Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2014 tại Thành phố Uông Bí – Tỉnh Quảng Ninh - Pdf 34

MỤC LỤC


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển dân
sinh, kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh. Vai trò của đất đối với con người và các
hoạt động sống trên trái đất rất quan trọng, nhưng lại giới hạn về diện tích và cố định về
vị trí. Do vậy việc sử dụng đất phải hết sức tiết kiệm và hợp lý trên cơ sở hiệu quả, lâu
bền.
Công tác lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là một yêu cầu đặc biệt để sắp
xếp quỹ đất cho các lĩnh vực và đối tượng sử dụng hợp lý, có hiệu quả phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, tránh được sự chồng chéo, gây
lãng phí trong sử dụng, hạn chế sự huỷ hoại đất đai, phá vỡ môi trường sinh thái. Đây
là một nội dung quan trọng để quản lý Nhà nước về đất đai, được thể chế hóa trong
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Nhà nước thống
nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả”. Luật đất đai năm 2003 quy định: “quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” là 1
trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất được quy định từ Điều 21 đến Điều 30 của Luật đất đai và được cụ thể hóa tại Nghị
định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ (từ Điều 12 đến Điều 29),
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ, Thông tư số
19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế của Uông Bí đang trong giai đoạn phát triển
mạnh mẽ trên tất cả các mặt. Bên cạnh đó, Uông Bí lại là địa bàn chịu sự chi phối, tác
động thu hút và phát triển của tam giác kinh tế trọng điểm là Hà Nội - Quảng Ninh Hải Phòng; mức độ đầu tư trong mọi lĩnh vực đều tăng lên, nhất là các lĩnh vực như:
du lịch, thương mại, công nghiệp, khai khoáng, xây dựng phát triển đô thị,... Điều này
dẫn đến sự gia tăng về nhu cầu sử dụng đất cho các lĩnh vực. Bên cạnh những tác động

phố Uông Bí.


3

2.2. Yêu cầu
- Nắm vững phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 của
Thành phố Uông Bí.
- Đánh giá chính xác thực trạng sử dụng các loại đất về số lượng, chất
lượng, phân bố loại hình sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất, xu thế biến động
các loại đất, mức độ đáp ứng nhu cầu đất đai cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Thành phố Uông Bí.
- Giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của phương án QHSDĐ
Thành phố Uông Bí phải mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa
phương.


4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm đất đai
Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đất đai là điều
kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới. Đất đai là khởi điểm
tiếp xúc và sử dụng tự nhiên ngay sau khi nhân loại xuất hiện. Trong quá trình
phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn
minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hóa
khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai. Luật đất
đai hiện hành đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất

gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt
đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm
tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn
động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người
trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu
thoát nước, đường sá, nhà cửa...)” (Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de
Janerio, Brazil, 1993). Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn
theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt,
thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong
lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa
hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý
nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài
người.
2.2. Khái niệm Quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là tiềm năng của quá trình phát triển do đất là tư liệu sản xuất đặc
biệt và việc tổ chức sử dụng đất gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế - xã


6

hội. Do vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội. Đây
là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ
thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế và xã hội được xử lý bằng các phương
pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhà nước nhằm đáp
ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm
khoa học và có hiệu quả cao nhất. Khi nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất
có rất nhiều cách nhận thức khác nhau. Có quan điểm cho rằng quy hoạch sử
dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc đo đạc, vẽ
bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành và thiết kế xây

và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả
nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản
xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều
kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc lập quy hoạch sử dụng đất có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài. Căn cứ
vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm
định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử
dụng đất chi tiết của mình, từ đó xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công
tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để giao đất và đầu tư để phát triển
sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ các nhu cầu dân sinh, nhu
cầu văn hóa xã hội. Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu
hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích,
hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh trình trạng chuyển mục đích
tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp. Ngăn chặn các
hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh
thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất,


8

phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh
quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển dần sang
nền kinh tế thị trường.
2.3. Tình hình thực hiện Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Sau khi công bố Luật Đất đại 1987, công tác quy hoạch sử dụng đất bắt
đầu được vận hành một cách chính thức theo những tinh thần đã nêu ra trên
đây, và đến nay, qua hơn 20 năm vận hành, nhìn lại một cách tổng quát có thể
đi đến mấy nhận xét chủ yếu sau:

mức Quốc Hội đã phê duyệt. Đất phi nông nghiệp Quốc Hội duyệt cho đến
năm 2010 là 4,02 triệu ha, ước thực hiện được 3,64 triệu ha (đạt 90,06%),
trong đó đất khu công nghiệp đạt 96,2%, đất giao thông đạt 71,7%, đất thủy
lợi đạt 66,7%, đất cơ sở y tế đạt 50,0%, đất cơ sở giáo dục đào tạo đạt 93,3%
chỉ tiêu kế hoạch mà Quốc Hội đã phê duyệt...
- Quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch cũng là dịp sinh hoạt dân chủ ở
cơ sở, nhờ đó mà công dân tham gia cụ thể vào sự nghiệp chung có ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích thiết thân của mình, trật tự xã hội được đảm bảo,
củng cố lòng tin của nhân dân vào chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho
nhiệm vụ xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh.
- Những tồn tại chủ yếu trong công tác quy hoạch sử dụng đất là: - Nhận
thức chưa đồng đều, độ đồng thuận chưa cao, còn có ý kiến cho rằng không
có khái niệm về quy hoạch sử dụng đất mà chỉ có khái niệm về quy hoạch
kiến trúc, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn.v.v...
do đó, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đơn vị còn bị hạn chế, thiếu
đồng bộ và có trường hợp ảnh hưởng xấu đến chất lượng quy hoạch, chưa
thực chất, còn thiên về hình thức và chạy theo các thủ tục hành chính, tiến
hành thống kê, phân bố về số lượng mà thiếu những tính toán về hiệu quả
kinh tế - xã hội - môi trường... nên tính khả thi của các phương án quy hoạch


10

không cao; các giải pháp tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, không kịp thời;
công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch chưa được coi
trọng. - Quy hoạch sử dụng đất chưa thực sự được coi là cơ sở pháp lý quan
trọng trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử
dụng đất... Nhiều địa phương do buông lỏng quản lý đã để tự phát chuyển
mục đích sử dụng đất tạo ra tình hình rối loạn trong sử dụng đất và tác động
xấu đến môi trường. Một số nơi nôn nóng trong phát triển công nghiệp, muốn

khăn.
- Đất giao thông còn thiếu so với nhu cầu phát triển, mật độ đường bộ
đạt mức trung bình trong khu vực nhưng mật độ quốc lộ còn ở mức rất thấp
(0,053km/km2 ) nếu so sánh với Trung Quốc (0,2 km/km2 ) hay Thái Lan
(0,11 km/km2 ). Việc bố trí các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh,
khu dân cư bám sát các trục đường chính đã ảnh hưởng đến an toàn giao
thông, gây lãng phí trong đầu tư và hạn chế khả năng nâng cấp, mở rộng.
- Diện tích cho phát triển đô thị tăng nhanh, cơ cấu sử dụng đất chưa hợp
lý: đất ở chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu là nhà ở theo hộ gia đình độc lập (Hà Nội
80%, thành phố Hồ Chí Minh 72%), đất giao thông đô thị còn thiếu, chỉ
khoảng 4 – 5 km/km2 (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà
Nẵng...), tỷ lệ đất dành cho giao thông chưa đến 13% trong khi yêu cầu trung
bình là 20 - 25%, đất giao thông tĩnh chỉ đạt chưa đầy 1% trong khi yêu cầu
phải là 3 - 3,5%, hệ số sử dụng đất thấp, chủ yếu là đường 1 tầng.
- Diện tích đất công nghiệp tuy tăng nhanh (bình quân tăng 7.000
ha/năm) nhưng việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải,
thiếu sự thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ
với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kinh tế - xã hội. Nhiều
khu, cụm công nghiệp không phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế dẫn
đến tình trạng triển khai chậm tiến độ, tỷ lệ lấp đầy thấp, để hoang hóa trong
nhiều năm.


12

- Các lại đất công trình hạ tầng xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục, thể
dục thể thao tuy luôn được bố trí tăng cường về diện tích đất, nhưng so với
nhu cầu vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ.
- Phần lớn đất bãi thải và xử lý chất thải là lộ thiên hoặc đổ tự nhiên tại
các bãi rác tạm, hầu hết các khu vực nông thôn chưa có quy hoạch khu vực

Uông Bí có 2/3 diện tích là đất đồi núi dốc nghiêng từ phía Bắc xuống phía
Nam và được phân tách thành 3 vùng: vùng cao, vùng thung lũng, vùng thấp.


14

2.1.1.3. Khí hậu
Do vị trí địa lý và địa hình nằm trong cánh cung Đông Triều - Móng Cái,
có nhiều dãy núi cao ở phía Bắc và thấp dần xuống phía Nam đã tạo cho
Uông Bí một chế độ khí hậu đa dạng, phức tạp vừa mang tính chất khí hậu
miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyęn hải.
Dăy núi Běnh Hương với độ cao 384 - 358 m nằm giữa vùng núi Yên Tử
và núi Bảo Đài đã tạo nên dải thung lũng dài, hẹp và vùng đất thấp làm cho
khí hậu Uông Bí phân thành nhiều tiểu vùng khác nhau: vùng núi cao phía
Bắc đường Lán Tháp - Năm Mẫu có khí hậu miền núi lạnh và mưa vừa; vùng
núi cao dọc đường Lán Tháp - Năm Mẫu có khí hậu thung lũng, ít mưa, mùa
hè nóng, mùa đông lạnh; vùng núi nằm giữa phía Nam đường Lán Tháp Năm Mẫu và phía Bắc đường 18A kéo dài đến hạ lưu sông Đá Bạc có tích
chất khí hậu miền duyên hải.
a. Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 22,20C. Mùa hè nhiệt độ trung
bình 22 - 300C, cao nhất 34 - 360C. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17 - 20 0C,
thấp nhất 10 - 120C. Số giờ nắng trung bình mùa hè 6 - 7 giờ/ngày, mùa đông
3 - 4 giờ/ngày, trung bình số ngày nắng trong tháng là 24 ngày.
b. Chế độ mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.600 mm, cao nhất là
2.200 mm, thấp nhất 1.200 mm. Mưa thường tập trung vào các tháng 6,7,8
chiếm tới 60% lượng mưa cả năm. Đặc biệt tháng 7 có lượng mưa lớn nhất
346,3 mm; tháng 11 có lượng mưa nhỏ nhất 29,2 mm. Lượng mưa trung bình
các tháng trong năm là 133,3 mm. Số ngày có mưa trung bình năm là 153 ngày.
Với chế độ mưa tập trung và phân hoá theo mùa, cùng với các tác nhân
khác (hoạt động công nghiệp, chặt phá rừng...) đã chi phối mạnh nền sản xuất
nông nghiệp của Thành phố cũng như ảnh hưởng rõ rệt đến môi trường và đời

vật tư, hàng hóa đi Hải Dương, Hải Phòng và ngược lại.
Ngoài sông Đá Bạc, Thành phố còn có các con sông khác như Vàng


16

Danh, sông Uông và sông Sinh. Sông Vàng Danh là thượng nguồn của sông
Uông, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho Uông Bí. Sông Sinh bắt nguồn từ
vùng núi phía tây bắc Uông Bí chảy qua trung tâm Thành phố (giữa phường
Yên Thanh và phường Quang Trung), cắt trục đường 18A với chiều dài 15
km, sông này có khả năng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp. Các sông
đều xuất phát từ các dãy núi cao chảy qua Thành phố và đổ vào sông Đá Bạc.
Uông Bí với địa hình phức tạp, phần lớn diện tích đất rừng là rừng
thưa, độ che phủ thấp nên trong mùa mưa, lượng mưa lớn với năng lượng hạt
mưa ít bị cản lại dẫn tới dòng nước sông suối chảy xiết, dòng chảy tập trung,
gây úng lụt ở vùng phía Nam Thành phố.
Ngoài hệ thống sông suối, Uông Bí còn có hệ thống hồ ao, đáng chú ý là
hồ Yên Trung rộng 50 ha, hồ Tân Lập 16 ha. có khả năng cung cấp nước cho
sản xuất, và có thể tổ chức thành những điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho
khách du lịch. Tuy nhiên khả năng cung cấp nước của các hồ này cũng rất hạn
chế về mùa khô.
2.1.2. Các nguồn tài nguyên
2.1.2.1. Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê đất đai 01/01/ 2014 cho thấy tổng diện tích tự
nhiên của Thành phố Uông Bí là 25.630,77 ha.
Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng của Viện Quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp xây dựng năm 2003, tài nguyên đất của Thành phố được chia thành 7
nhóm, 8 đơn vị đất và 11 đơn vị đất phụ.
2.1.2.2. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của Thành phố Uông Bí có từ các nguồn nước mặt,

cho khai thác than khoảng trên 600 ha. Trữ lượng của vùng than Đông Triều Mạo Khê - Uông Bí đạt 1,4 tỷ tấn, chiếm 40% trữ lượng than trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh (3,5 tỷ tấn). Công nghiệp khai thác than ở Uông Bí đã được thực
hiện từ năm 1916. Sản lượng khai thác than trên vùng Yên Tử, Vàng Danh


18

đạt hơn 3,85 triệu tấn/năm. Đây là ngành công nghiệp chủ đạo đóng góp rất
lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Ngoài than đá, Uông Bí còn có khả năng khai thác và sản xuất vật liệu
xây dựng (đá, cát, sỏi, xi măng, vôi, gạch, ngói ở các xã, phường như Phương
Nam, Thượng Yên Công, Quang Trung, Vàng Danh, Bắc Sơn...) cung cấp
nhu cầu về vật liệu xây dựng cho địa bàn Thành phố và các vùng lân cận.
2.1.2.5. Tài nguyên nhân văn
Người Uông Bí vốn là dân cư của bộ lạc Ninh Hải đã cùng các bộ lạc
khác khai sơn phá thạch dựng nên nước Văn Lang của các vua Hùng. Dưới
triều đại nhà Trần, Uông Bí với Yên Tử là cái nôi của Phật giáo Việt Nam
dòng Thiền phái Trúc Lâm. Từ xa xưa, người dân Uông Bí đã có nghề tiểu
thủ công mỹ nghệ khá tinh xảo.
Chùa Yên Tử được xây dựng vào cuối thế kỷ XI.
Ngày nay Thành phố có nhiều dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Kinh,
Tày, Hoa, Sán Dìu, Nùng, Dao, Thanh Y, Mường, Thổ. Trong đó dân tộc
Kinh chiếm trên 90%. Nhân dân Uông Bí có truyền thống cùng nhau đoàn kết
đấu tranh bảo vệ quê hương.
Với truyền thống lịch sử, nguồn nhân lực dồi dào, đội ngũ công nhân
được đào tạo có trí, đức và kinh nghiệm sản xuất, có tính cần cù, chịu khó và
những tiềm năng sẵn có, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Quảng Ninh, Thành ủy, Uỷ ban nhân dân Thành phố, Uông Bí sẽ trở thành
một Thành phố có nền kinh tế - văn hoá -xã hội phát triển xứng đáng là một
trong những địa bàn chiến lược của tỉnh Quảng Ninh.

1.465 USD/người/năm. Các ngành kinh tế trọng điểm như: Công nghiệp (khai thác
than và vật liệu xây dựng, nhiệt điện, xi măng, cơ khí chế tạo thiết bị nâng hạ); dịch vụ,
thương mại, du lịch có bước phát triển nhanh cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực I (nông, lâm, ngư
nghiệp) giảm dần; tỷ trọng khu vực II, III (công nghiệp, xây dựng - dịch vụ, du lịch,


20

thương mại) tăng nhanh và ngày càng giữ vai trò chủ đạo. Đến năm 2014, tỷ trọng các
ngành trong cơ cấu kinh tế cơ bản có sự chuyển dịch hợp lý: Công nghiệp, xây dựng
chiếm 77,00%; du lịch, dịch vụ, thương mại chiếm 20,72%; nông, lâm, thủy sản chiếm
2,28%.
2.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
2.2.2.1. Khu vực kinh tế nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp trong những năm qua tuy gặp nhiều khó khăn do thiên tai,
dịch bệnh, nhưng vẫn giữ ổn định và có bước phát triển mới. Giá trị sản xuất nông
nghiệp tăng bình quân 8,93%/năm.
Tích cực chuyển dịch cơ cấu giống, mùa vụ, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất nhằm nâng cao năng suất, sản lượng trên một đơn vị diện tích; tuy diện tích
gieo trồng và sản lượng có giảm do tiến trình công nghiệp hoá, đô thị hoá; song, giá trị
sản lượng nông nghiệp/đơn vị diện tích đất canh tác năm sau vẫn cao hơn năm trước.
Triển khai một số mô hình sản xuất nông sản tập trung bước đầu mang lại hiệu
quả, tạo ra sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao trên thị trường. Chăn nuôi gia súc, gia
cầm tuy gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh và rét hại kéo dài nên có thời gian số lượng
đàn gia súc, gia cầm phát triển chậm; song số đàn gia súc, gia cầm vẫn tăng; quy mô cơ
cấu chăn nuôi đã có chuyển đổi tích cực, một số mô hình chăn nuôi công nghiệp và
chăn nuôi động vật có giá trị kinh tế cao được hình thành, phát triển nhân rộng. Công
tác phòng chống dịch bệnh thường xuyên được quan tâm nên đã kịp thời khống chế,
không để lây lan ra diện rộng.

2.2.2.3. Khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ, du lịch
Các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch trong những năm qua phát triển khá đa
dạng, đạt mức tăng trưởng cao, đáp ứng yêu cầu về sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng
trong nhân dân. Trong những năm qua giá trị kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch
tăng bình quân 18,50%/năm, mức lưu chuyển hàng hoá tăng bình quân 15%/năm.
Hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển tương đối đồng đều ở cả 3 khu vực:
trung tâm đô thị, nông thôn, miền núi. Công tác xã hội hoá đầu tư, nâng cấp và quản lý


22

hệ thống các chợ có bước phát triển mới. Hàng năm Thành phố thường xuyên duy trì
tổ chức hội chợ thương mại quốc tế Uông Bí.
Hoạt động dịch vụ vận tải hàng hoá và vận chuyển hành khách được đầu tư mở
rộng và phát triển đa dạng dưới nhiều hình thức. Dịch vụ bưu chính, viễn thông phát
triển nhanh với tốc độ tăng bình quân 42,9%/năm. Hệ thống dich vụ tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm phát triển nhanh về số lượng mạng lưới, đa dạng hoá về loại hình và
tiện ích.
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Thành phố, phát triển du lịch khu di tích
và danh thắng Yên Tử là một trọng điểm. Ngoài ra các khu du lịch khác (Khu du lịch
sinh thái Lựng Xanh, hồ Yên Trung, chùa Hang Son, chùa Ba Vàng, đình Điền Công)
cũng đang được đầu tư, nâng cấp.
2.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
2.2.3.1. Dân số và phân bố dân cư
Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số Uông Bí là 105.755 nhân khẩu,
trong đó 74.678 khẩu thành thị (chiếm 70,61%) và 31.077 khẩu nông thôn
(chiếm 29,39%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,37%; tỷ lệ tăng dân số cơ học
là 0,31%; mật độ dân số bình quân 413 người/km 2. Dân cư của Thành phố
phân bố không đồng đều giữa các vùng, mật độ dân số cao nhất là khu trung
tâm Thành phố lên tới 1.400 người/km2, thấp nhất là xã Thượng Yên Công 75

người dân tăng trung bình 15%/năm, đạt 1.465 USD/người/năm. Ngày càng
có nhiều hộ khá, giàu, đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 14,96% năm
2000 xuống còn 5,61% năm 2010 và 2,42% năm 2014 (số hộ cận nghèo là
1,44%). Các tiện nghi sinh hoạt của đại bộ phận dân cư được cải thiện đáng
kể, tuy nhiên sự chênh lệch về thu nhập và chi tiêu giữa các địa phương cũng
như khu vực thành thị và nông thôn trong Thành phố còn khá lớn. Tỷ lệ số hộ
được sử dụng điện là 100%; số người sử dụng nước sạch là 85% trong tổng số
dân.
2.2.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn


24

2.2.4.1. Thực trạng phát triển đô thị
Hệ thống đô thị của Uông Bí năm 2010 gồm 7 phường với tổng diện tích
đất đô thị là 13.053,20 ha (chiếm 50.93% diện tích tự nhiên), dân số đô thị
74.678 khẩu thành thị (chiếm 70,61% dân số toàn Thành phố), bình quân đất
đô thị là 1.748 m2/người dân đô thị. Khu vực trung tâm Thành phố mật độ dân
số đạt tới 1.400 người/km2.
Đô thị của Uông Bí phát triển tập trung dọc theo tuyến quốc lộ 18, tập
trung hơn tại khu vực tiếp giáp giữa phường Thanh Sơn, Yên Thanh và
Quang Trung. Đây là khu vực trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội
và cũng là địa bàn xây dựng trụ sở khối cơ quan các Phòng, Ban ngành của
Thành phố.
- Các cơ sở công nghiệp - dịch vụ đang trong giai đoạn phát triển, các
công trình văn hoá, phúc lợi công cộng đang dần được đầu tư xây dựng nâng
cấp và hoàn thiện.
- Hệ thống cấp nước tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm của Thành
phố nhưng cũng chỉ đáp ứng cho khoảng 85% dân số đô thị tại các khu vực
này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status