BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ LAN
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI ĐỂ ĐÁNH GIÁ
THƢỜNG XUYÊN VÀO DẠY HỌC SỐ TỰ NHIÊN
TRONG MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHÙNG NHƢ THỤY
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, luận văn đƣợc hoàn
thành với sự hƣớng dẫn tận tình, chu đáo của TS. Phùng Nhƣ Thụy.
Xin trân trọng gửi đến thầy giáo lời biết ơn chân thành và sâu sắc
nhất.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện khóa luận một cách hoàn
chỉnh nhất, tuy nhiên luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót cần góp ý, sửa chữa. Tôi rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của
thầy cô và các bạn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Lan
1.3.2. Đặc điểm của trò chơi học tập toán ở Tiểu học ............................. 23
1.3.3.Tác dụng của trò chơi học tập trong môn Toán đối với học sinh Tiểu
học ............................................................................................................. 24
1.4 Những căn cứ xây dựng trò chơi để đánh giá thƣờng xuyên vào dạy
học số tự nhiên ở Tiểu học ........................................................................... 25
1.4.1 Mục tiêu và nội dung dạy học số tự nhiên ở Tiểu học ..................... 25
1.4.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học ..................................... 26
1.4.3. Hoạt động dạy học số tự nhiên trong môn toán ở tiểu học ............ 30
1.4.4. Vai trò, ý nghĩa của trò chơi học tập Toán trong việc đánh giá
thường xuyên học sinh Tiểu học theo tinh thần đổi mới........................... 32
1.5. Thực trạng việc sử dụng các trò chơi trong đánh giá thƣờng xuyên khi
dạy học số tự nhiên ở tiểu học. .................................................................... 34
1.5.1 Thực trạng dạy số tự nhiên trong môn toán ở tiểu học ................... 34
CHƢƠNG 2..................................................................................................... 46
THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI ĐỂ ĐÁNH GIÁ THƢỜNG XUYÊN VÀO
DẠY HỌC SỐ TỰ NHIÊN TRONG MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC................ 46
2.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi trong môn Toán ở Tiểu học...................... 46
2.1.1. Nguyên tắc vừa sức, dễ thực hiện ................................................... 46
2.1.2. Nguyên tắc khai thác và thực hành................................................. 46
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp mục đích trò chơi với nội dung và
mục tiêu của từng bài dạy ......................................................................... 47
2.2 Quy trình tổ chức trò chơi trong môn Toán ở Tiểu học......................... 47
2.3 Một số lƣu ý khi tổ chức trò chơi cho học sinh trong giờ học Toán ..... 49
2.4. Thiết kế một số trò chơi để đánh giá thƣờng xuyên vào dạy học số tự
nhiên trong môn Toán ở Tiểu học................................................................ 51
2.4.1. Trò chơi khởi động bài ................................................................... 51
2.4.2. Trò chơi trong khi dạy .................................................................... 57
2.4.3. Trò chơi kết thúc giờ dạy ................................................................ 65
và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Qua đó học sinh tự nắm đƣợc kiến thức
mới, đồng thời rèn luyện về phƣơng pháp học tập, tìm tòi, nghiên cứu. Giáo
viên hƣớng dẫn cho học sinh phát triển năng lực tự đánh giá và điều chỉnh
cách học, khuyến khích phát triển cách học thông minh sáng tạo, biết giải
quyết các vần đề nảy sinh trong các tình huống thực tiễn bằng nhiều các
phƣơng pháp, biện pháp và hình thức khác nhau.
Trong chƣơng trình Tiểu học hiện nay, đổi mới phƣơng pháp dạy học là
vấn đề đang đƣợc mọi ngƣời trong ngành Giáo dục quan tâm. Đổi mới
phƣơng pháp dạy học là thay đổi “Cách dạy – Cách học” nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập.
Trong quá trình dạy học, phải cố gắng đầu tƣ nhằm thực hiện tốt
phƣơng châm “Lấy học sinh làm trung tâm”. Thiết kế bài học là thiết kế một
chuỗi các hoạt động, trong đó học sinh tích cực tham gia giải quyết các tình
huống có vấn đề bằng mối quan hệ: Giữa thầy với trò và trò với trò qua các
hình thức dạy học.
2
Cấp tiểu học là cấp học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc
hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Trên cơ sở cung
cấp những tri thức ban đầu về xã hội và tự nhiên, phát triển các năng lực tƣ
duy, trang bị các phƣơng pháp và kỹ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn, bồi dƣỡng và phát huy các tình cảm, thói quen và đức
tính tốt đẹp của ngƣời Việt Nam.
Nếu việc giáo dục của nhà trƣờng đem lại cho học sinh một ngoại lực
có giá trị thì việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh sẽ khơi dậy
trong các em một nội lực rất cần thiết. Chủ động, sáng tạo là những thuộc tính
tâm lý rất quý báu của trẻ, khai thác đƣợc các thuộc tính tâm lý đó sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để nội lực cộng hƣởng ngoại lực. Từ đó chất lƣợng dạy học sẽ
luận để đạt kết quả mà lại không nghĩ rằng mình đang học. Sự khô khan trong
giờ học toán đƣợc giảm nhẹ, quá trình học tập sẽ diễn ra một cách tự nhiên
hơn, hứng thú hơn.Trò chơi học toán tích cực hóa hoạt động của học sinh.
Nhu cầu vận động tay, chân, trí tuệ, thể hiện năng lực của mình sẽ giúp học
sinh tích cực trong giờ học tập môn toán vừa học vừa chơi. Việc sử trò chơi
dạy học xuất phát từ một số tâm lí của học sinh nói riêng và ngƣời học nói
chung: Nội dung dạy học tập càng hấp dẫn thì ngƣời học càng có hứng thú
cao và hiệu quả học tập càng cao việc học gắn với thực hành thì sẽ giúp cho
ngƣời học nhớ lâu và biết cách vận dụng kiến thức, kĩ năng vào các tình
huống giải quyết các vấn đề cụ thể; Ngƣời học muốn thể hiện năng lực của
mình trong một môi trƣờng học tập hợp tác (Có nhiều bạn học cùng tham gia
một hoạt động). Từ đó, giáo viên sẽ dễ dàng đánh giá thƣờng xuyên học sinh
theo thông tƣ 30/2014/TT-BGDĐT trong quá trình học toán.
Đã có không ít những công trình nghiên cứu về việc tổ chức các trò
chơi toán học cho học sinh, nhƣng nghiên cứu thiết kế các trò chơi để đánh
giá thƣờng xuyên vào dạy học số tự nhiên trong môn Toán ở Tiểu học thì
4
chƣa có. Cùng với những lý do ở trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử
dụng trò chơi để đánh giá thƣờng xuyên vào dạy học số tự nhiên trong
môn toán ở Tiểu học”.
2. Mục đích nghiên cứu
Sử dụng trò chơi học tập nhƣ một công cụ trợ giúp thực hiện công tác
đánh giá thƣờng xuyên trong dạy học môn toán ở tiểu học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng trò chơi học tập
trong đánh giá thƣờng xuyên vào môn toán trƣờng tiểu học.
3.2 Xây dựng nguyên tắc, quy trình thiết kế trò chơi học tập và sử dụng
- Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm nhằm kiểm định giả thuyết khoa học,
kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của những giải pháp đề xuất trong luận văn.
- Xử lý số liệu để bƣớc đầu đánh giá định tính và định lƣợng về kết quả
thu đƣợc.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng trò chơi học tập
trong đánh giá thƣờng xuyên khi dạy học số tự nhiên trƣờng tiểu học, xây
dựng đƣợc nguyên tắc và quy trình tổ chức trò chơi học tập thì sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả dạy học trong môn toán ở tiểu học.
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga
nhƣ: P.A.Bexonova, OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki ... đã đánh giá cao
vai trò giáo dục, đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ
mẫu giáo. E.A.Pokrovxki trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em
Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thƣờng của trò
chơi dân gian Nga. Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập trong dân gian còn có
một số hệ thống trò chơi dạy học khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây
dựng. Đại diện cho khuynh hƣớng sử dụng trò chơi dạy học làm phƣơng tiện
phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sƣ phạm nổi tiếng ngƣời tiệp khắc
I.A.Komenxki (1592-1670). Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết,
phù hợp với bản chất và khuynh hƣớng của trẻ. Trò chơi dạy học là một dạng
hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em đƣợc phát triển,
mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết. Với quan điểm trò chơi là niềm vui
giúp ngƣời học lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tƣởng đó. Bà đã soạn
thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đƣa ra một số yêu cầu khi xây dựng
chúng.
Theo nhà sƣ phạm nổi tiếng N. K. Crupxkaia thì “trò chơi học tập
không những là phương thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi
tìm chân lý mà còn giúp trẻ xích lại gần nhau, giáo dục cho trẻ tình yêu quê
hương, lòng tự hào dân tộc. Trẻ em không chỉ học trong lúc học mà còn học
trong lúc chơi. Chơi với trẻ vừa là học, vừa là lao động, vừa là hình thức giáo
dục nghiêm túc” [25]. Trong các giáo trình Giáo dục học, Giáo dục học Tiểu
học cũng luôn nhấn mạnh việc tổ chức trò chơi học tập chiếm vị trí quan
8
trọng trong phƣơng pháp dạy học “trò chơi là một hình thức tổ chức dạy học
nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào học tập tích cực, vừa chơi, vừa học,
và học có kết quả” [4].
Bên cạnh đó, tính tích cực cũng đƣợc các nhà khoa học nhƣ
B.P.Exipov, A.M.Machiuskin(Liênxô); OKon(Balan), Skinner, Bruner(Mỹ),
Xavier, Roegiers (Pháp)... nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của ngƣời học
trong mối quan hệ giữa nhận thức và tình cảm, ý chí (A.I.Serbacov,
I.F.Kharlamov, R.A.Nhidamov, V.Okon ...) hƣớng nghiên cứu này đã bổ trợ
rất nhiều cho các nhà giáo dục trong việc tìm kiếm những con đƣờng và điều
kiện cần thiết nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của ngƣời học.
Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức
của ngƣời lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lƣu ý tới vai trò chủ động và chủ
thể trong quá trình nhận thức (B.P.Êxipop, LP.Anstova, Xavier Roegiers,
Jean-Marc Denomme, Madedine Roy...) các tác giả này coi tính tích cực nhận
thức là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tƣợng nhận thức thông qua
nhằm phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo lớn. Một số luận văn,
luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử
dụng trò chơi dạy học nhằm phát huy tính tích cực của ngƣời học. Tuy nhiên,
mỗi một tác giả lại xem xét các trò chơi dạy học ở các bộ môn khác nhau,
chẳng hạn:
Trƣơng Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi
nhằm hình thành biểu tƣợng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi.
Tác giả Ngô Đức Lanh đã cho xuất bản cuốn “Giúp em vui học toán 2”
[17]. Cuốn sách đã đƣa ra những câu đố và rất nhiều trò chơi toán học giúp
các em củng cố nội dung bài học, rèn trí thông minh, khả năng sáng tạo mà
vẫn đảm bảo “Học mà vui, vui mà học”.
10
Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là sử
dụng trò chơi trong dạy học nhằm nâng cao tính tích cực của học sinh, giúp
giờ học trở nên sinh động hấp dẫn. Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu
trên cho thấy từ trƣớc đến nay tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về
trò chơi dạy học song chƣa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc
xây dựng và sử dụng trò chơi học tập nhằm mục đích đánh giá, nhận xét
thƣờng xuyên cho học sinh. Cần nhấn mạnh rằng những thành tựu nghiên cứu
đã điểm dẫn ở trên chứa đựng những nội dung quan trọng, trực tiếp góp phần
làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
1.2 Đánh giá
1.2.1 Khái niệm về đánh giá
- Theo Jean-Marie De Ketele (1989), đánh giá có nghĩa là “thu thập
một tập hợp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy và xem xét mức
độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với
các mục tiêu định ra ban đầu hay đã đƣợc điều chỉnh trong quá trình thu thập
Đánh giá học sinh tiểu học là những hoạt động quan sát, theo dõi,trao
đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tƣ vấn,
hƣớng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lƣợng về kết quả
học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của
học sinh tiểu học.
Mục đích đánh giá
a. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phƣơng pháp, hình thức tổ chức
hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc
mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ
của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chƣa thể tự
vƣợt qua của học sinh để hƣớng dẫn, giúp đỡ; đƣa ra nhận định đúng những
ƣu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời
nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học
sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học.
12
b. Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự
điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để
tiến bộ.
c. Giúp cha mẹ học sinh hoặc ngƣời giám hộ (sau đây gọi chung là cha
mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá
trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực
hợp tác với nhà trƣờng trong các hoạt động giáo dục học sinh.
d. Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động
giáo dục, đổi mới phƣơng pháp dạy học, phƣơng pháp đánh giá nhằm đạt hiệu
quả giáo dục.
Nguyên tắc đánh giá
a. Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến
và các hoạt động giáo dục khác,trong đó bao gồm cả quá trình vận dụng kiến
thức, kĩ năng ở nhà trƣờng, gia đình và cộng đồng.
b. Trong đánh giá thƣờng xuyên, giáo viên ghi những nhận xét đáng chú
ý nhất vào sổ theo dõi chất lƣợng giáo dục, những kết quả học sinh đã đạt đƣợc
hoặc chƣa đạt đƣợc; biện pháp cụ thể giúp học sinh vƣợt qua khó khăn để hoàn
thành nhiệm vụ; các biểu hiện cụ thể về sự hình thành và phát triển năng lực,
phẩm chất của học sinh; những điều cần đặc biệt lƣu ý để giúp cho quá trình
theo dõi, giáo dục đối với cá nhân, nhóm học sinh trong học tập, rèn luyện.
1.2.2.1. Đánh giá thƣờng xuyên hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết
quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học, hoạt động giáo
dục khác theo chƣơng trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học
a. Tham gia đánh giá thƣờng xuyên gồm: giáo viên, học sinh (tự đánh
giá và nhận xét, góp ý bạn qua hoạt động của nhóm, lớp); khuyến khích sự
tham gia đánh giá của cha mẹ học sinh.
b. Giáo viên đánh giá:
14
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học,
của mỗi hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong bài học, giáo viên tiến
hành một số việc nhƣ sau:
- Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực
hiện nhiệm vụ của học sinh, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học;
- Nhận xét bằng lời nói trực tiếp với học sinh hoặc viết nhận xét vào
phiếu, vở của học sinh về những kết quả đã làm đƣợc hoặc chƣa làm đƣợc;
mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức; mức độ thành thạo các thao
tác, kĩ năng cần thiết, phù hợp với yêu cầu của bài học, hoạt động của học
sinh.
- Quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của học sinh; áp dụng
1.2.2.2. Đánh giá thƣờng xuyên sự hình thành và phát triển năng
lực của học sinh
Thứ nhất: Các năng lực của học sinh đƣợc hình thành và phát triển
trong quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động trải nghiệm cuộc sống trong và
ngoài nhà trƣờng. Giáo viên đánh giá mức độ hình thành và phát triển một số
năng lực của học sinh thông qua các biểu hiện hoặc hành vi nhƣ sau:
a) Tự phục vụ, tự quản: thực hiện đƣợc một số việc phục vụ cho sinh
hoạt của bản thân nhƣ vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học
tập nhƣ chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của giáo
viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp; bố trí thời
gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp học; cố gắng tự hoàn
thành công việc;
b) Giao tiếp, hợp tác: mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày rõ ràng, ngắn
gọn; nói đúng nội dung cần trao đổi; ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối
tƣợng; ứng xử thân thiện, chia sẻ với mọi ngƣời; lắng nghe ngƣời khác, biết
tranh thủ sự đồng thuận;
c) Tự học và giải quyết vấn đề: khả năng tự thực hiện nhiệm vụ học cá
nhân trên lớp, làm việc trong nhóm, lớp; khả năng tự học có sự giúp đỡ hoặc
16
không cần giúp đỡ; tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập; chia sẻ kết quả học
tập với bạn, với cả nhóm; tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong
nhóm hoặc với giáo viên; tìm kiếm sự trợ giúp kịp thời của bạn, giáo viên
hoặc ngƣời khác; vận dụng những điều đã học để giải quyết nhiệm vụ trong
học tập, trong cuộc sống; phát hiện những tình huống mới liên quan tới bài
học hoặc trong cuộc sống và tìm cách giải quyết.
Thứ hai: Hàng ngày, hàng tuần, giáo viên quan sát các biểu hiện trong
các hoạt động của học sinh để nhận xét sự hình thành và phát triển năng lực;
nhƣờng nhịn bạn.
d) Yêu gia đình, bạn và những ngƣời khác; yêu trƣờng, lớp, quê hƣơng,
đất nƣớc: quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh em; kính trọng ngƣời lớn,
biết ơn thầy giáo, cô giáo; yêu thƣơng, giúp đỡ bạn; tích cực tham gia hoạt
động tập thể, hoạt động xây dựng trƣờng, lớp; bảo vệ của công, giữ gìn và bảo
vệ môi trƣờng; tự hào về ngƣời thân trong gia đình, thầy giáo, cô giáo, nhà
trƣờng và quê hƣơng; thích tìm hiểu về các địa danh, nhân vật nổitiếng ở địa
phƣơng.
Thứ hai: Hàng ngày, hàng tuần, giáo viên quan sát các biểu hiện trong
các hoạt động của học sinh để nhận xét sự hình thành và phát triển phẩm chất;
từ đó động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc phục khó khăn, phát huy ƣu
điểm và các phẩm chất riêng, điều chỉnh hoạt động, ứng xử kịp thời để tiến
bộ. Hàng tháng, giáo viên thông qua quá trình quan sát, ý kiến trao đổi với
cha mẹ học sinh và những ngƣời khác (nếu có) để nhận xét học sinh, ghi vào
sổ theo dõi chất lƣợng giáo dục.
1.3 Trò chơi học tập
1.3.1 Trò chơi học tập
Khái niệm về trò chơi
18
Trong cuốn từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Trò chơi là hoạt động bày
ra để vui chơi, giải trí.” [24]
Trò: Là hoạt động diễn ra trƣớc mắt ngƣời khác để mua chơi
Chơi: Là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi, nhằm mục đích cho vui mà
thôi.
Trò chơi là một thuật ngữ và mang hai nghĩa khác nhau tƣơng đối xa:
Nghĩa thứ nhất: “Trò chơi là chơi có luật và có tính cạnh tranh thách
thức với ngƣời tham gia phải biết quy tắc, mục đích, kết quả và yêu cầu.”
biệt của mình. Nhiều công trình khoa học trong nƣớc và ngoài nƣớc đều
nghiên cứu và cho thấy hoạt động trò chơi ở trẻ em thƣờng mang một số đặc
điểm chung sau:
- Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ở ngay trong bản
thân hành động chơi. Trong trò chơi, trẻ em không bị phụ thuộc vào nhu cầu
thực tiễn, trẻ chơi xuất phát từ nhu cầu và hứng thú trực tiếp của bản thân. "Trẻ
chơi chỉ cốt cho vui, có vui thì mới chơi và chơi là phải vui" [25]
- Trò chơi là một hoạt động tự nguyện, một hoạt động mang tính tự do..
Trẻ chơi xuất phát từ nguyện vọng và hứng thú cá nhân không có sự ép buộc
nào cả. Nếu thích trẻ sẽ chơi và sẽ thôi không chơi khi đã chán. Tính tự do đó
giúp trẻ có đƣợc sự thoải mái, vui vẻ. Đó chính là điều kiện để trẻ hăng say
tìm tòi, khám phá và làm nảy sinh nhiều sáng kiến.
- Trong trò chơi luôn mang lại cảm xúc chân thực, mạnh mẽ, đa dạng.
Trẻ tham gia vào cuộc chơi với tất cả sự say mê và lòng nhiệt tình vốn có của
nó. Nhờ có sự tạo ra nhiều hoàn cảnh chơi nên cảm xúc của trẻ đƣợc biểu hiện
với nhiều sắc thái. Trò chơi thâm nhập vào thế giới tình cảm của trẻ một cách
dễ dàng, nó tác động mạnh mẽ đến tình cảm của các em làm cho đứa trẻ bị
hấp dẫn bởi trò chơi, dƣờng nhƣ nó lẫn lộn giữa chơi với thực, khiến trẻ