Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng đông lạnh tạm nhập – tái xuất qua cục hải quan hải phòng vào thị trường trung quốc - Pdf 34

MỤC LỤC

1

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và các thông tin được trích dẫn trong luận văn
đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

NGƯỜI CAM ĐOAN

PHẠM THẾ TOÀN

2

2


LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu, kết hợp với kinh nghiệm
thực tiễn trong quá trình công tác,cùng với sự cố gắng nỗ lực của bản thân.
Đạt được kết quả này, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy
giáo, Cô giáo trường Đại học Hàng hải Việt Nam, các đồng nghiệp và bạn bè đã
nhiệt tình giúp đỡ. Đặc biệt, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS.
Dương Văn Bạo, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, Thầy đã dày công giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn tất luận vănnày.
Xin chân thành cảm ơn đến tập thể Lãnh đạo, cán bộ, công chức Cục hải quan
thành phố Hải Phòng, các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục hải quan thành phố Hải


Cụng ước

Công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa được thông

ISTANBUL

qua năm 1990 tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ)
Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục

4

Cụng ước Kyoto

hải quan

5

CNTT

Công nghệ thông tin

6

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

7



DANH MỤC SƠ ĐỒ

6


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là một tập quán thương mại được sử dụng rộng
rãi trong thương mại quốc tế đồng thời là một phương thức kinh doanh xuất nhập
khẩu (XNK). Ở Việt Nam, hoạt động này được quy định trong Luật Thương mại,
Luật Hải quan và các quy định khác của Pháp luật có liên quan.
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi cho việc trung chuyển hàng hóa nên trong
những năm gần đây hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất phát triển mạnh mẽ cả
về quy mô và tốc độ. Quản lý hải quan đối với loại hình kinh doanh tạm nhập, tái
xuất hàng hóa tương đối thông thoáng, thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia
hoạt động góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta ngày
càng sâu rộng hơn, đem lại những lợi ích kinh tế- xã hội nhất định. Tuy nhiên,
những kẽ hở trong quản lý, cơ chế chính sách và sự thông thoáng về thủ tục hải
quan bị lợi dụng để thực hiện một số hành vi gian lận thương mại làm phương hại
nền kinh tế.
Cục hải quan thành phố Hải Phòng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về
hải quan trên địa bàn gần biên giới phía Bắc là cửa ngõ giao thương và trung chuyển
hàng hóa với nước láng giềng Trung Quốc. Cảng Hải Phòng với vị trí địa lý là cửa
khẩu cảng biển quốc tế lớn tại khu vực Đông Bắc nên lượng hàng làm thủ tục tạm
nhập tái xuất (TNTX), chuyển khẩu, gửi kho ngoại quan qua địa bàn khá lớn. Hàng
hóa được làm thủ tục tạm nhập qua Cảng Hải Phòng thường được chuyển các tỉnh
phía Bắc sau đó sang thị trường các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Từ khi có chính
sách mở cửa thông thương giữa hai nước vùng biên giới Việt - Trung, hoạt động
xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên. Quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng

hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh.
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu chủ yếu quản lý hải quan đối với loại
hình kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh trên địa bàn thành phố Hải
Phòng
Thời gian : Trong 03 năm (từ năm 2013 đến 2015).
5. Những đóng góp của luậnvăn
Về lý luận: Luận văn đó hệ thống hóa cơ sở lý luận về tạm nhập, tái xuất hàng
8


đông lạnh và quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất
hàng đông lạnh.
Về mặt thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hàng
Đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Cục hải quan thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2013-2015, chỉ ra những kết quả đạt đuợc, những hạn chế, tồn tại,
bất cập và nguyên nhân, đồng thời căn cứ vào diễn biến tinh hình mới đưa ra một
số giải pháp góp phần vào việc từng bước hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý
hải quan đối với hoạt động kinh doanh hàng đông lạnh tạm nhập, tái xuất tại Cục
hải quan thành phố Hải Phòngtrong thời gian tới. Các giải pháp đảm bảo được tính
thực tiễn hoạt động của hải quan thành phố Hải Phòngvà phù hợp với điều kiện
kinh tế xã hội tren địa bàn thành phố Hải Phòng.
6. Cấu trúc của luậnvăn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được bố cục thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản
lý hải quan đối với hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý hàng đông lạnh kinh doanh tạm nhập, tái xuất
tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng.
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về Hải

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hải quan đối với hoạt động
tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại cấp chi cục hải quan cửa khẩu, cụ thể là cửa khẩu
Móng Cái thuộc Cục hải quan tỉnh Quảng Ninh, tác giả đó chỉ ra ra các yếu tố ảnh
hưởng đến công tác quản lý trên địa bàn cửa khẩu và đề xuất giải pháp để thực hiện
tốt hơn công tác quản lý trong thời gian tới tại chi cục hải quan cửa khẩu Móng Cái.
10


- Hệ thống tạm quản hàng hóa-công cụ tạo thuận lợi thương mại, tác giả Minh
Minh, tạp chí nghiên cứu Hải quan số 10, năm2006.
Trong bài viết này, tác giả đó giới thiệu và nêu những nội dung chính của hệ
thống tạm quản hàng hóa theo công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa- Cụng ước
ATA, phân tích những lợi ích khi áp dụng hệ thống tạm quản trong quản lý hàng
hóa tạm nhập, tái xuất của cơ quan hảiquan.
- Đề án giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với hàng kinh
doanh tạm nhập- tái xuất, Tổng cục Hải quan, năm2013.
Đề án đó hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công
tác quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất của Việt
Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại
một số tỉnh, thành phố lớn, đề án đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập- tái xuất, tạo thuận lợi
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽ
đúng quy định của Nhà nước, chống thất thu thuế, chống thẩm lậu hàng hóa tạm
nhập vào thị trường trong nước, góp phần bảo vệ an ninh kinh tế và quyền lợi
người tiêu dùng ở cấp Tổng cục hải quan.
Những công trình nghiên cứu kể trên đó hệ thống hóa, làm sáng tỏ những vấn
đề về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan về quản lý hải quan đối với hoạt động
kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa và đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau
cũng như thực tế công tác quản lý của nhiều địa phương khác nhau
Các nghiên cứu kể trên đó có những đóng góp nhất định trong hoạch định

Ở Việt Nam,năm2005 khi Luật thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 thay thế
cho Luật Thương mại (1997) thì hoạt động này mới chính thức được coi là một hoạt
động kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Tại Điều 29 Luật Thương mại quy
định: “Tạm nhập tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ
các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng
theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam
và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”.
12


Từ đó ta có thể hiểu tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩu
hàng hóa nhưng không phải để tiêu thụ tại thị trường trong nước mà là để xuất
khẩu sang một nước khác nhằm thu lợi nhuận. Những mặt hàng này không được
gia công hay chế biến tại nơi tái xuất. Hàng hóa vừa phải làm thủ tục nhập khẩu
vừa phải làm thủ tục xuất khẩu sau đó.
Khác với các phương thức kinh doanh XNK khác, trong phương thức kinh doanh
tạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt là hợp đồng nhập
khẩu và hợp đồng xuất khẩu do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước
ngoài. Hợp đồng xuất khẩu có thể ký trước hoặc ký sau hợp đồng nhập khẩu.
* Phân biệt phương thức kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa với chuyển
khẩu và quá cảnh hàng hóa:
Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán
sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập
khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.
Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện theo các hình thức như: Hàng hóa
được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa
khẩu Việt Nam; hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu
có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và
không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; hàng hóa được vận chuyển từ nước

Các hình thức tạm nhập, tái xuất khác: Theo mục đích của việc tạm nhập, tái
xuất tương ứng hình thức này bao gồm hàng hóa là máy móc, thiết bị, phương tiện
thi công, khuôn, mẫu được phép tạm nhập, tái xuất theo các hợp đồng thuê, mượn
của thương nhân Việt Nam ký với bên nước ngoài để sản xuất, thi công, thực hiện
dự án đầu tư; hàng hóa là linh kiện, phụ tùng tạm nhập, tái xuất để phục vụ thay
thế, sửa chữa tầu biển, tầu bay nước ngoài nhưng không có hợp đồng; hàng hóa
tạm nhập, tái xuất tham dự hội chợ, triển lãm; hàng hóa là phương tiện chứa hàng
hóa tạm nhập tái xuất theo hình thức quay vòng; hàng hóa tạm nhập tái xuất bán tại
cửa hàng miễn thuế; máy múc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp tạm nhập, tái xuất có
thời hạn. [13]

14


1.2.2. Vai trò của hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa đối với sự phát
triển kinh tế của nước ta hiệnnay
Phương thức kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại Việt Nam hiện nay
đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ, giá trị kim ngạch hàng năm đạt hàng chục tỷ
USD, mặt hàng tạm nhập, tái xuất rất phong phú như xăng, dầu, các loại nguyên
vật liệu, khoáng sản, phân bón, thực phẩm, nông sản, rượu bia, thuốc lá... Tỷ trọng
các mặt hàng thay đổi từng năm theo tín hiệu thị trường đó đem lại lợi ích nhiều
mặt về kinh tế, xã hội. Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, vai trò của của
hoạt động kinh doanh tạm nhập tái, xuất hàng hóa thể hiện ở các khía cạnh sauđây:
- Khai thác được lợi thế về vị trí địa lý của Việt Nam: Nước ta có vị trí địa lý hết sức
thuận lợi cho giao thương hàng hóa quốc tế do nằm ở rìa phía Đông của bán đảo
Đông Dương, gần trung tâm khu vực Đông Nam Á; Việt Nam vừa gắn với lục địa
Á-Âu vừa tiếp giáp với biển Đông thông ra Thái Bình Dương, có đường biên giới
đất liền tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia, có đường biển tiếp giáp với
Trung Quốc, Philippin, Brunây, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Campuchia, Thái
Lan.

Quản lý Nhà nước về hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
bao gồm các nội dung: Thực hiện quản lý bằng chính sách XNK, sử dụng công cụ
thuế, quy trình thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan và kiểm tra sau thông
quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất.
1.1.3.1. Thực hiện quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất bằng
chính sách XNK
Quản lý Nhà nước về hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất
bằng chính sách XNK được thực hiện theo những nội dung chínhnhư sau:[11,13]
Thực hiện quản lý bằng giấy phép: Đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái
xuất thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc danh
mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hàng hóa thuộc danh mục phải xin
giấy phép và hàng hóa thuộc diện quản lý của các Bộ, Ngành thì khi tạm nhập, tái
xuất doanh nghiệp phải xin giấy phép của Bộ Côngthương.
Những loại hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất không thuộc trường hợp
cấm, tạm dừng, không phải xin giấy phép XNK thì thương nhân trực tiếp làm thủ
16


tục tạm nhập, thủ tục tái xuất tại Chi cục hải quan cửa khẩu, không phải xin giấy
phép tạm nhập, tái xuất của Bộ Công thương.
Thời hạn hàng hóa tạm nhập được lưu giữ tại Việt Nam: Hàng hóa kinh doanh
tạm nhập, tái xuất được phép lưu tại Việt Nam trong một thời hạn nhất định (theo
quy định tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 là không quá120 ngày,
theo quy định tại Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 là không quá 60
ngày) kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài
thời hạn lưu tại Việt Nam, doanh nghiệp cóvăn bản gửi cơ quan hải quan nơi làm
thủ tục tạm nhập hàng hóa đề nghị gia hạn; thời hạn gia hạn mỗi lần tối đa khụng
quá 30 ngày và không quá hai lần gia hạn cho mỗi lô hàng. Quá thời hạn nêu trên,
doanh nghiệp phải tái xuất hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tiêu hủy.
Trường hợp nhập khẩu vào Việt Nam thì doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định

được hưởng lãi suất trên khoản tiền ký quỹ theo quy định của Kho bạc Nhà nước),
doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán toàn bộ các chi phí để xử lý, làm sạch môi
trường và tiêu hủy hàng hóa tạm nhập tái xuất tồn đọng quá thời hạn quy định.
Trong trường hợp thương nhân không thực hiện thanh toán các chi phí theo yêu
cầu của cơ quan có thẩm quyền, tiền ký quỹ dự phòng của thương nhân được sử
dụng để thanh toán toàn bộ các chi phí để xử lý, làm sạch môi trường nếu hàng hóa
của thương nhân gây ô nhiễm môi trường trong quá trình lưu giữ, tạm nhập, tái
xuất tại Việt Nam, thanh toán toàn bộ các chi phi để tiêu hủy hàng hóa tạm nhập,
tái xuất của thương nhân tồn đọng quá thời hạn quy định, sau khi đó trả các chi phí
nêu trên, thương nhân sẽ được hoàn trả lại toàn bộ số tiền ký quỹ hoặc một phần số
tiền ký quỹ nếu thương nhân không được cấp mã số tạm nhập, tái xuất hoặc không
tiếp tục hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hoặc bị thu hồi mãsố tạm nhập, tái
xuất đã được cấp; doanh nghiệp phải có kho, bãi phục vụ kinh doanh tạm nhập tái
xuất hàng hóa theo tiêu chuẩn của Bộ Công thương và được Bộ Công thương cấp
mãsố chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng đông lạnh. Đối
với hàng hóa là xăng, dầu kinh doanh tạm nhập tái xuất thì chỉ thương nhân có
Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu do Bộ Công thương cấp mới
được tạm nhập, tái xuất xăng dầu. Đối với nhóm hàng kinh doanh tạm nhập, tái
xuất phải có giấy phép của Bộ Công thương như hàng hóa thuộc danh mục hàng
18


cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm nhập
khẩu, tạm ngưng nhập khẩu hoặc hàng hóa thuộc diện phải xin giấy phép xuất
khẩu, nhập khẩu của Bộ chuyên ngành khi nhập khẩu (hàng tiêu dùng đó qua sử
dụng, quần áo đó qua sử dụng, phụ tùng ô tô đã qua sử dụng, sản phẩm công nghệ
thông tin đã qua sử dụng, hàng điện tử đã qua sử dụng, gỗ tròn và gỗ xẻ nguyên
liệu có nguồn gốc từ Campuchia… thì doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập, tái xuất
hàng hóa đã qua sử dụng phải đáp ứng các điều kiện: doanh nghiệp được thành lập
tối thiểu là hai năm, đã có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tạm nhập tái, xuất

định của pháp luật. [29]
Thuế giá trị gia tăng: Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất không thuộc đối
tượng chịu thuế giá trị gia tăng.[31]
Thời hạn nộp thuế đối với hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất: Thời hạn nộp
thuế đối với hàng hóa kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất là trước khi
hoàn thành thủ tục hải quan cho lô hàng tạm nhập. Trường hợp chưa nộp thuế, nếu
được tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh số tiền thuế phải nộp và đáp ứng các điều
kiện quy định về người nộp thuế được áp dụng bảo lãnh, thì được áp dụng thời hạn
nộp thuế theo thời hạn bảo lãnh nhưng tối đa không quá 15 ngày, kể từ ngày hết
thời hạn tạm nhập-tái xuất (không áp dụng cho thời gian gia hạn thời hạn tạm
nhập-tái xuất) và không phải nộp tiền chậm nộp trong thời hạn bảo lãnh. Trường
hợp tái xuất ngoài thời hạn bảo lãnh thì phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày hết thời
hạn bảo lãnh đến ngày tái xuất hoặc đến ngày thực nộp thuế (nếu ngày thực nộp
thuế trước ngày thực tái xuất). Trường hợp đó được áp dụng thời hạn nộp thuế theo
thời hạn bảo lãnh nhưng chuyển tiêu thụ nội địa thì phải nộp đủ các loại thuế, tính
lại thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa chuyển tiêu thụ nội địa và phải tính tiền
chậm nộp từ thời điểm hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập hàng hóa đến ngày
thực nộp thuế. [9]
1.2.3.3. Tổ chức thực hiện quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm
nhập, tái xuất
Thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất là các công
việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định
của pháp luật đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất. Chi cục hải quan cửa
20


khẩu có trách nhiệm tổ chức thực hiện quy trình thủ tục hải quan để quản lý hàng
hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất. Trường hợp doanh nghiệp đăng ký làm thủ tục
hải quan tạm nhập hàng hóa tại một chi cục hải quan và tái xuất hàng hóa qua một
cửa khẩu khác với cửa khẩu tạm nhập thì hải quan cửa khẩu tạm nhập có trách

nhằm mục đích thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà
doanh nghiệp đó khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hoá kinh
doanh tạm nhập, tái xuất đã được thông quan đối chiếu với chứng từ xuất kho,
nhập kho, sổ sách chứng từ kế toán của doanh nghiệp, chứng từ thanh toán qua
ngân hàng…và thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải
quan của doanh nghiệp thông qua việc xác minh thông tin tại cửa khẩu tái xuất,
hãng tầu, tài liệu cảng vụ, đơn vị xếp dỡ hàng hóa, lực lượng Biên Phòng. Trên cơ
sở phân tích thông tin quản lý rủi ro, dấu hiệu vi phạm trong đó tập trung kiểm tra
sau thông quan đối với doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập, tái xuất những mặt
hàng nhậy cảm, thuế suất cao, kim ngạch lớn, các trường hợp tạm nhập quá hạn
nhưng chưa tái xuất hoặc tái xuất nhưng chưa thực hiện thanh khoản.
1.2.4. Quy trình nghiệp vụ quản lý của hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm
nhập, tạm xuất
Để quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất hiện nay ngành hải quan
đang áp dụng hệ thống thông quan tự động và hệ thống thông tin tình báo Hải
quan(VNACCS/VCIS).
Tổổngquanq uảảnlýhàngtạạmnhậập-táixuấất

Tạm nhập

Cơ quan HQ

Tái xuất

Khai
Sửa đổi

Chuyển nội địa
Quản lý,G/Sát
(2)

Thanh khoản

- Khai báo làm thủ tục HQ nhập
-Khaikhẩu
báo làm thủ -tục
Gửi
HQ
hồxuất
sơ thanh
khẩu khoản đến HQ nơi làm thủ tục tạm nhập

Hải quan
-Kiểm
thời hạn hàng hóa lưu giữ tại Việt
Nam
Thanh
khoản tờ khai tạm nhập
-Kiểm tra đối chiếu Hợp
đồngtraXK
-Kiểm
đốihàng
chiếu với tờ khai tạm nhậptương
Kiểm traứng
nghĩa vụthuế
-Niêm phong HQ phương
tiệntra,
chứa
Xử phạt vi phạm (nếucó)

Sơ đồ 1. 2: Sơ đồ quá trình quản lý đối với một lô hàng kinh doanh tạm

xuất trên tờ khai hải quan.
Hồ sơ hải quan tái xuất: Khi làm thủ tục tái xuất lô hàng tạm nhập, ngoài các
chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan như đối với một lô hàng xuất khẩu thương mại
24


(Tờ khai hải quan- dạng điện tử, hợp đồng xuất khẩu, hóa đơn xuất khẩu, bảng kê
chi tiết hàng hóa, các chứng từ khác theo quy định của các Bộ, Ngành) người khai
hải quan phải nộp thêm một bản sao tờ khai hàng hóa tạm nhập và một bản sao hợp
đồng bán hàng (hợp đồng xuất khẩu) do thương nhân Việt Nam ký với thương
nhân nước ngoài. Thương nhân có thể chia nhỏ lô hàng tạm nhập để tái xuất nhiều
lần nhưng mỗi lần tái xuất, thương nhân phải tái xuất hết lượng hàng khai trên một
tờ khai tái xuất.
Địa điểm làm thủ tục hải quan: Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ
được làm thủ tục hải quan tại chi cục hải quan cửa khẩu nơi có hàng hóa tạm nhập
hoặc tại chi cục hải quan cửa khẩu nơi có hàng tái xuất đi qua. Khi hàng hóa được
tái xuất tại cửa khẩu khác cửa khẩu tạm nhập thì chi cục hải quan cửa khẩu tạm
nhập lập biên bản bàn giao hàng hóa cho chi cục hải quan cửa khẩu giám sát việc
tái xuất; việc giám sát hàng hóa trên đường vận chuyển từ cửa khẩu tạm nhập ra
cửa khẩu tái xuất được thực hiện bằng niêm phong hảiquan.
Thanh khoản tờ khai: Chi cục hải quan nơi làm thủ tục tạm nhập lô hàng có
trách nhiệm thanh khoản tờ khai tạm nhập và xử lý các vấn đề liên quan đến thuế,
vi phạm (nếu có). Thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản hàng kinh doanh tạm nhập tái
xuất được chia thành hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất, nếu lô hàng tạm nhập
được tái xuất trong thời hạn nộp thuế của tờ khai tạm nhập thì thời hạn nộp hồ sơ
thanh khoản tờ khai tạm nhập là 45 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế của tờ
khai tạm nhập. Trường hợp thứ hai, nếu lô hàng không được tái xuất trong thời hạn
nộp thuế của tờ khi tạm nhập thì người khai hải quan phải tờ khai nộp thuế nhập
khẩu và thuế giá trị gia tăng (nếu có) kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế. Cơ quan hải
quan kiểm tra, thu thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng theo quy định. Người khai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status