MỞ ĐẦU
Văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng, luôn có vị trí, vai trò quan trọng
trong đời sống con người cũng như trong bản sắc của mỗi dân tộc. Văn hóa không chỉ
làm nên sự khác biệt, tính đặc thù của mỗi dân tộc mà qua đó làm cho đời sống nói
chung thêm phong phú, đa dạng, giúp cho con người vun đắp lòng tự hào đối với bản
sắc của dân tộc mình.
Di sản văn hóa Việt Nam kết tinh trí tuệ, tình cảm, truyền thống của các thế hệ.
Mặc dù phải trải qua biết bao biến cố của lịch sử, bị mất mát, hủy hoại bởi chiến
tranh và điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng kho tàng di sản văn hóa ấy vẫn
vô cùng phong phú và đa dạng, đang và sẽ là bệ đỡ tinh thần cho dân tộc vững vàng
trong quá trình phát triển và hội nhập toàn diện với cộng đồng quốc tế.
Di sản văn hóa rất dễ bị mai một và luôn tiềm ẩn nguy cơ biến mất nhanh
chóng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay công cuộc đổi mới toàn diện, hội nhập sâu
rộng với thế giới đã tác động sâu sắc đến di sản văn hóa dân tộc. Bởi vậy, bảo tồn,
phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làm
cho di sản văn hóa tiếp tục tỏa sáng trong giao lưu, hội nhập là nhiệm vụ quan trọng,
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Những thách thức đó đã được Đảng ta sớm nhận định, cụ thể nhất là Hội nghị
lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Đảng ta đã ra một nghị quyết
riêng về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, đồng thời đề ra 10 nhiệm vụ thực hiện, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn, phát huy
và phát triển vǎn hóa các dân tộc thiểu số.
Không nằm ngoài nhiệm vụ đó, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tự hào là địa
phương đang lưu giữ một kho tàng lớn về di sản văn hóa với nhiều loại hình văn hóa
vật thể và phi vật thể, đặc biệt là ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. 19 dân tộc
thiểu số từ khắp mọi miền đất nước đến đây hội tụ tạo nên sự phong phú, đa dạng
trong đời sống văn hóa vùng đất mới Sông Hinh.
Sau gần 30 năm xây dựng và phát triển, huyện Sông Hinh đã đạt được những
thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng.
nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã
hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá
trị, những tập tục và tín ngưỡng.
Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh,“vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về
mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn” [1].
Trong cuốn giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam, nhà ngôn ngữ học Trần Ngọc
Thêm định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”[2].
1.1.2. Khái niệm di sản văn hoá
Di sản văn hoá là toàn bộ những sản phẩm, những giá trị vật chất và tinh thần
của dân tộc đã sáng tạo, để lại, lưu giữ và trao truyền nhiều thế hệ.
Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác
định: “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể,
là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[3].
1.1.3. Phân loại di sản văn hoá
Theo quan niệm của UNESCO, di sản văn hóa bao gồm hai loại:
Di sản “văn hóa vật thể” được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấy
được”. Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật
thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu
dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định. Di sản văn hóa vật thể được tạo
Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b)
Hình thức độc đáo;
c)
Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
-
Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự
nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất.
-
Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá
trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một
phong cách, một thời đại;
-
Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn
cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất
định;
d) Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến của
thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia”[4].
Có thể nói, di sản văn hóa phi vật thể luôn sống trong tâm trí con người, đồng
hành cùng con người, được con người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹ
1.2. Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời. Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan
tâm đến giữ gìn di sản văn hóa dân tộc. Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
lập tức ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam.
Công cuộc đổi mới với những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế,
ở đó, thay vì nền kinh tế quan liêu, bao cấp, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực
hiện phát triển nền kinh tế thị trường - nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có
nhiều thành phần tham gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để có những thay đổi
mang tính chất cách mạng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và vănhóa, Đảng
và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chủ trương, định hướng, luật, chính sách;
những văn bản có tác động sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển của di
sản văn hóa.
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm
đến việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Trong điều 30, Hiến
pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định rõ rằng: “Nhà
nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân
văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát
huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.
Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa. Nghiêm cấm truyền bá tư
tưởng và văn hóa phản động, đồitrụy; bài trừ mê tín, hủ tục”[5].
Tháng 11/1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII họp Hội nghị lần
thứ IV đã dành riêng một Nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ trong
những năm trước mắt. Trong sáu định hướng về công tác tư tưởng, có một định
hướng lớn là phát triển văn hóa với hai nội dung cơ bản là phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong đó, bản sắc văn hóa dân tộc
Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
14/6/2001, có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam. Với các điều khoản cụ thể, rõ ràng hơn so
với các văn bản dưới luật khác, phạm vi điều chỉnh của bộ luật trên giờ đây đã bao
gồm cả văn hóa phi vật thể và văn hóavật thể, quy định cụ thể việc kiểm kê, sưu tầm
vốn văn hóa truyền thống của người Việt và các tộc người thiểu số; bảo tồn các làng
nghề truyền thống, các tri thức về y, nghệ sĩ bậc thầy trong các ngành, nghề truyền
thống. Luật Di sản văn hóa cũng có những quy định về quản lý bảo vệ và phát huy
giá trị của các di sản văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp ngân
sách cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa.
1.3. Sự cần thiết phải bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai
đoạn hiện nay
Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa
lịch sử. Kinh tế tăng trưởng theo hướng đi lên, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được cải thiện một bước đáng kể.
Bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa quốc tế hiện nay đã tác động mạnh
mẽ đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Bên cạnh nhận thức của Đảng,
Nhà nước và nhân dân đối với di sản văn hóa ngày một nâng lên, trân trọng di sản
văn hóa là “tài sản vô giá” của dân tộc thì quá trình đổi mới toàn diện đất nước, phát
triển nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tác động
nhiều chiều đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Bên cạnh những tác động
tích cực, quá trình đổi mới toàn diện với mặt trái của kinh tế thị trường đang khiến
nhiều di sản đang dần bị mai một.
Xu thế toàn cầu hoá hiện nay tạo không gian văn hoá ngày càng được mở rộng,
sự giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc cũng không ngừng được tăng cường. Các giá
trị văn hoá của nhân loại được chuyển tải qua các phương tiện thông tin đã góp phần
đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của nhân dân. Tuy nhiên, mặt trái
Dân số 52.118 người; gồm 10 xã, 01 thị trấn (thị trấn Hai Riêng, xã Ea Bia, Ea
Trol, Ea Bá, Ea Bar, Ea Lâm, Ea Ly, Đức Bình Đông, Đức Bình Tây, Sơn Giang và xã
Sông Hinh), với 83 thôn, buôn, khu phố; trong đó có 07 xã đặc biệt khó khăn; 11
thôn, buôn đặc biệt khó khăn các xã khu vực I, II thuộc diện đầu tư của Chương trình
135 giai đoạn III.
2.1.2. Đặc điểm, tình hình đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống
trên địa bàn huyện Sông Hinh:
Đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh sống với nhau theo dòng họ,
hình thành nên các buôn, làng và cũng có sự đan xen với người Kinh ở tất cả các xã,
thị trấn. Trước đây ở Sông Hinh chủ yếu là dân tộc Êđê, Ba Na và một ít người dân
tộc Chăm Hroi. Từ năm 1993 đến nay, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước đi xây dựng vùng kinh tế mới nên đồng bào từ các tỉnh phía Bắc và từ đồng
bằng đến Sông Hinh để lập nghiệp, đã hình thành nên cộng đồng các dân tộc ở huyện
Sông Hinh rất đa dạng và phong phú. Đến nay toàn huyện có 20 dân tộc, trong đó có
19 dân tộc thiểu số với dân số 21.274 người, chiếm 41,5% dân số toàn huyện. Trong
đó: Êđê 14.451 người chiếm 27,73%; Ba Na 1.119 người, chiếm 2,15%; Chăm Hroi
244 người, chiếm 0,49%; Gia Rai 53 người, chiếm 0,1%; Nùng 2.078 người, chiếm
3,73%; Tày 2.002 người, chiếm 3,84%; Sán Dìu 46 người, chiếm 0,09%; người Hoa
11 người, chiếm 0,01%; Dao 1.014 người, chiếm 1,95%; Mường 122 người, chiếm
0,23%; Sán Chay 15 người, chiếm 0,01%; Thái 26 người, chiếm 0,04%; Xơ Đăng 11
người, chiếm 0,01 %; Khơ me 17 người, chiếm 0,02%; Hê rê 13 người chiếm 0,01%;
Chu Ru 1 người, chiếm 0,008%; Cơ Ho 2 người, chiếm tỷ lệ 0,009 %; Thổ 5 người,
chiếm 0,01 %; Mông 44 người, chiếm tỷ lệ 0,1 %. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa
riêng, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc.
Phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số gắn bó với nông nghiệp, nương rẫy.
Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2014 đạt 14 triệu đồng/năm. Tỷ lệ hộ nghèo
toàn huyện 41,87%, tỷ lệ hộ cận nghèo: 17,38%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu
đời sống đồng bào ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn miều núi không
ngừng được khởi sắc.
Tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển chất lượng đàn bò, tính đến nay tổng đàn
bò của huyện là 20.000 con, trong đó tỷ lệ bò lai 27,88% tổng đàn. Mục tiêu bảo vệ
và phát triển rừng đã nâng tỷ lệ độ che phủ rừng lên 42,55%, tăng 2,8% so năm 2009.
- Kết quả thực hiện các chương trình, dự án: Trong giai đoạn 2009 – 2014:
Tổng nguồn vốn đầu tư: 54.922 triệu đồng, qua đó, đường giao thông nông thôn, xóa
nhà tạm, sửa chửa, chỉnh trang nhà ở và phát triển sản xuất mạng lưới điện quốc gia;
hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung… đã được xây dựng và đưa vào sử dụng, hoạt
động có hiệu quả, từng bước đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của nhân dân, góp phần
phát triển kinh tế - xã hội, làm cho bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số thay đổi rõ
nét. Bên cạnh đó, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ tiền trực tiếp cho
16.164 lượt hộ nghèo; hỗ trợ tiền cho học sinh nghèo: Tổng kinh phí thực hiện: 1.185
triệu đồng; Hỗ trợ học sinh, sinh viên theo Nghị định 49/NĐ-CP, tổng kinh phí thực
hiện: 8.082 triệu đồng cấp cho 21.570 lượt học sinh, sinh viên. Cấp báo miễn phí
phục vụ nhu cầu thông tin của đồng bào dân tộc. Thông qua Phòng giao dịch Ngân
hàng Chính sách xã hội huyện đã cho 16.235 lượt hộ vay vốn ưu đãi, tổng doanh số
cho vay 191.563 triệu đồng. Đồng bào dân tộc thiểu số rất phấn khởi, tích cực, hăng
hái trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc
sống.
Thực hiện Chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số
theo quyết định 18/2011/QĐ-TTg: Hiện toàn huyện có 52 người là những vị có uy
tín, tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số trong đó: Người Dân tộc Ê đê có 35
người, Dân tộc Ba Na có 05 người, Tày có 07 Người, Nùng có 02 Người, Dao 02
người, Chăm 01 người. Trong những năm qua Huyện đã thực hiện tốt chủ trương,
quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người uy tín trong đồng bào
dân tộc. Các chế độ, chính sách đối với người có uy tín bước đầu đã đem lại những
kết quả nhất định, góp phần củng cố niềm tin của người có uy tín đối với Đảng, Nhà
Hiện nay trên địa bàn huyện có 03 tôn giáo chính đó là Phật giáo, Công giáo và
Tin lành; Tổng số 909 hộ, 4.094 khẩu, chiếm tỉ lệ 8,61% dân số toàn huyện. Công tác
quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo được tăng cường, dần đi vào nền
nếp, tạo điều kiện thuận lợi để chức sắc, nhà tu hành và đồng bào tín đồ các tôn giáo
sinh hoạt, bầy tỏ niềm tin tôn giáo “sống tốt đời, đẹp đạo” và ngày càng tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc.
Song song với đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, huyện tập trung chỉ đạo củng
cố, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia hội đồng nhân dân, ủy ban nhân
dân các cấp đạt 32,14%. Hiện nay, hầu hết thôn, buôn và trường học trên địa bàn đều
có Chi bộ đảng. Việc phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên, cán bộ thôn, buôn,
khu phố tại địa phương được thực hiện khá tốt; tổng số đảng viên là người dân tộc
thiểu số là 676 người, chiếm 34,21% so với tổng số đảng viên toàn huyện. Nhìn
chung đa số các đảng viên, đoàn viên, hội viên là người dân tộc đều gắn kết với các
hoạt động của ban ngành, đoàn thể và ý thức trách nhiệm trong mọi sinh hoạt, tổ chức
phân công.
Công tác cán bộ đối với người dân tộc thiểu số được chú ý đúng mức, chọn
những đảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác để đảm nhận các
chức danh chủ chốt, như Bí thư hoặc Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch
hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ở các xã, thị trấn; thường xuyên quan tâm công
tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Đến nay,
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đang công tác ở các cơ quan Đảng, nhà nước và các
đoàn thể từ huyện đến xã có 116/396 cán bộ, chiếm 29,29%. Trong đó cán bộ có trình
độ cấp III có 116 đồng chí; về chuyên môn: đại học có 40 đồng chí, cao đẳng có 01
và trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ có 74 đồng chí, chưa qua đào tạo 01 đồng chí.
Lý luận chính trị: cao cấp 10 đồng chí, trung cấp 56 đồng chí và Sơ cấp 29 đồng chí;
phương, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở buôn làng, lôi kéo bà con buôn làng
xa dần bản sắc văn hóa tốt đẹp truyền thống của mình.
Có thể khẳng định, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đồng bào các dân tộc
thiểu số là một trong những vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
và coi đó là nội dung quan trọng thực hiện chính sách dân tộc. Tăng cường công tác
lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân
tộc thiểu số ở Sông Hinh là góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng trong việc
xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Huyện Sông Hinh có 19 dân tộc thiểu số cùng sinh sống, mỗi dân tộc có một
sắc thái khác nhau, nhưng luôn hòa quyện tạo lên cộng đồng văn hóa đặc sắc của
huyện miền núi Sông Hinh. Tuy nhiên, đời sống kinh tế- xã hội của đồng bào các dân
tộc thiểu số huyện Sông Hinh vẫn còn nhiều khó khăn, nhiều di sản văn hóa đang có
nguy cơ mai một, khó phục hồi. Vì vậy, nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát
huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh là góp phần xây dựng
nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, đẩy lùi các hủ tục lạc hậu, mê tín dị
đoan, củng cố tinh thần đoàn kết, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần
thúc đẩy xã hội phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
2.2. Công tác bảo tồn di sản văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số trên địa
bàn huyện Sông Hinh giai đoạn 2009-2014.
2.2.1. Kết quả khảo sát di sản văn hóa các dân tộc thiểu số địa bàn huyện
Sông Hinh hiện nay.
Văn hóa vật thể
- Di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh: 09 di tích.
+ Di tích lịch sử văn hóa có 02 di tích: Miếu Tuy Bình, Mộ Ông thuộc
thôn An Hòa, xã Đức Bình Tây.
+ Di tích lịch sử cách mạng có 01 di tích: Đồn Tuy Bình xã Đức Bình
Tây.
+ Di tích lịch sử chiến tranh có 01 di tích: Lô cốt ngụy quyền thuộc thôn
Đồng Phú, xã Đức Bình Tây.
- Đã tiến hành đồng bộ thực hiện các cuộc khảo sát, thống kê về bảo tồn văn
hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn huyện.
- Tổ chức 01 lớp tập huấn về công tác điều tra, công tác quản lý di sản văn hóa
cho cán bộ làm công tác văn hóa và Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân phụ trách công tác
văn hóa ở 11/11 xã, thị trấn.
- Tổ chức 01 lớp truyền dạy đánh cồng chiêng, aráp từ các nghệ nhân cho các
thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức được 5 lần liên hoan văn hóa
cồng chiêng tại huyện.
- Tổ chức sưu tầm, bảo tồn, lưu giữ được một số di sản, cụ thể:
Về di sản văn hóa vật thể:
+ Nhạc cụ:
Bộ A rap đầy đủ 27 món: A Na Chinh: 03 cái; Pơ Chinh: 02 cái; P Bhă
Chinh: 06 cái; Đai Chinh: 14 cái; 01 Trống nhỏ; 01 xập xèng.
01 bộ Cồng một chinh năm (06 cái); 01 bộ Cồng ba chinh năm (08 cái).
Trống đại: 01 cái; trống đôi: 02 cái; Đàn gonl 12 dây: 01 cây; Đàn Kní:
01 cây; Đinh guh: 01 cây; Đinh năm: 01 cây.
+ Đồ dùng sinh hoạt của người Ê đê: 03 cái bầu đựng nước uống của người Ê
đê; 02 ché rượu cần;
+ Công cụ lao động: Trất sẩy gạo: 02 cái; Cối giã gạo: 01 cái; Gùi lớn: 01 cái;
Gùi nhỏ: 01 cái; Nỏ: 01 cái.
+ Trang phục (Ê Đê): Áo nữ: 01 chiếc; Váy: 01 chiếc; Mũ: 01 cái; Áo nam: 01
chiếc; Quần nam: 01 chiếc.
Về văn hóa phi vật thể
+ Phối hợp phục dựng lễ hội đâm trâu của người Ê đê M’dhur.
+ Tổ chức liên hoan dân ca nhạc cụ dân tộc huyện Sông Hinh năm 2011.
+ Đã thu âm 03 trường ca và 09 truyện cổ tích; được ghi thành 20 đĩa CD
(chuẩn bị thành lập hội đồng nghiệm thu), gồm:
Trường ca: Ka Đăm Di chặt đọt mây; Sing Ngã lạc rừng; Ka Đăm Dang
thuyền, bắn nỏ, đi cà kheo, kéo co, đẩy gậy, hát sử thi. Tổ chức lễ hội xoay cột con
trâu, một lễ hội có qui mô lớn nhất của đồng bào dân tộc thiểu số”[9]. Đồng thời
khẳng định “đây là hình thức bảo tồn và phát huy giá trị độc đáo của đồng bào mà
còn là sân chơi lành mạnh, bổ ích, giúp cho các dân tộc anh em sống trên địa bàn có
điều kiện giao lưu, học hỏi, thắt chặt tình đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau”[10]
Kể từ đó đến nay, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đồng bào
dân tộc luôn được đề cập và nêu rõ trong các kỳ đại hội của Đảng bộ huyện Sông
Hinh. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng bộ huyện, ngày 26 tháng 7 năm 2006, Hội
đồng nhân dân huyện Sông Hinh khóa VI đã ra nghị quyết về việc “Tiếp tục thực hiện
các biện pháp nhằm phát triển và bảo tồn giá trị văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số”,
trên cơ sở đó, đến kỳ họp thứ IX, Hội đồng nhân dân huyện khóa VI đã phê chuẩn Đề
án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh
và chính thức tiển khai từ tháng 01/2007. Để án được triển khai rộng khắp, nhận thức
của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày một nâng lên với công tác bảo tồn, phát huy
di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trong huyện.
- Bên cạnh đó, các cơ quan, ban ngành, các hội đoàn thể từ huyện đến cơ sở
từng bước có sự phối hợp thực hiện công tác bảo tồn, nhiều di sản văn hóa các dân
tộc thiểu số được sưu tầm, gìn giữ, phục dựng, qua đó phổ biến giáo dục rộng rãi cho
nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận rõ về giá trị di sản văn hóa của dân tộc.
- Việc tổ chức các lớp tập huấn, các lớp truyền dạy kinh nghiệm đã tạo điều
kiện cho thế hệ trẻ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm quí báu từ các nghệ nhân vốn đã
lớn tuổi; đồng thời qua đó nhận thức trong đội ngũ cán bộ đảng viên, và nhân dân về
văn hóa và bảo tồn di sản văn hóa được nâng lên.
- Việc thực hiện Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào
các dân tộc thiểu số huyện Sông Hinh đã tạo được sự chuyển biến về mặt nhận thức
trong cán bộ, Đảng viên và nhân dân về công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản
văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc thiểu số, và đây được coi là
một nhiệm vụ quan trọng trong suốt quá trình chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế xã hội của chính quyền từ huyện đến cơ sở.
hiện nay hầu như chưa chú ý thích đáng đến vấn đề văn hóa, chưa gắn chặt chẽ thành
bộ phận hữu cơ giữa văn hóa với các chương trình phát triển Kinh tế- Xã hội. Thiếu
sự đầu tư thích đáng cho công tác bảo tồn văn hóa. Đơn giản như Đề án bảo tồn, phát
huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số thực hiện từ năm 2009 đến nay mới chỉ đầu tư
được trên 170 triệu đồng, bằng 4/10 so với yêu cầu đề án.
- Tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước vẫn còn tồn tại nặng nề ở một bộ phận
cán bộ và nhân dân, làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự năng động sáng tạo trong xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và ý thức tự giác giữ gìn bản sắc văn hoá của
các dân tộc. Công tác xã hội hoá văn hoá nói chung và trong lĩnh vực bảo tồn nói
riêng, nhất là bảo tồn văn hoá phi vật thể còn gặp nhiều khó khăn.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá vùng dân tộc thiểu số tuy đã được hình
thành nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu cần thiết. Hoạt động thiết chế văn hóa vùng
đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật tổ chức
không được thường xuyên, còn sơ sài. Cơ sở vật chất, sản phẩm, phương tiện văn hóa
phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc ít người còn thiếu và lạc hậu... đã ảnh hưởng lớn đến việc bảo tồn văn hóa
dân tộc trên địa bàn, nhất là các giá trị văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa
đồng bào dân tộc thiểu số.
- Một số phong tục tập quán lạc hậu chưa được đẩy lùi, ví dụ như: người ở
buôn khác chết không cho khiêng qua buôn mình; tục nhậm nước để giải quyết mâu
thuẫn giữa hai người, hai gia đình hoặc hai dòng họ; nếp sinh hoạt ăn ở, vệ sinh môi
trường, phòng chống dịch bệnh còn yếu kém, hầu hết các hộ gia đình người dân tộc
thiểu số chưa có nhà xí hợp vệ sinh.
Một số lễ hội rườm rà, kéo dài, hao tiền tốn của và có biểu hiện pha tạp. Ví như
Lễ mừng tuổi của người Ê Đê, một đời người ít nhất phải qua 07 lần cúng mới coi là
trưởng thành, trong đó lễ lớn nhất là Lễ cúng Ché bảy, gia chủ cần có ít nhất một con
heo to, từ một đến ba con bò và mời dân làng ăn uống ba ngày, ba đêm. Nhiều người
đến nay đã già mà vẫn chưa được cúng Ché bảy, chưa được công nhận đã trưởng
- Công tác kiểm tra, giám sát còn lỏng lẻo, chưa thực hiện tốt Luật di sản văn
hóa
- Chế độ ngộ với người làm công tác văn hóa thấp, chưa tương xứng với yêu
cầu nhiệm vụ đề ra, khiến đội ngũ cán bộ văn hóa ở cơ sở không ổn định, thường
xuyên thay đổi. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được
quan tâm đúng mức, chất lượng cán bộ có nâng lên nhưng chưa xứng tầm với yêu cầu
thực tế.
- Vai trò của lực lượng cốt cán, già làng, trưởng thôn, buôn, người có uy tín,
các nghệ nhân chưa được phát huy đúng mức.
- Chính sách hỗ trợ của nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời
- Về khách quan do những bất cập, vướng mắc trong cơ chế nên việc thực hiện
chính sách dân tộc, trong dó có chính sách văn hóa, chưa kịp thời, đồng bộ, đời sống
kinh tế một bộ phận nhân dân vùng dân tộc còn khó khăn; Nguồn ngân sách huyện
hạn hẹp, chủ yếu nhờ cấp trên cấp về, gây khó khăn trong công tác đầu tư cho bảo tồn
văn hóa; Tình hình thời tiết diễn biến bất thường, giá cả các mặt hàng nông sản không
ổn định, chi phí sản xuất nông nghiệp ngày càng cao, ảnh hưởng không nhỏ đến sản
xuất, đời sống của nhân dân; Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn rộng
lớn, địa hình phức tạp, khó khăn cho việc tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước, nhất là trong lĩnh vực bảo tồn văn hóa; Các thế lực thù
địch vẫn luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số với âm mưu “diến biến hòa bình” trên mặt trận văn hóa.
Tóm lại, trong những năm qua, dưới sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền
huyện Sông Hinh, công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trên
địa bàn huyện Sông Hinh đã có khởi sắc, nhiếu nét văn hóa đặc sắc được bảo tồn, ý
thức của người dân về di sản văn hóa đã được nâng lên. Tuy nhiên thực tế cho thấy
vẫn tồn tại khá nhiều hạn chế bởi những nguyên nhân khách quan, chủ quan tác động
đang làm mai một những giá trị di sản quí giá của các dân tộc. Sẽ khó tái tạo, phục
hồi nếu không có sự vào cuộc quyết liệt với những giải pháp cụ thể của toàn hệ thống
dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế, xã hội, làm cho văn
hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”[13]
Từ những quan điểm trên, phương hướng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Sông Hinh trong thời gian tới như sau:
3.1.1. Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc
thiểu số ở Sông Hinh trước hết phải nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng một nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Văn hóa Việt Nam là nền văn
hóa thống nhất, chứa đựng những giá trị văn hóa chung cho tất cả 54 dân tộc trên
lãnh thổ Việt Nam, bản sắc của bất kỳ một dân tộc nào cũng được tôn trọng, giữ gìn,
phát huy.