Giao kết hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành một số vấn đề lí luận và thực tiễn - Pdf 34

A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong các quan hệ xã hội, việc giao kết hợp đồng dân sự (HĐDS)
diễn ra rất phổ biến. Việc giao kết hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp
luật sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên với nhau được pháp luật
bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để các bên thực hiện HĐDS, hạn chế vi phạm và là
cơ sở để giải quyết một cách nhanh chóng và chính xác khi có tranh chấp xảy ra.
Hiện nay, việc giao kết HĐDS được điều chỉnh chung bởi các quy định của
BLDS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 (BLDS 2005). Các quy
định trong bộ luật đã phát huy tác dụng tích cực trong thực tế, giúp các bên xác lập
các quyền, nghĩa vụ dân sự với nhau một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, một
số quy định về giao kết hợp đồng vẫn còn những bất cập, gây khó khăn trong quá
trình thực hiện giao kết hợp đồng và khi giải quyết tranh chấp phát sinh. Để phân
tích, làm rõ những quy định của BLDS 2005 về giao kết HĐDS, trên cơ sở đó, tìm
ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và định hướng một số giải pháp,
dưới đây em xin nghiên cứu về đề tài: “Giao kết hợp đồng dân sự theo quy định
của pháp luật hiện hành- Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”.
B. NỘI DUNG
I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HĐDS.
I.1. Khái quát chung về HĐDS.
Các vấn đề cơ bản về HĐDS được điều chỉnh bởi các quy phạm trong

BLDS 2005. Điều 388 BLDS 2005 đưa ra khái niệm về HĐDS như sau: “Hợp
đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập thay đổi hoặc chấm dứt
quyền và nghĩa vụ dân sự”. Khái niệm này nhìn chung giống như khái niệm được
quy định tại Điều 394 BLDS 1995. HĐDS là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm
đạt được mục đích nhất định nên hành vi này mang tính ý chí của chủ thể tham gia
hợp đồng với những mục đích nhất định. HĐDS là hình thức pháp lý quan trọng và
phổ biến nhất thể hiện bản chất của giao dịch dân sự liên quan đến tài sản; bản chất
1

giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp
luật quy định thừa nhận nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự với nhau” (8,
trang 9)

2


Kết quả cuối cùng của quá trình giao kết HĐDS nói chung đều là thể hiện
sự thỏa thuận, thống nhất ý chí để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Như vậy, bản chất của giao
kết HĐDS là quá trình bày tỏ ý chí của các bên chủ thể tham gia hoạt động nhằm
thỏa thuận, thống nhất hình thức và nội dung của hợp đồng.
1.3 Các nguyên tắc giao kết HĐDS.
Tiếp nối hững quy định của các văn bản pháp luật trước về nguyên tắc giao
kết HĐDS như: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh HĐDS 1991, BLDS
1995…, trong BLDS 2005, tại Điều 389 có quy định về nguyên tắc giao kết HĐDS:
“Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.”
Việc quy định rõ các nguyên tắc giao kết HĐDS có ý nghĩa rất quan trọng
trong. Nó tạo cơ sở pháp lí trong suốt quá trình giao kết hợp đồng của các chủ thể
và là một cơ sở để xác định HĐDS vô hiệu.
II.

TRÌNH TỰ GIAO KẾT HĐDS THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH.
II.1. Đề nghị giao kết HĐDS
Để thỏa thuận và đi đến thống nhất ý chí giữa các bên trong một HĐDS cụ

thể, về lẽ tự nhiên, đòi hỏi phải có quá trình một bên bày tỏ ý chí của mình hay còn

4, Đề nghị giao kết hợp đồng có thể xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề
nghị có thể được xác định rõ trong nội dung đề nghị giao kết HĐDS. Điều này sẽ
tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của chấp nhận đề
nghị giao kết cũng như trách nhiệm của các bên trong quá trình giao kết HĐDS.
BLDS 2005, khoản 2 Điều 390 có quy định về đề nghị giao kết có nêu rõ
thời hạn trả lời và như vậy cũng thừa nhận trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng
không nêu rõ thời hạn trả lời. Tuy nhiên, Bộ luật lại không quy định bắt buộc phải
nêu rõ thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị đồng thời cũng không quy định về cách
thức xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong trường
hợp để nghị đó không nêu rõ thời hạn trả lời chấp nhận. Có thể nói đây là một thiếu
sót của luật.
4


Vấn đề quan trọng khác cần phải bàn đến đó là việc xác định thời điểm đề
nghị giao kết HĐDS có hiệu lực. Đây là thời điểm bắt đầu phát sinh sự ràng buộc
cũng như trách nhiệm các bên liên quan trong quá trình giao kết HĐDS. Điều 391
BLDS 2005 quy định về vấn đề này :
“1. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể
từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.
2. Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được
chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các
phương thức khác.”
Trong đề nghị giao kết HĐDS thì vấn đề thay đổi, rút lại, sửa đổi hay hủy
bỏ đề nghị giao kết HĐDS cũng là một vấn đề thường thấy. BLDS 2005 có quy

mất năng lực hành vi dân sự, mất tư cách pháp nhân trước thời điểm thời điểm bên
được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị hoặc đối tượng của HĐDS dự kiến được
giao kết không còn tồn tại do nguyên nhân bất khả kháng.
II.2. Chấp nhận đề nghị giao kết HĐDS.
Cùng với đề nghị giao kết hợp đồng thì chấp nhận giao kết HĐDS là một
trong hai yếu tố không thể thiếu để hình thành quan hệ HĐDS. Pháp luật Việt Nam
hiện hành quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên
được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.”
( Điều 396 BLDS 2005). BLDS 2005 không quy định về hình thức chấp nhận đề
nghị giao kết. Chấp nhận đề nghị giao kết cũng có rất nhiều hình thức tương tự như
đề nghị giao kết miễn là có thể biểu lộ được ý chí của mình để bên đề nghị hiểu
được về việc đồng ý với toàn bộ nội dung được nêu trong đề nghị giao kết của bên
đề nghị giao kết HĐDS. Trong khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 có quy định: “Hợp
đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được
đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.
6


Tuy nhiên, việc quy định như vậy cũng có bất cập khi mà sự “im lặng” đó có thể do
bên được đề nghị chưa được biết thông tin là có đề nghị giao kết hợp đồng. Một
vấn đề nữa là hình thức chấp nhận đề nghị giao kết HĐDS không phụ thuộc vào
hình thức đề nghị giao kết và hình thức HĐDS.
Cũng tương tự như hình thức thì nội dung chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng cũng không được quy định cụ thể trong BLDS 2005 hay các văn bản khác.
Nhưng về cơ bản, trên tinh thần quy định trong Điều 396 thì nội dung chấp nhận đề
nghị giao kết HĐDS thông thường phải đảm bảo hai yếu tố:
Thứ nhất, chấp nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trong đề nghị giao kết
HĐDS và không bỏ qua nội dung nào.
Thứ hai, không có bổ sung nội dung nào khác so với đề nghị giao kết
HĐDS.

tất nhiên những hình thức đó không có dấu bưu điện). BLDS 2005 cũng chưa thể
hiện là theo khuynh hướng nào trong hai thuyết trên.
Sau khi chấp nhận giao kết hợp đồng, một hiện tượng pháp lý có thể xảy ra
đó là rút lại thông báo chấp nhận giao kết HĐDS. Đây là việc bên được đề nghị chủ
động thể hiện ý định thay đổi chấp nhận đề nghị giao kết theo hướng không đồng ý
với chấp nhận hợp đồng giao kết đã được thể hiện trước đó. Theo Điều 400 BLDS
2005 thì bên được đề nghị giao kết có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết nếu
thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời
chấp nhận giao kết hợp đồng.
Chấp nhận đề nghị giao kết HĐDS là yếu tố quan trọng để hình thành
HĐDS. Khi đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận thì quyền và nghĩa vụ của
các bên trong quan hệ giao kết HĐDS đó được xác lập và có sự ràng buộc về pháp
lý giữa các bên. BLDS 2005 cũng quy định hậu quả pháp lý của sự trả lời chấp
nhận đề nghị giao kết HĐDS trong trường hợp bên đề nghị, bên được đề nghị giao
kết HĐDS chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 398 và 399) theo hướng
bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng đã được thực hiện hợp
pháp. Tuy nhiên, BLDS cũng chưa quy định rõ về vấn đề này đối với yếu tố nhân
thân vì khi chủ thể chết thì giá trị nhân thân không thể chuyển giao, khác hoàn toàn

8


đối với tài sản. (do điều kiện giới hạn nên xin phép không trình bày cụ thể về vấn
đề này).
2. 3. Địa điểm, thời điểm giao kết HĐDS
Việc xác định thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng là quan trọng bởi từ
đó sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các bên, các bên trong quan hệ giao
kết hợp đồng sẽ có ràng buộc về pháp lý. Việc giao kết hợp đồng có thể được thực
hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong trường hợp giao kết hợp đồng trực
tiếp thì địa điểm giao kết hợp đồng được xác định là nơi mà trực tiếp các bên đạt

có quy định.
3- Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận
khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
BLDS 2005 đã quy định hiệu lực của HĐDS mang tính nguyên tắc là “Hợp
đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” (Điều 405). Như vậy, BLDS
2005 chỉ tập trung xác định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của HĐDS để làm cơ sở
xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện và giải quyết
tranh chấp HĐDS khi xảy ra trên thực tế.
III.

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HĐDS.
III.1. Trách nhiệm dân sự của bên giao kết HĐDS.
Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, là việc một chủ thể phải

gánh chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm
pháp luật.
Các trường hợp phát sinh trách nhiệm dân sự của bên đề nghị giao kết
HĐDS được BLDS 2005 quy định như sau:
- Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu
bên để nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề
nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao
kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh (khoản 2 Điều 390 BLDS 2005).
- Trong trường hợp các bên có thỏa thuận sử dụng biện pháp đặt cọc để bảo
đảm việc giao kết HĐDS theo quy định tại Điều 358 BLDS 2005, thì đặt cọc là
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, trong luật chưa có quy
10


định cụ thể về một số trường hợp có thể phát sinh trong thực tế như trường hợp đề

tiện điện tử. Trên thế giới, từ năm 1996, Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại
quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) đã thông qua luật mẫu về thương mại
11


điện tử. Đến nay, hầu hết các quốc gia đã ban hành pháp luật điều chỉnh các giao
dịch điện tử ( ví dụ như Hoa kì năm 1999, Singapore năm 1998, …). Khoản 1 Điều
124 BLDS 2005 đã bổ sung quy định “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện
điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu cũng được coi là giao dịch bằng hình
thức văn bản”. Điều này đã thừa nhận việc không có quy định cụ thể riêng về giao
kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử vì đã nghiễm nhiên coi nó là hình thức giao
kết hợp đồng bằng văn bản. Tuy nhiên, Luật Giao dịch điện tử 2005 có quy định cụ
thể: “Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành
một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng” ( Điều 38).
Cũng thông qua văn bản luật này, có thể nhận thấy một số điểm đặc thù của giao
kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử như sau:
- Về nguyên tắc, giao kết HĐDS bằng phương tiện điện tử phải đảm bảo
tuân theo các nguyên tắc đã được quy định tại Điều 35 của Luật giao dịch điện tử:
“Các bên tham gia có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao
kết; việc giao kết hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật Giao dịch
điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kĩ thuât, chứng thực, các điều kiện
đảm bảo tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó”. Vì vậy các
bên trong giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử vừa phải tuân thủ theo các
nguyên tắc giao kết HĐDS theo Điều 389 BLDS 2005, vừa phải tuân thủ theo
nguyên tắc trong Điều 35 Luật Giao dịch điện tử.
- Trong giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử thì đề nghị giao kết và
chấp nhận đề nghị giao kết được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu, ở đây có
thể dưới các hình thức như: trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử,
điện tín, fax và các hình thức tương tự khác. Trong giao kết, các bên sử dụng chữ kí
điện tử để xác nhận người kí thông điệp dữ liệu.

được đề nghị giao kết trong trường hợp này và việc trưng bày sản phẩm và niêm
yết giá tại siêu thị có thể coi là sự chào hàng hay đề nghị giao kết hợp đồng với bất
kì bên nào có khả năng.
- Các bên trong giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể không có sự trực tiếp
trao đổi, thỏa thuận thậm chí là không biết bên giao kết hợp đồng với mình là chủ
thể cụ thể trong trường hợp này. Gần như thời điểm giao kết hợp đồng cũng là thời
13


điểm hợp đồng được thực hiện ( ví dụ đưa tiền vào máy bán hàng tự động – nhận
hàng).
4.3. Giao kết HĐDS thông qua các tổ chức trung gian.
Trong nhiều trường hợp các bên có nhu cầu giao kết hợp đồng đối với nhau
lại không biết để liên hệ với nhau, do đó đã xuất hiện những tổ chức trung gian
được nhà nước công nhận giúp thực hiện việc này. Các tổ chức loại này thường là
trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, trung tâm giao dịch chứng khoán, sàn giao
dịch bất động sản, … Các chủ thể đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp này
sẽ giao kết hợp đồng ủy quyền với tổ chức trung gian đại diện cho mình để tiến
hành giao kết hợp đồng với chủ thể khác nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự
giữa các chủ thể đề nghị với chủ thể nhận đề nghị giao kết HĐDS. Vấn đề giao kết
HĐDS qua hoạt động của các tổ chức trung gian được quy định ở nhiều văn bản
pháp luật như: Nghị định số 05/2005/ NĐ-CP về bán đấu giá tài sản, Luật Chứng
khoán 2005, Luật Kinh doanh bất động sản 2006 và nhiều văn bản khác. Trong
hình thức giao kết hợp đồng này, các tổ chức trung gian có thể được coi là chủ thể
đặc biệt của HĐDS, thông qua chủ thể này mà bên mua và bên bán thậm chí không
hề biết nhau nhưng giao kết hợp đồng vẫn được thực hiện và vẫn xác lập quyền và
nghĩa vụ của mình. Việc tổ chức giao kết hợp đồng, đại diện đứng ra giao kết hợp
đồng của tổ chức trung gian sẽ nhận được thù lao hoặc hoa hồng theo quy định
hoặc thỏa thuận. Pháp luật cũng quy định trường hợp bắt buộc phải thực hiện giao
kết hợp đồng thông qua hoạt động của tổ chức trung gian đó là việc giao kết hoạt

của pháp luật. Điều này không chỉ xảy ra đối với giao kết hợp đồng mà đây là thực
trạng phổ biến của hoạt động áp dụng pháp luật tại Việt Nam hiện nay. Bên cạnh
những điểm hạn chế đã phân tích ở phần trên, dưới đây, em xin đề cập một số điểm
hạn chế phát sinh từ thực tế áp dụng pháp luật về giao kết HĐDS.
V.1.1. Về nguyên tắc giao kết HĐDS.
Các nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 389, BLDS 2005 gồm:
“1. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng”
Tuy về mặt tổng thể, có nguyên tắc này là phù hợp với việc giao kết HĐDS
nhưng còn một vài nguyên tắc cơ bản khác như: nguyên tắc tôn trọng đạo đức,
truyền thống tốt đẹp ( Điều 8); nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác ( Điều 10)….không thấy nói
tới trong điều luật trong khi các nguyên tắc “tự do”, “ tự nguyện”, “ bình đẳng”,
“thiện chí”, “trung thực” đã được quy định là nguyên tắc cơ bản ở Điều 5, Điều 6
15


BLDS 2005 lại được đề cập lại. Thiết nghĩ, nếu đã được quy định là nguyên tắc cơ
bản thì có hiệu lực áp dụng áp dụng chung, việc quy định lại là không cần thiết,
nhưng nếu có quy định lại thì cũng cần đầy đủ để tạo thành sự thống nhất trong các
điều luật.
V.1.2. Về hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng bằng văn bản.
Pháp luật có quy định cụ thể về hình thức của đề nghị giao kết và chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng. Đối với giao kết hợp đồng bằng văn bản, pháp luật quy
định: “thời điểm phát giao kết hợp đồng là thời điểm các bên cùng kí vào văn
bản”. Đối với trường hợp thường là như vậy, nhưng nếu đề nghị giao kết hợp đồng
có chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng bằng hình thức văn bản mà không có chữ
kĩ hoặc điểm chỉ của các bên thì sẽ giải quyết thế nào? Hay đối với văn bản mà có
chữ kí nhưng không đóng dấu ( đối với pháp nhân) thì xử lí như thế nào? văn bản

định thời điểm giao kết (thuyết tống phát hay thuyết tiếp nhận) thì rất dễ phát sinh
tranh chấp và cũng khó giải quyết. Đây là một vấn đề của tư pháp quốc tế mà
BLDS cũng cần có quy định rõ.
V.2. Một vài kiến nghị về giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
hiện hành về giao kết hợp đồng.
Thứ nhất, hoàn thiện hơn nữa các quy định của BLDS về giao kết HĐDS
theo hướng bao quát tất cả các lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng. Các quy định về
HĐDS trong BLDS 2005 dùng thuật ngữ “hợp đồng dân sự”, nhưng thiết nghĩ đã là
đạo luật chung để điều chỉnh việc giao kết hợp đồng trong lĩnh vực dân sự thì các
quy định nên được áp dụng cho tất cả các loại hợp đồng (dân sự, kinh doanh,
thương mại, lao động…), vì thế trong BLDS, để có tính khái quát nên dùng thuật
ngữ “ hợp đồng” thay cho “hợp đồng dân sự”.
Thứ hai, các quy định về nguyên tắc giao kết HĐDS cần đảm bảo tính
thống nhất, tránh trùng lặp. Như đã phân tích trong phần nguyên tắc giao kết
HĐDS, việc quy định đã có sự trùng lặp với các nguyên tắc cơ bản đã được quy
định trước đó. Việc có thêm những nguyên tắc mới đặc trưng cho từng lĩnh vực là
cần thiết nhưng việc lặp lại những quy định chung ở phần riêng lại là không cần
thiết. Vì vậy, việc quy định một cách đầy đủ và thống nhất là vấn đề rất quan trọng,
17


vừa làm cho BLDS được tinh gọn nhưng vẫn đảm bảo tính đầy đủ, chính xác của
Bộ luật.
Thứ ba, cần có quy định cụ thể về hình thức, nội dung của đề nghị giao kết
hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng để đảm bảo thuận tiện cho các
bên trong quá trình giao kết hợp đồng.
Vấn đề chữ kí, điểm chỉ, đóng dấu đã nêu ở phần trên là một vấn đề về hình
thức giao kết hợp đồng cần được BLDS điều chỉnh chi tiết và cụ thể hơn. Đồng thời
quy định của Điều 404 theo hướng im lặng là sự trả lời chấp nhận đề nghị giao kết
là rất khó xác định kể cả đã được thỏa thuận. Vì vậy, theo em nên quy định bổ sung

phát”, vừa theo “ thuyết tiếp nhận”. Vì vậy, BLDS cần quy định thống nhất về vấn
đề này.
Thứ sáu, về nguyên tắc xác định địa điểm giao kết hợp đồng. Điều 403
BLDS 2005 quy định: “Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các bên thoả thuận;
nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá
nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng”. Quy định
này có những điểm không hợp lí khi giao kết hợp đồng trực tiếp. Vì vậy, cần bổ
sung quy định này theo hướng trước hết phải là nơi trực tiếp giao kết hợp đồng, sau
đó mới xét đến các địa điểm khác. Không thể đặt sự thỏa thuận lên quá cao trong
trường hợp này mà trước hết phải đề cao thực tế.
Thứ bảy, cần quy định cụ thể nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên trong
quá trình giao kết hợp đồng. Theo đó, các bên có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin
đầy đủ, chính xác trong quá trình giao kết hợp đồng . Cũng cần quy định thêm
nghĩa vụ thông báo của bên đề nghị giao kết đối với bên được giao kết khi đã hết
thời hạn mà bên được đề nghị vẫn không nhận được trả lời chấp nhận, đồng thời
cũng với sự phát triển của công nghệ thông tin như ngày nay, một số trường hợp
quan trọng đặc biệt thì cần quy định phải có sự liên lạc từ trực tiếp giữa hai bên
trước khi gửi đề nghị giao kết hay gửi trả lời chấp nhận đề nghị giao kết.
Thứ tám, bổ sung quy định cụ thể trách nhiệm dân sự của các bên trong quá
trình giao kết hợp đồng. Trong BLDS, cần quy định thêm trách nhiệm dân sự trong
quá trình giao kết hợp đồng vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vì
thiệt hại xảy ra trước khi hợp đồng được kí kết.
19


C. KẾT LUẬN ĐỀ TÀI
Pháp luật về giao kết hợp đồng dâ sự có vai trò rất quan trọng trong đời sống
kinh tế, xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho và là tiền đề để các chủ thể xác lập quyền và
nghĩa vụ của mình trong quan hệ hợp đồng. Vì thế, việc pháp luật quy định đầy đủ,
chặt chẽ, phù hợp với thực tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể xác lập

học năm 2005);
11. Nguyễn Mạnh Bách, Pháp luật về hợp đồng, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1995 ;
12. Website :

/> />
21


MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………21

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status