏ hơn rất nhiều so với các KBT khác (170,3 ha). Hơn nữa, chất
lượng sinh cảnh chủ yếu là dạng sinh cảnh đã bị tác động mạnh gồm rừng thứ sinh

trống còn lại trong các lô ở khu vực.
Tăng cường các hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng, tuyệt đối không cho người
dân quanh khu vực Trạm vào săn bắt các loài động vật hoang dã nói chung và các
loài bò sát, ếch nhái nói riêng.
Nâng cao nhận thức: Tích cực tuyên truyền cho người dân địa phương không
khai thác săn bắt trong khu vực giáp ranh giữa Trạm ĐDSH Mê Linh và vườn quốc
gia Tam Đảo bằng nhiều biện pháp như hệ thống phát thanh cấp xã hoặc thôn, biển
báo ở trước cổng Trạm và vùng giáp ranh.


20

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Đa dạng về thành phần loài: Đã ghi nhận ở khu vực Trạm ĐDSH Mê Linh
43 loài gồm 18 loài ếch nhái và 25 loài bò sát thông qua bộ mẫu vật
- Đã ghi nhận bổ sung 24 loài cho danh lục các loài bò sát và ếch nhái của
Trạm ĐDSH Mê Linh (10 loài ếch nhái và 14 loài bò sát).
- Có 3 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 1 loài trong Nghị Định
32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ.
- Thành phần loài bò sát và ếch nhái ở Trạm ĐDSH Mê Linh khá tương đồng
với KBTTN Tây Yên Tử.
- Phân bố của các loài theo sinh cảnh ghi nhận sinh cảnh rừng thứ sinh tự
nhiên đang phục hồi có 39 loài, sinh cảnh rừng trồng (keo, thông) có18 loài và sinh
cảnh đất canh tác nông nghiệp có14 loài.
- Qua các đợt giám sát quần thể loài Rồng đất, chúng tôi ước tính ở đây có
khoảng 26-29 cá thể.
- Các nhân tố chính tác động đến khu hệ ếch, bò sát đó là tình trạng quấy
nhiễu của người dân: săn bắt một số loài bò sát và ếch nhái làm thực phẩm.
2. Kiến nghị


5.

Niêm giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2012).

6.

Nguyễn văn Sáng (2007): Động vật chí Việt Nam, (phân bộ rắn)Tập 4, Nxb
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 179 trang.

7.

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996). Danh lục bò sát và ếch nhái Việt Nam.
Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 264 trang.

8.

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005): Danh lục ếch
nhái và bò sát Việt Nam. Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội: 180 trang.

9.

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Vũ Khôi
(2005): Nhận dạng một số loài Bò sát- Ếch nhái ở Việt Nam. Nxb Nông
Nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh: 100 trang.

10. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Lê Nguyên Ngật,
Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (2009): “Nhìn lại quá trình nghiên cứu
ếch nhái, bò sát ở Việt Nam qua từng thời kỳ”, Báo cáo khoa học hội thảo
quốc gia về lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam, Nxb Đại học Huế, tr. 1-9.

genus Kaloula from eastern Indochina. Herpetologica, 69: 329-341.

21. Camden-Main S. M. (1970): A field guide to the snakes of South Vietnam.
U.S. Nat. Mus., Washington, 114 pp.


23
22. David P., Pham T. C., Nguyen Q. T & Ziegler T. ( 2011): A new species of the
genus Opisthotropis Günther, 1872 (Squamata: Natricidae) from the highlands
of Kon Tum Province, Vietnam. Zootaxa, 2758: 4356.
23. David P., Nguyen Q. T., Nguyen T. T, Jiang K., Chen T., Teynié A. & Tho.
(2012):A new species of the genus Oligodon Fitzinger, 1826 (Squamata:
Colubridae) from northern Vietnam, southern China and central Laos. Zootaxa
3498: 45-62.
24. Dotsenko I. B. (2011): Emydocephalus szczerbaki sp. (Serpentes, Elapidae,
Hydrophiinae) a new species of the turtleheaded sea snake genus from Vietnam
[In Russian]. Zbirnik prats zoologichnogo museyu. Kiev, 41: 128-138.
25. Dubois & Ohler. (2013): A new species of the genus Quasipaa (Anura,
Ranidae, Dicroglossinae) from northern Vietnam. Alytes, Paris, 27: 49-61.
26. Frost, D. R. (2014): Amphibian Species of the World: an Online Reference.
Version 6.0 (accessed in October 2014). Electronic Database accessible at
American Museum
of Natural History, New York, USA.
27. Geissler P., Nazaov R., Nikolai L., Orlov N., Böhme W., Phung M. T., Nguyen
Q. T & Ziegler T. (2009): A new species of the Cyrtodactylus irregularis
complex (Squamata: Gekkonidae) from southern Vietnam. Zootaxa, 2161: 2032.
28.

Grismer J. L. & Grismer L. L .(2010): Who’s your mommy? Identifying
maternal ancestors of asexual species of Leiolepis Cuvier, 1829 and the


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status