BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LƢU THỊ CHIỀU
SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỂ ĐÁNH GIÁ
THƢỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LƢU THỊ CHIỀU
SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỂ ĐÁNH GIÁ
THƢỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 4
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHÙNG NHƢ THỤY
HÀ NỘI, 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4
6. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 4
7. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 5
8. Cấu trúc của đề tài ......................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................................... 6
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................... 6
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ........................................................... 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ............................................................ 6
1.2. Câu hỏi và câu hỏi dạy học ...................................................................... 10
1.2.1. Câu hỏi .................................................................................................. 10
1.2.2. Cấu trúc câu hỏi .................................................................................... 11
1.2.3. Câu hỏi dạy học ..................................................................................... 11
1.2.4. Phân loại câu hỏi ................................................................................... 12
1.2.5. Bản chất, chức năng câu hỏi trong dạy học .......................................... 16
1.2.6. Ý nghĩa của câu hỏi ............................................................................... 16
1.3. Đánh giá và đánh giá thường xuyên ........................................................ 17
1.3.1. Đánh giá ................................................................................................ 17
1.3.2. Đánh giá thường xuyên ......................................................................... 19
1.4. Thực trạng việc đánh giá thường xuyên trong dạy học toán cho học sinh
lớp 4 ở tiểu học ................................................................................................ 24
1.4.1. Mục tiêu dạy học toán lớp 4 ở tiểu học ................................................. 24
3.3. Địa bàn, đối tượng thực nghiệm sư phạm ................................................ 55
3.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm ............................................................... 56
3.4.1. Phương pháp thực nghiệm .................................................................... 56
3.4.2. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 57
3.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm ................................................................. 57
3.5.1. Về định tính ........................................................................................... 57
3.5.2. Về định lượng........................................................................................ 58
3.6. Kết luận chương 3 .................................................................................... 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 63
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 65
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
Viết đầy đủ
DH
Dạy học
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
Trang
HSTH
Học sinh Tiểu học
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, loài người đang sống trong một thế kỷ mới, thế kỷ XXI với
nền kinh tế thế giới đã và đang có những bước phát triển vượt bậc về khoa
học công nghệ. Trong bối cảnh hội nhập, mở rộng hợp tác giao lưu về mọi
mặt làm cho học sinh nhanh chóng được tiếp cận với khoa học công nghệ,
tiếp cận với những nguồn thông tin đa dạng phong phú từ cuộc sống. Vì thế
làm cho các em linh hoạt - tư duy - sáng tạo hơn, thực tế hơn, đòi hỏi sự hiểu
biết nhiều hơn. Từ thực tiễn này đòi hỏi ngành Giáo dục và Đào tạo phải có
những đổi mới nhất định. Đứng trước yêu cầu đó thì việc cải cách sách giáo
khoa đã được thực hiện từ năm 2002, đồng thời với nó là việc đổi mới các
phương pháp giảng dạy.Việc làm này đã đem lại cho giáo dục Việt Nam một
sự phát triển đáng kể, đặc biệt là cải cách giáo dục trong nhà trường Tiểu học.
Mỗi học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên các em không biết che dấu
những tâm tư, tình cảm của mình, vì thế các em rất vô tư trong sáng. Tư duy
của các em chủ yếu là tư duy trực quan cụ thể, trong các em luôn tiềm tàng
khả năng phát triển, điều quan trọng là nhà trường phải biết cách khơi dậy và
phát triển đầy đủ những tiềm năng của mỗi học sinh. Chính vì thế giáo dục
tiểu học có vị trí rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng
của giáo dục phổ thông, là cấp học đầu tiên cho sự phát triển nhân cách toàn
tập trung chỉ đạo đổi mới các hoạt động này nhằm chỉ ra sự chuyển biến cơ
bản về tổ chức hoạt động dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
trong các trường trung học phổ thông.
Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu
quan trọng trong đổi mới giáo dục phổ thông. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
không những kiểm tra được kiến thức của học sinh mà còn kiểm tra được các
3
kĩ năng, năng lực hành động của học sinh trong môi trường gắn với thực tiễn
cuộc sống xã hội. Hiện nay, giáo dục đang tiến hành đổi mới toàn diện cách
thức kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng tiếp cận năng lực. Đặc biệt đối với
học sinh Tiểu học hiện nay đã thực hiện theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT,
đánh giá bằng nhận xét thay điểm số.
Trong quá trình dạy học ở trường Tiểu học, hầu hết các thầy cô giáo
đều sử dụng câu hỏi trong những giờ lên lớp của mình. Điều đó không phải là
chuyện ngẫu nhiên mà bởi giáo viên ý thức được tầm quan trọng cũng như tác
dụng to lớn của các câu hỏi. Tuy nhiên, một thực tế đặt ra là các câu hỏi đó hầu
như còn rất lan man, không theo một logic chặt chẽ hay nói cách khác là không
có sự định hướng. Điều đó làm giảm tác dụng của các câu hỏi đồng thời làm cho
học sinh không nắm được trình tự nội dung trọng tâm của bài học.
Bộ câu hỏi định hướng bài học gồm câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học
và câu hỏi nội dung sẽ hướng học sinh vào những hoạt động có chủ đích hơn.
Từ đó, học sinh sẽ có hứng thú hơn trong quá trình tìm tòi, suy nghĩ để trả lời
những câu hỏi đó và học sinh sẽ hứng thú hơn trong học tập, yêu thích bộ
môn. Khi yêu thích bộ môn, học sinh sẽ chủ động, tích cực hơn trong học tập
và kết quả học tập sẽ được nâng cao.
Từ các lý do trên tôi xin mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu việc “Sử dụng
câu hỏi để đánh giá thường xuyên trong dạy học toán cho học sinh lớp 4”
- Trò chuyện, phỏng vấn các chuyên gia, các giáo viên có nhiều kinh
nghiệm, các em học sinh.
- Điều tra bằng phiếu kiểm tra.
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư
phạm để đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được cách sử dụng các câu hỏi phù hợp thì sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả dạy học toán lớp 4 cho tiểu học.
5
7. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc thiết kế câu hỏi để đánh giá trong
dạy học môn Toán 4 ở trường Tiểu học
- Đề xuất cách thiết kế câu hỏi để đánh giá thường xuyên vào dạy học
môn Toán lớp 4.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng câu hỏi để đánh
giá thường xuyên trong dạy học Toán cho học sinh lớp 4.
Chương 2. Sử dụng câu hỏi để đánh giá thường xuyên trong dạy học
Toán cho học sinh lớp 4.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Luận văn có sử dụng 25 tài liệu tham khảo và có phụ lục kèm theo.
6
Chƣơng 1
mỗi học sinh được phân loại vào một trong 5 bậc, là Giỏi - Khá - Trung bình Yếu và Kém.[1],[19]
Như vậy, học sinh trong mỗi lớp được sắp xếp theo thứ tự, từ học sinh
có điểm trung bình cộng học lực cao nhất tới học sinh “đội sổ” có điểm trung
bình cộng thấp nhất về học lực.
Đối với Đánh giá hạnh kiểm, cũng trên cơ sở bảng các tiêu chí về hạnh
kiểm, vào cuối kỳ và cuối năm học, giáo viên cũng đối chiếu, so sánh, sắp xếp
hạnh kiểm của mỗi học sinh vào một trong 5 loại Tốt - Khá - Trung bình -Yếu
và Kém.
Cuối năm học, những học sinh xếp loại Hạnh kiểm loại Kém hoặc xếp
loại Học lực và Hạnh kiểm cùng loại Yếu sẽ ở lại lớp.
Từ sau khi Chính phủ cho phép Bộ GD&ĐT thành lập Vụ Giáo dục
Tiểu học từ ngày 15/7/1994, hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh Tiểu học đã
có sự thay đổi, phát triển liên tục và ngày càng phù hợp, tiệm cận, với quan
điểm hiện đại về đánh giá học sinh của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên
thế giới. Có thể tạm thời phân chia sự thay đổi kiểm tra đánh giá học sinh
Tiểu học (trong thời gian khoảng 20 năm) thành 3 giai đoạn phát triển, mà
mỗi giai đoạn chủ yếu dựa trên cơ sở thời gian ban hành các Quyết định,
Thông tư về Đánh giá và xếp loại học sinh Tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, trong đó:
Giai đoạn 1: Thông tư số 15/GD-ĐT, ngày 2/8/1995, về việc Hướng
dẫn đánh giá và xếp loại học sinh Tiểu học;
Giai đoạn 2: Quyết định số 30/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 30/9/2005, về
việc Ban hành Quy định Đánh giá và Xếp loại học sinh Tiểu học và sau đó
Quyết định này phát triển, bổ sung thành Thông tư số 32/2009/TT-BGD&ĐT,
ngày 27/10/2009, về việc Ban hành Quy định Đánh giá học sinh Tiểu học;
8
Giai đoạn 3: Thông tư số 30/2014/TT-BGD&ĐT, ngày 28/8/2014, về
thể và chặt chẽ.
Đánh giá quá trình học tập, năng lực và phẩm chất học sinh. Bắt đầu từ
tháng 8/2014, việc đổi mới đánh giá học sinh là triệt để nhất và cũng phù hợp
nhất với quan điểm đánh giá hiện đại. Đánh giá theo quá trình học tập của học
sinh, đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh.
Đánh giá thường xuyên kịp thời nhằm điều chỉnh cách dạy và cách học.
Coi trọng đánh giá thường xuyên bằng nhận xét và coi nó là hình thức đánh
giá chủ yếu. Đánh giá thường xuyên các môn học và hoạt động giáo dục.
Kết hợp sự đánh giá của học sinh và cha mẹ các em, trong đó đánh giá
của giáo viên là quan trọng nhất. Đánh giá dựa trên từ nhiều nguồn chứng cứ
khác nhau, không đơn thuần chỉ qua bài kiểm tra viết. Không còn khái niệm
cũng như phân chia riêng biệt đánh giá học lực và đánh giá hạnh kiểm của
học sinh. Đánh giá tổng hợp chung về hình thành và phát triển nhân cách toàn
diện của học sinh.
Có 3 nội dung đánh giá: Đánh giá quá trình học tập - Đánh giá biểu
hiện năng lực của học sinh - Đánh giá biểu hiện phẩm chất của học sinh với 2
hình thức kiểm tra để đánh giá: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ
học tập, trong đó hình thức đánh giá thường xuyên bằng nhận xét là chủ yếu
là cơ bản nhất.
Các nội dung đánh giá chỉ phân chia thành 2 mức: Đã đạt hoặc Chưa
đạt. Với cách làm này, đánh giá học sinh chỉ coi là tạm thời, là ghi nhận sự
tiến bộ của học sinh ban đầu, không phân loại và xếp loại học sinh một cách
cố định như các lần đánh giá giai đoạn trước. Đánh giá nhằm phát triển toàn
diện và liên tục kết quả học tập và nhân cách của học sinh và coi đó làm mục
tiêu của đánh giá.
10
Trong giai đoạn này, để đánh giá học sinh có hiệu quả, người giáo viên
nỗi ngày nay người ta còn học hỏi ông. Bí quyết lớn nhất của ông là “đặt câu
hỏi”.
Voltaire cũng đã nói: “Hãy xét người qua câu hỏi của họ chứ không xét
người qua lời đáp”.
Rudyard Kipling, nhà hùng biện nổi tiếng trên thế giới đã phát biểu:
“Tôi có sáu người bạn trung thành. Họ đã dạy cho tôi tất cả những gì mà tôi
đã biết. Tên của họ là “Cái gì?”, “Tại sao?”, “Khi nào?”, “Như thế nào?”, “Ở
đâu?”, “Ai?”.
Theo quan niệm đó thì câu hỏi có tầm quan trọng lớn trong cuộc sống
nói chung và trong dạy học nói riêng. Sử dụng câu hỏi trong dạy học chỉ là
một phần trong quá trình dạy học, tuy nhiên nó có vị trí cực kì quan trọng. Nó
giúp học sinh hiểu bài và hình thành kĩ năng tư duy ở mức độ cao, từ đó sẽ
nâng cao chất lượng dạy học.
1.2.2. Cấu trúc câu hỏi
Trong dạy học có thể xét cấu trúc câu hỏi theo các dạng :
1) Vấn đề đối tượng hỏi + Từ hỏi.
2) Đối tượng hỏi +Từ hỏi +Vấn đề hỏi.
3) Thao tác, hành động + Vấn đề cụ thể về đối tượng.
Ở đây, vấn đề về đối tượng hỏi là những nội dung mà giáo viên muốn
học sinh hiểu rõ.
Câu hỏi trong dạy học thường rõ ràng, cụ thể, đơn nghĩa nhằm hướng
dẫn, gợi ý, dẫn dắt học sinh tiếp cận tri thức.
1.2.3. Câu hỏi dạy học
Theo TS. Lê Phước Lộc “Câu hỏi dạy học được định nghĩa là những
câu hỏi hoặc yêu cầu có tính chất hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức,
giúp giáo viên kiểm tra kiến thức của học sinh hoặc tạo ra những tương tác
12
- Câu hỏi áp dụng: áp dụng định nghĩa, quy tắc, tính chất, bài tập tương
tự, phương pháp tương tự,...
- Câu hỏi phân tích: Tại sao, vì sao, như thế nào?
- Câu hỏi tổng hợp: Nhận thấy gì, biết gì về, yếu tố nào,...
- Câu hỏi đánh giá: Vì sao điều đó là đúng/sai, tốt/xấu, được/chưa được,
nhận xét kết quả,...
1.2.4.2. Phân loại câu hỏi có tính đóng, mở rõ ràng
Câu hỏi
Câu hỏi đóng
Câu hỏi mở
Câu hỏi đóng
Các câu hỏi đóng là những câu hỏi có giới hạn, cho phép trả lời đúng
hoặc sai. Loại câu hỏi này chỉ có một đáp án đúng duy nhất.
Ví dụ: Giá trị của biểu thức: 119 x 3 – 119 x 2 -119 = 0
A. Đúng
B. sai
Câu trả lời đúng: A
Câu hỏi mở
Câu hỏi mở kích thích học sinh đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan
điểm. Không chỉ có một câu trả lời đúng. Đưa ra các câu hỏi mở cho nhóm
học sinh sẽ thu được vô số các ý tưởng và câu trả lời khác nhau.
Câu hỏi mở dùng để cung cấp thông tin, thảo luận thêm hoặc đặt thêm
câu hỏi, thúc ép đối thoại.
Các câu hỏi mở:
- Câu hỏi mang tính sự kiện, sự thực.
- Câu hỏi mở rộng.
- Câu hỏi bào chữa, biện hộ.
- Câu hỏi thu hút chú ý, gợi sự tò mò, hứng thú của học sinh vào bài học.
- Câu hỏi cho mục tiêu khai thác kiến thức, rèn luyện kỹ năng, xây dựng
bài.
- Câu hỏi tạo sự giao tiếp, trao đổi giữa trò và thầy, giữa thầy và trò.
- Câu hỏi cho hoạt động nhóm.
- Câu hỏi yêu cầu tự nghiên cứu trong lớp.
- Câu hỏi nhằm giáo dục ý thức, thái độ học sinh tùy theo từng loại kiến
thức và yêu cầu về kỹ năng của bài học.
1.2.4.4. Phân loại câu hỏi theo mức độ phát triển của tư duy
Cách phân loại này chia làm 3 mức độ:
- Câu hỏi mức độ bình thường học sinh có thể trả lời nhằm ghi nhớ kiến
thức.
15
- Câu hỏi tạo tình huống, chứa đựng một trở ngại về nhận thức yêu cầu
học sinh phải tư duy mới trả lời được.
- Câu hỏi mở.
1.2.4.5. Phân loại câu hỏi theo đặc trưng của kiến thức cần trả lời và mức
độ phát triển của tư duy
Phân loại câu hỏi theo hướng này căn cứ vào mức độ kiến thức mà học
sinh trả lời khó hay dễ, nhiều hay ít. Theo Lê Phước Lộc [14], câu hỏi loại
này thường gồm:
- Câu hỏi loại phát biểu: Phát biểu định nghĩa, tính chất, quy tắc,...Mức
độ yêu cầu của loại này là tái hiện, lặp đi lặp lại kiến thức đã có.
- Câu hỏi loại trình bày: Trình bày cách giải, cách chứng minh,...Mức độ
yêu cầu loại này cao hơn, học sinh phải diễn đạt qua ngôn ngữ, có sự lý giải,
sự hiểu biết về đối tượng và vận dụng, sắp xếp kiến thức có tính logic.
- Câu hỏi loại giải thích: Vì sao, tại sao,...Loại này yêu cầu học sinh phải
hỏi cũng có ý nghĩa tập cho học sinh suy luận, giải thích, chứng minh, trình
bày,...Giáo viên thực hiện ý đồ truyền thụ tri thức của mình thông qua hệ
thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm hiểu vấn đề theo định hướng của mình
nhằm đạt được kiến thức, kỹ năng. [23]
1.2.6. Ý nghĩa của câu hỏi
Trong dạy học toán theo định hướng đổi mới PPDH, nếu xây dựng được
hệ thống câu hỏi tốt, phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp đối tượng học
sinh, đảm bảo tính khoa học, đồng thời sử dụng hệ thống câu hỏi đó thì sẽ có
những ý nghĩa:
- Kiểm tra được kiến thức, kỹ năng của học sinh, làm lộ rõ những ưu
điểm, nhược điểm trong quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh.
- Dẫn dắt học sinh xây dựng bài học theo ý đồ của giáo viên để đạt được
mục đích của bài học.
17
- Rèn luyện cho học sinh khả năng liên kết, liên tưởng giữa cái đã biết và
cái chưa biết.
- Tạo được tình huống có vấn đề, gây được hứng thú cho học sinh, học
sinh hoạt động tự giác, tích cực để chiếm lĩnh tri thức.
- Giúp học sinh phát hiện cách huy động kiến thức để giải quyết vấn đề.
- Rèn luyện cho học sinh tư duy phê phán, tư duy sáng tạo.
- Tập cho học sinh thói quen tự nêu cao câu hỏi và tìm cách trả lời câu
hỏi đó.
- Thiết kế và sử dụng tốt hệ thống câu hỏi sẽ nâng cao chất lượng dạy
học góp phần đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.
1.3. Đánh giá và đánh giá thƣờng xuyên
1.3.1. Đánh giá
Đánh giá học sinh tiểu học là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao