1
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Mơ
1
SV: Nguyễn Thị Mơ
1
Lớp: CQ48/22.05
2
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
MỤC LỤC
2
SV: Nguyễn Thị Mơ
Báo cáo kiểm toán
Báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán
Bất động sản
Ban giám đốc
Cơ sở dữ liệu
Doanh nghiệp
Giá trị gia tăng
Các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế(International Accounting
KSNB
KSCLKT
KTV
RRKT
RRKS
RRTT
TK
TSCĐ
TNCN
TNDN
VACPA
Standards Board)
Kiểm soát nội bộ
Kiểm soát chất lượng kiểm toán
Kiểm toán viên
Rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm soát
Rủi ro tiềm tàng
Tài khoản
Lớp: CQ48/22.05
5
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
1) Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Với chính sách mở cửa cùng với sự hoàn thiện về luật pháp, nền kinh tế Việt
Nam có những bước phát triển vượt bậc, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh trong cả
lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ tạo nên một nền kinh tế sôi động hoạt động
theo cơ chế thị trường. Vì thế hiện nay Việt Nam đã được nhiều nền kinh tế lớn trên
thế giới công nhận là nền kinh tế thị trường. Góp phần vào sự phát triển đó ko thể
không kể tới hoạt động kiểm toán. Ra đời từ thập niên 90 của thế kỉ 20, đến thời điểm
này, lĩnh vực kiểm toán đã phát triển rất đa dạng về loại hình cũng như chất lượng
dịch vụ. Trong số các loại hình dịch vụ kiểm toán, dịch vụ kiểm toán báo cáo tài
chính được thực hiện nhiều nhất. Kiểm toán báo cáo tài chính cung cấp báo cáo kiểm
toán khẳng định tính trung thực, hợp lý và phù hợp vs quy định của Nhà nước, Chuẩn
mực và Chế độ kế toán hiện hành trên các khía cạnh trọng yếu. Từ đó doanh nghiệp
tạo được sự minh bạch về tài chính cũng như hoạt động kinh doanh, tăng uy tín và
sức cạnh tranh ở thị trường trong nước và cả quốc tế. Với những báo cáo kiểm toán
chất lượng, nhà đầu tư cũng có thêm cơ sở tin tưởng vào quyết định đầu tư của họ và
doanh nghiệp sẽ có thêm tiềm lực mở rộng và phát triển. Như vậy kiểm toán báo cáo
tài chính đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu của tất cả các doanh nghiệp và là
một nhu cầu về thông tin không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Trong xu
hướng phát triển của xã hội, công ty TNHH Kiểm toán và Thẩm định giá Việt Nam
(AVA)-chi nhánh Quảng Ninh được thành lập và đi vào hoạt động đã, đang ngày
- Khái quát lý luận về quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
trong kiểm toán BCTC do các tổ chức Kiểm toán độc lập thực hiện.
- Đánh giá đúng thực trạng kiểm toán khoản phải thu khách hàng, đồng
thời phân tích làm rõ những tồn tại trong kiểm toán khoản phải thu khách hàng
trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Thẩm định giá
Việt Nam (AVA)-chi nhánh Quảng Ninh thực hiện.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình và phương pháp
kiểm toán khoản phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công
ty TNHH Kiểm toán và Thẩm định giá Việt Nam (AVA)-chi nhánh Quảng Ninh
thực hiên.
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu đề tài là: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề
về quy trình kiểm toán khoản mục Phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC.
Phạm vi nghiên cứu đề tài là: Đề tài nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản
mục Phải thu khách hàng với tư cách là một bộ phận, một khoản mục trong một
cuộc kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Thẩm định giá Việt Nam
(AVA)-chi nhánh Quảng Ninh.
4) phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng:
•
Phương pháp chung: Phép duy vật biện chứng;Phép duy vật lịch sử của Chủ
nghĩa Mác-Lê Nin.
SV: Nguyễn Thị Mơ
6
Sinh viên
Nguyễn Thị Mơ
SV: Nguyễn Thị Mơ
7
Lớp:CQ48/22.05
8
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC
PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1. Khái quát về khoản mục Phải thu khách hàng
1.1.1. Khái niệm
Phải thu khách hàng: là các khoản phải thu phát sinh khi các cá nhân, tổ chức
bên ngoài doanh nghiệp mua sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ do doanh nghiệp cung
cấp nhưng chưa thanh toán tiền cho doanh nghiệp.
Các khoản phải thu là khoản nợ của các cá nhân, các tổ chức đơn vị bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp về số tiền mua sản phẩm, hàng hóa, vật tư và
các khoản dịch vụ khác chưa thanh toán cho doanh nghiệp.
Khi hạch toán các khoản phải thu của khách hàng cần tôn trọng các quy
định sau đây:
-
9
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
Bên Có: - Số tiền khách hàng đã trả nợ.
- Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng.
- Khoản giảm giá hàng bán sau khi đã giao hàng khách hàng có
khiếu nại; doanh thu của số hàng đã bán bị người mua trả lại.
- Số thực thu về phí bảo hành công trình, xử lý số phí bảo hành
công trình không thu được.
Số dư bên Nợ: số tiền còn phải thu của khách hàng.
Tài khoản này có thể có số dư bên Có phản ánh số tiền nhận trước, hoặc số
đã thu nhiều hơn phải thu của khách hàng theo chi tiết của từng đối tượng cụ
thể.
Trên BCĐKT, khoản mục Nợ Phải thu khách hàng được trình bày như sau:
•
Phần tài sản
Được trình bày ở mục “Phải thu khách hàng” trong chỉ tiêu “Các
khoản phải thu ngắn hạn” phản ánh số tiền còn phải thu của khách hàng.
•
Phần nguồn vốn
Được trình bày ở mục “Người mua trả tiền trước” trong chỉ tiêu
“Nợ ngắn hạn” phản ánh số tiền nhận trước hoặc đã thu lớn hơn số phải thu
khách hàng.
của doanh nghiệp. Đây là một trong những chu trình phức tạp và thường xảy ra sai
phạm. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp lớn có tình hình bán hàng thu tiền phức tạp,
và có nhiều khoản nợ phải thu khó đòi kéo dài trong nhiều năm, khả năng xảy ra việc
nhân viên đã thu được tiền nhưng cố tình xóa sổ khoản nợ này để mang lại lợi ích cho
cá nhân là khá cao. Do đó kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng có thể phát hiện
ra các sai phạm liên quan đến hệ thống KSNB và giảm rủi ro kiểm toán. Qua đó,
KTV có thể nêu những kiến nghị, đề xuất trong thư quản lý giúp Công ty khách hàng
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hệ thống KSNB trong đơn vị.
Nợ phải thu được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được, tuy nhiên
nó phụ thuộc vào việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi là những ước tính kế toán
mang tính chủ quan của các kế toán viên và nhà quản lý nên có nhiều khả năng sai
phạm và khó kiểm tra. Khi đánh giá khoản mục Nợ Phải thu khó đòi doanh nghiệp
phải tuân thủ theo các nguyên tắc thận trọng và trọng yếu cũng vì thế mà ảnh hưởng
tới công tác kiểm toán, các KTV phải nắm rõ được tình hình công nợ của doanh
nghiệp và có những giá đúng đắn về tình hình trả nợ của khách hàng để có những tư
vấn đúng đắn cho doanh nghiệp về việc lập dự phòng Nợ Phải thu khó đòi.
1.1.3. Kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đối với khoản mục phải thu khách
hàng
1.1.3.1. Kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đối với khoản mục phải thu khách hàng
Các bước công việc chủ yếu đối với KSNB khoản mục Phải thu khách
hàng gồm:
(1)- Phê chuẩn bán chịu:
SV: Nguyễn Thị Mơ
10
Lớp:CQ48/22.05
• Hệ thống chứng từ, sổ sách sử dụng trong hạch toán các khoản phải thu khách
hàng
-
Hệ thống sổ kế toán: Sổ chi tiết theo dõi công nợ phải thu đối với từng khách
hàng cụ thể, Sổ cái tài khoản phải thu khách hàng, Bảng tổng hợp phải thu khách
hàng, Bảng phân tích tuổi nợ, Sổ theo dõi chi tiết các khoản dự phòng phải thu
khó đòi, Sổ cái tài khoản dự phòng phải thu khó đòi.
-
Hệ thống chứng từ:Hợp đồng kinh tế hoặc yêu cầu mua hàng; Phiếu xuất kho;
Hoá đơn bán hàng; Các chứng từ thanh toán: Phiếu thu, giấy báo Có của Ngân
hàng, Tiền đang chuyển; Phiếu kế toán (khi trích lập dự phòng); Các biên bản liên
quan đến xoá sổ một khoản nợ khó đòi…
• Chu trình hạch toán các khoản phải thu khách hàng
Trình tự hạch toán các khoản phải thu khách hàng.
SV: Nguyễn Thị Mơ
11
Lớp:CQ48/22.05
12
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
thực hợp lý của khoản mục Phải thu khách hàng trình bày trên BCTC. Để đạt
được mục tiêu kiểm toán chung, KTV phải đạt được các mục tiêu kiểm toán cụ
thể, thông qua việc xác minh độ tin cậy của các cơ sở dữ liệu liên quan đến các
nghiệp vụ kế toán và số dư TK 131.
Mục tiêu cụ thể:
Đối với kiểm toán nghiệp vụ phải thu khách hàng:
•
Kiểm tra CSDL về tính có thật (sự phát sinh): nghiệp vụ phải thu đã ghi sổ phải
thực sự phát sinh.
•
Kiểm tra CSDL về sự tính toán, đánh giá: nghiệp vụ phải đã ghi sổ phải được tính
toán, đánh giá đúng đắn và hợp lý.
•
Kiểm tra CSDL về sự hạch toán đầy đủ: nghiệp vụ phải thu khách hàng đã ghi sổ
kế toán phải được hạch toán đây đủ, không trùng hay sót.
•
Kiểm tra CSDL về sự phân loại và hạch toán đúng đắn : các nghiệp vụ phải thu
khách hàng phải được phân loại và ghi nhận đúng nguyên tắc kế toán và đúng
quan hệ đối ứng tài khoản ( vào các sổ kế toán), chính xác về số liệu tương ứng
đã ghi trên chứng từ.
•
được tính toán đúng đắn, ghi nhận chính xác.
•
Kiểm tra CSDL tính đầy đủ: các khoản nợ còn phải thu khách hàng được ghi
nhận đầy đủ.
•
Kiểm tra CSDL về cộng dồn :các khoản nợ còn phải thu khách hàng được tổng
hợp đầy đủ, chính xác.
•
Kiểm tra CSDL về trình bày và công bố: các khoản nợ còn phải thu được trình bày
trên BCTC phù hợp với quy định của chế độ kế toán và nhất quán với số liệu trên
sổ kế toán của đơn vị.
1.2.3. Căn cứ kiểm toán
-
Các chính sách, quy chế hay quy định về kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp liên
quan đến việc quản lý các khoản phải thu khách hàng.
-
Các báo cáo tài chính liên quan chủ yếu có liên quan gồm bảng cân đối kế toán,
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bản thuyết minh báo cáo tài chính.
-
15
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
• Chưa có quy chế tài chính về thu hồi công nợ.
• Chưa có sổ chi tiết theo dõi đối tượng phải thu.
• Cùng một đối tượng nhưng theo dõi trên nhiều tài khoản khác nhau.
• Quy trình phê duyệt bán chịu không đầy đủ, chặt chẽ, chưa có quy định về
số tiền nợ tối đa, thời hạn thanh toán.
• Chưa tiến hành đối chiếu hoặc đối chiếu không đầy đủ công nợ vào thời
điểm lập BCTC.
• Chênh lệch biên bản đối chiếu và sổ kế toán chưa được xử lý, chênh lệch sổ
chi tiết, sổ cái, Bảng CĐKT.
• Hạch toán sai số tiền, nội dung, tính chất tài khoản phải thu, hạch toán các
khoản phải thu không mang tính chất thương mại vào tài khoản 131.
• Hạch toán giảm công phải thu khách hàng do hàng hóa bán bị trả lại,
giảm giá hàng bán nhưng không có hóa đơn, chứng từ hợp lệ.
• Ghi tăng khoản phải thu khách hàng không phù hợp với tăng doanh thu
• Có những khoản công nợ thu hồi bằng tiền mặt với số tiền lớn không quy
định thời hạn nộp lại nên bị nhân viên chiếm dụng.
• Các khoản xóa nợ chưa tập hợp được đầy đủ tài liệu theo quy định để làm
căn cứ xử lý.
Đối với kiểm toán khoản mục Nợ Phải thu khách hàng thì kế hoạch kiểm
toán bao gồm kế hoạch tổng thể và chương trình kiểm toán. Khái quát các bước
công việc lập kế hoạch kiểm toán bao gồm:
Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi kí hợp đồng kiểm toán , KTV sẽ tập trung vào thu thập hiểu biết về
ngành nghề kinh doanh của khách hàng, hệ thống kế toán kiểm soát nội bộ và nhận
diện các bên liên quan. Bên cạnh đó, KTV cũng cần xem xét lại kết quả của cuộc
kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán chung, qua đó dễ dàng thu thập được
những thông tin hữu ích.
Đối với khoản mục phải thu khách hàng, việc thu thập thông tin thường được
tiến hành thông qua:
-
Ngành nghề kinh doanh của đơn vị, thông qua việc tìm hiều ngành nghề kinh doanh
của khách hàng, KTV có thể xác định được mức độ quan trọng và kết cấu của
khoản phải thu khách hàng không giống nhau giữa các doanh nghiệp. Với những
doanh nghiệp có kết cấu khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
số tài sản, công tác kiểm toán cần chú ý vào sự phản ánh trung thực, đầy đủ và hợp
lý của các khoản phải thu khách hàng.
-
KTV có thể liên hệ với KTV tiền nhiệm hoặc xem lại hồ sơ kiểm toán năm trước để
thu thập thông tin cơ bản về mức độ sai phạm của doanh nghiệp năm trước với
khoản mục phải thu khách hàng.
-
KTV cần tìm hiểu những thay đổi về các khoản PTKH, việc thay đổi các khách
phân tích được sử dụng bao gồm phân tích xu hướng biến động của khoản mục dựa
trên cơ sở so sánh các trị số của khoản mục phải thu trên BCTC qua các năm và
phân tích tỷ suất dựa trên cơ sở so sánh biến động khoản phải thu trong quan hệ với
các chỉ số khác như doanh thu, dự phòng phải thu khó đòi trên BCTC.
Kiểm toán khoản mục PTKH, KTV cần quan tâm đến tỷ lệ các khoản nợ khó
đòi hay nợ quá hạn hoặc nợ không đòi được trên tổng số doanh thu, tỷ lệ hàng bán
bị trả lại hoặc các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán…Ngoài ra,
KTV còn quan tâm đến chỉ tiêu thời gian quay vòng khoản phải thu:
Việc áp dụng thủ tục phân tích không chỉ giúp KTV nhận ra tình hình biến
động cũng như tính chất trọng yếu của khoản mục mà còn ước tính được khối lượng
công việc cần thực hiện sau đó : thực hiện kiểm tra chi tiết nhiều hay chỉ là cơ bản.
Tìm hiểu ban đầu về hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát liên quan
đến khoản mục Phải thu khách hàng:
Hệ thống kiểm soát nội bộ Nợ Phải thu khách hàng bao gồm toàn bộ các
chính sách, các bước kiểm soát và các thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm đạt
mục đích quản lý và kiểm soát khoản mục Nợ Phải thu khách hàng.
Mục đích của việc tìm hiểu ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ là để xác
định mức độ tin cậy dự kiến đối với hệ thống này, trên cơ sở đó để xác định hợp lý
nội dung, phạm vi và thời gian cho các cuộc khảo sát cơ bản cần phải thực hiện.
SV: Nguyễn Thị Mơ
17
Lớp:CQ48/22.05
18
-
Đánh giá rủi ro kiểm soát.
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với Phải thu khách hàng
Xác định mức trọng yếu tổng thể của toàn bộ BCTC
KTV phải đánh giá mức độ trọng yếu để ước tính mức độ sai sót của BCTC
có thể chấp nhận được, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh
hưởng của các sai sót đối với BCTC để xác định bản chất, thời gian, phạm vi thực
hiện các thử nghiệm. Nếu các KTV ước lượng mức trọng yếu càng thấp, nghĩa là
độ chính xác của các số liệu trên BCTC càng cao lúc đó số lượng bằng chứng phải
thu thập càng nhiều và ngược lại. Việc xác định mức trọng yếu là công việc xét
đoán mang tính nghề nghiệp của KTV. Dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuât kinh
doanh của khách hàng, KTV sẽ lựa chọn ra chỉ tiêu (doanh thu, vốn chủ sở hữu,
SV: Nguyễn Thị Mơ
18
Lớp:CQ48/22.05
19
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
tổng tài sản) để ước lượng mức độ trọng yếu ban đầu cho toàn bộ BCTC, hay
chính là mức độ sai sót có thể chấp nhận được đối với BCTC (dựa vào phán đoán
và kinh nghiệm của KTV).
SV: Nguyễn Thị Mơ
19
Lớp:CQ48/22.05
20
Luận văn tốt nghiệp
Khoa:kế toán
toán thanh toán và bán hàng, việc thiết lập và thực hiện các quy trình chung về
bán hàng, quy chế đối chiếu số dư công nợ cuối kỳ…
-
Rủi ro phát hiện (DR): Rủi ro phát hiện đối với khoản mục PTKH là khả năng
xảy ra sai sót hay gian lận đối với khoản mục này mà không được ngăn ngừa hay
phát hiện bởi hệ thống KSNB và KTV cũng không phát hiện được ra trong quá
trình thực hiện các bước công việc kiểm toán. Rủi ro này có thể xảy ra do KTV
thực hiện các bước công việc kiểm toán không thích hợp hoặc thực hiện không
đầy đủ các bước công việc đó. Ví dụ thủ tục phân tích KTV đánh giá chưa chính
xác hay như KTV không gửi thư xác nhận độc lập mà tin tưởng tuyệt đối vào Hệ
thống KSNB của khách hàng. Từ một mức rủi ro kiểm toán mong muốn cùng
mức rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng KTV đã đánh giá ở trên, KTV sẽ tính ra
được rủi ro phát hiện đối với khoản mục PTKH theo mô hình dưới đây, từ đó KTV
ước lượng được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa ra ý kiến chính
xác đối với khoản mục PTKH.
Mô hình rủi ro kiểm toán:
Đánh giá
của KTV về
rủi ro cố
Cao
Trung bình
Thấp
Cao
Thấp nhất
Thấp
Trung bình
soát
Trung bình
Thấp
Trung bình
Cao
Thấp
Trung bình
Cao
Cao nhất
hữu
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán:
Sau khi thực hiện xong toàn bộ các công việc trên, bước cuối cùng trong
giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, KTV tổng hợp tài liệu và soạn thảo kế hoạch.
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần
Khoa:kế toán
Nhằm kiểm tra tính hiện hữu trong vận hành của các quy chế KSNB, cụ
thể là sự hiện hữu và tính thường xuyên, liên tục trong vận hành của các quy chế
kiểm soát, các bước kiểm soát.
Hoạt động KSNB đối với khoản phải thu khách hàng được thể hiện thông
qua việc tổ chức triển khai thực hiện các quy chế KSNB nhằm quản lý các khoản
phải thu. Sau khi tìm hiểu đánh giá về các quy chế KSNB phải tiếp tục khảo sát để
đánh giá sự vận hành của các quy chế kiểm soát, các bước kiểm soát bằng cách
sử dụng cá kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán như:
• Phỏng vấn các nhân viên có liên quan trong đơn vị bằng việc thiết lập hệ
thống câu hỏi sẵn về KSNB khoản phải thu khách hàng.
• Trực tiếp khảo sát, thu thập, tìm hiểu về quá trình KSNB các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh liên quan đến việc hình thành khoản Phải thu khách hàng
• Điều tra, phỏng vấn, thực hiện lại, kiểm tra từ đầu đến cuối và kiểm tra
ngược lại, trong đó phỏng vấn là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất vì
thực hiện đơn giản nhưng vẫn đem lại hiệu quả cao.
Khảo sát về tình hình thực hiện các nguyên tắc kiểm soát nội bộ đối với khoản mục
Phải thu khách hàng
Sự thực hiện đúng đắn các nguyên tắc "Phân công,phân nhiệm", nguyên
tắc "Bất kiêm nhiệm", nguyên tắc “phê chuẩn,ủy quyền” sẽ đảm bảo tăng cường
hiệu lực của hoạt động kiểm soát, ngăn ngừa hay hạn chế được sự lạm dụng hay
lợi dụng chức năng, quyền hạn trong quá trình thực hiện công việc
1.3.2.2. Khảo sát cơ bản đối với khoản mục phải thu khách hàng
Thủ tục phân tích, đánh giá tổng quát
thanh toán hiện thời
=
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn h
n
Tỷ suất này nói lên khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong hiện tại,
đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn.
Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh
Tỷ suất khả năng
=
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
thanh toán nhanh
Tỷ suất này nói lên khả năng thanh toán nhanh các khoản công nợ ngắn
hạn.
Tỷ suất khả năng thanh toán tức thì
Tỷ suất khả năng
=
Tiền + Đầu tư ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
thanh tức thì
Tỷ suất này nói lên khả năng thanh toán tức thì các khoản công nợ ngắn
hạn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn.
Số vòng quay phải
đến thông tin tài chính của khoản mục Phải thu khách hàng như thông tin về môi
trường kinh doanh, về giá cả thị trường, về chính sách của Nhà nước,…
Trong khi thực hiện các so sánh, cần làm rõ những tác động của các yếu tố gây
sự biến động đương nhiên đối với Phải thu khách hàng và chỉ ra các nghi ngờ về sai
phạm có thể có. Các yếu tố gây sự biến động đương nhiên của từng thông tin tài
chính lệ thuộc vào loại thông tin tài chính cụ thể. Ví dụ:
+Sự thay đổi của quy mô kinh doanh theo kế hoạch đã được phê chuẩn sẽ dẫn
đến tăng hay giảm Phải thu khách hàng.
+Sự biến động của giá cả trên thị trường, có thể do quan hệ cung cầu thay đổi hay
do chất lượng hàng hóa thay đổi dẫn đến Phải thu khách hàng cũng biến động theo.
+Sự biến động của tỉ giá ngoại tệ trên thị trường sẽ dẫn đến tăng hay giảm
Phải thu khách hàng.
Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản phải thu khách hàng
Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ phải thu khách hàng
•
-
Kiểm tra CSDL “sự phát sinh” của nghiệp vụ
Kiểm tra hóa đơn bán hàng tương ứng của khoản phải thu khách hàng đã ghi sổ
kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết phải thu khách hàng.
-
Kiểm tra hồ sơ phê chuẩn cho nghiệp vụ bán hàng chịu: như đơn đặt hàng, hợp
đồng thương mại … xem xét tính đúng đắn, hợp lý của nội dung phê chuẩn và tính
thẩm quyền của người phê chuẩn.
-
Tiến hành kiểm tra các thông tin là cơ sở mà đơn vị dùng để tính khoản phải thu
khách hàng xem có hợp lý và đúng đắn hay không. Cụ thể là kiểm tra về: số lượng,
đơn giá, thuế suất thuế GTGT của hàng bán chịu.
-
Trường hợp bán hàng chịu bằng ngoại tệ, Kiểm toán viên phải kiểm tra tỷ giá
ngoại tệ ghi nhận trên hóa đơn bán chịu có đúng theo tỷ giá ngoại tệ do ngân
hàng công bố tại thời điểm bán hàng chịu hay không.
•
-
Kiểm tra CSDL “sự hạch toán đầy đủ”
Kiểm tra tính liên tục của chứng từ, hoá đơn phải thu khách hàng, đặc biệt chú ý
đến các chứng từ chứng minh của các nghiệp vụ phát sinh vào đầu và cuối kỳ,
nhằm kiểm tra xem các nghiệp vụ này đã được ghi sổ vào sổ kế toán tổng hợp, chi
tiết, báo cáo công nợ, bảng kê phải thu khách hàng hay chưa. Kiểm tra các nghiệp
vụ thanh toán của người mua phát sinh vào đầu kỳ kế toán sau.
•
Kiểm tra CSDL về “sự phân loại và hạch toán đúng đắn”
-
KTV kiểm tra chính sách phân loại và hạch toán các khoản phải thu của đơn vị.
-