NGUYÊN tắc đảm bảo QUYỀN bào CHỮA của bị CAN, bị cáo THỰC TIỄN tại TỈNH hà TĨNH - Pdf 35

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
KHÓA: 2012 - 2016
Đề tài:

NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN,
BỊ CÁO - THỰC TIỄN TẠI TỈNH HÀ TĨNH

Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Xuân
Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Quốc Nam

Lớp

: Luật K36B - Dân Sự

Mã số sinh viên

: 1250110217





Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài sự
nổ lực cố gắng của bản thân, em đã nhận
được nhiều sự giúp đỡ quý báu đến từ phí

:

Hội Đồng Xét Xử

HNGĐ

:

Hôn Nhân Gia Đình

HTND

:

Hội Thẩm Nhân Dân

TAND

:

Tòa Án Nhân Dân

TANDTC :

Tòa Án Nhân Dân Tối Cao

VKS

:


2.2. Những bất cập trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo.................24
2.3. Thực tiễn thực hiện về quyền bào chữa ở tỉnh Hà Tĩnh........................................35
2.3.1.Thực trạng thực hiện quyền bào chữa của bị can bị cáo tại địa bàn tỉnh hà tĩnh
(các vụ án hình sự).....................................................................................................36
2.3.2. Những vi phạm trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can,bị cáo ở địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh........................................................................................................39
2.4. Nguyên nhân dẫn đến vi phạm...............................................................................43
2.5. Những kiến ngị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền
bào chữa của bị can, bị cáo............................................................................................46
2.5.1. những kiến nghị mang tính định hướng..........................................................46
2.5.2. Những kiến nghị cụ thể...................................................................................48
C. KẾT LUẬN...................................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................................55



A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước sau những năm đổi mới theo
đường lối sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, xã hội, đặc
biệt là những thành tựu đáng trân trọng trong đời sống kinh tế. Song song
với những thành tựu đã đạt được thì trong những năm vừa qua, tình hình tội
phạm, vi phạm pháp luật và các tranh chấp diễn ra ngày càng đa dạng và
phức tạp. Tội phạm không chỉ diễn ra trong lĩnh vực xâm phạm an ninh
quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền sở
hữu tài sản công dân; xâm phạm trật tự an toàn xã hội mà còn diễn ra trong
các lĩnh vực quản lý kinh tế, bảo vệ môi trường, ma túy, tham nhũng.... Bên
cạnh đó công tác xét xử cũng còn nhiều bất cập. Vai trò của Người bào
chữa,các cơ quan công an, hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm VKS nhân
dân và Tòa án nhân dân các cấp các cơ quan này chịu trách nhiệm khởi tố và

tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý. Đặc biệt, trong thời kỳ xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; phát huy dân chủ
đi đôi với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và thực hiện cải cách
tư pháp thì số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về cải cách tư pháp,
về hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và việc xét xử của Tòa án nhân
dân nói riêng’ tăng lên rõ rệt.
Tuy nhiên vấn đề quyền bào chữa của bị can, bị cáo tại tỉnh Hà Tĩnh
thì ít công trình nghiên cứu vì vậy đề tài này nhằm góp phần nâng cao chất
lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử, về vai trò của người bào
chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo ở tỉnh
Hà Tĩnh để từ đó Tòa án góp phần vào công cuộc đấu tranh, phòng chống
8


tội phạm, duy trì trật tự an toàn xã hội một cách có hiệu quả nhất.

9


3. Mục đích, nhiêm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích của đề tài là nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận về quyền
bào chữa của bị can, bị cáo theo pháp luật việt nam..
- Phân tích thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả về quyền bào chữa của bị can, bị cáo tại địa bàn tỉnh Hà Tỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định
của pháp luật Việt Nam về vấn đề “quyền bào chữa của bị can, bị cáo”.
Tổng hợp các gốc nhìn nghiên cứu khác nhau. Thực trạng pháp luật - Kiến
nghị hoàn thiện, được nghiên cứu dưới nhiều gốc độ, khoa học, pháp luật
trong xu thế phát triển của đất nước.

B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1.
LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA
CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Từ trước tới nay quyền bào chữa của bị can, bị cáo là một quyền tố
tụng cơ bản được bảo đảm trong hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới,
bảo đảm quyền bào chữa đồng ngĩa với việc tôn trọng và bảo đảm xét xử
công bằng. Đây được coi là một trong những nguyên tắc chi phối các hoạt
động tố tụng giải quyết vụ án hình sự .
Ở việt nam quyền bào chữa đã được quy định và bảo đảm nhưng cũng
còn nhiều điểm bất cập do những quy định của pháp luật còn chưa được thật
sự hoàn thiện.hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự việt nam hiện hành về
quyền bào chữa là đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, đặc biệt
là hiện nay việt nam đã và đang thực hiện cải cách tư pháp.
1.1. Khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
Quyền bào chữa là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận ở điều 11 bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003 “ Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự
bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát,tòa
án có ngĩa vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền
bào chữa của họ theo quy định của bộ luật này “.
Quyền bào chữa là một quyền tố tụng cơ bản của bị can, bị cáo trong
tố tụng hình sự. Ngày nay quyền này được ghi nhận trong hầu hết các văn
bản pháp lí quốc tế về quyền con người và trong pháp luật của từng quốc
gia.Mặc dù vậy câu hỏi quyền bào chữa được ghi nhận và bảo đảm như thế
nào trong lịch sử pháp luật vẫn chưa được đề cập một cách toàn diện.Nội
dung chương 1 sẽ hệ thống và kết nối những kiến thức nền tảng ở cả khía

12




ngĩa,bảo đảm tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.trong
giai đoạn này ngành tư pháp đã thông qua một văn bản quan trọng là “Đề án
quyền bào chữa của bị cáo” tại hội nghị tư pháp toàn quốc ngày 20/6/1956 là
văn bản pháp lý đầu tiên đề cập cụ thể quyền của người bào chữa.Hiến pháp
năm 1959 ra đời một lần nữa đã ghi nhận quyền bào chữa của bị can, bị
cáo.điều 101 hiến pháp 1959 quy định: “quyền bào chữa của người bị cáo
được bảo đảm”.Nhiều văn bản pháp luật khác cụ thể hóa nhằm khẳng định
trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm quyền tố tụng của người bị
buộc tội.quyền bào chữa đã được cụ thể hóa trong điều 7 luật tổ chức tòa án
năm 1960 với nội dung: “ quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm.ngoài
việc tự bào chữa ra bị cáo có thể nhờ luật sư bào chữa cho mình”.Nhìn
chung giai đoạn này việc quy định và áp dụng chế định về quyền bào chữa
vẫn còn nhiều hạn chế do điều kiện lịch sử nước ta vừa thoát khỏi hai cuộc
chiến tranh, còn nhiều khó khăn và thách thức.
c. Giai đoạn từ năm 1989 đến nay:
Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
việt nam được quốc hội thông qua ngày 28/6/1988 và có hiệu lực từ ngày
1/1/1989 đã quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự.Theo đó
điều 12 bộ luật đã ghi nhận một nguyên tắc cơ bản với tên gọi “ Bảo đảm
quyền bào chữa của bị can, bị cáo”.Hiến pháp năm 1992 ra đời là hiến pháp
của thời kì đổi mới và mở rộng dân chủ đã khẳng định tại điều 132: “ quyền
bào chữa của bị cáo được bảo đảm.bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo.....”
Bên cạnh đó điều 9 luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 cũng quy định cụ
thể: “tòa án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo....”.Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 một lần nữa khẳng định việc bảo đảm quyền bào chữa là một
nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự đồng thời mở rộng đối tượng được
hưởng quyền bào chữa là người bị tạm giữ chứ không chỉ bị can,bị cáo như
14

15


vụ phải bảo đảm tuân thủ đúng pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi để các
chủ thể thực hiện tốt quyền của mình.
b. Trách nhiệm của Viện Kiểm Sát:
Viện Kiểm Sát bảo đảm cho người bị tạm giam, tạm giữ, bị can bị cáo
thực hiện quyền bào chữa là một bộ phận hợp thành nội dung nguyên tắc
đảm bảo quyền bào chữa của bị can bị cáo, người bị tạm giam, tạm giữ.
Viện Kiểm Sát phải ngăn ngừa, hạn chế và xử lí kịp thời các hành vi gây cản
trở hoặc xâm hại đến quyền bào chữa của người bị tạm giam, tạm giữ, bị can
bị cáo. Viện Kiểm sát vừa là người buộc tội, người kiểm sát việc tuân thủ
theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong hoạt động đảm bảo
quyền bào chữa của bị can bị cáo, người bị tạm giam, tạm giữ của Viện
Kiểm Sát thể hiện trong những hoạt đông như:
Kiểm sát việc khởi tố điều tra và áp dụng các biện pháp ngăn chặn
của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong hoạt động này VKS có nhiệm vụ
tiến hành kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT và một số
cơ quan khác như Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển.
Trong phạm vi thẩm quyền cảu mình VKS có quyền hủy bỏ các quyết định
không có căn cứ, trái pháp luật của cơ quan điều tra ví dụ như quyết định
khởi tố vụ án hình sự, khởi bị can...
Đảm bảo quyền bào chữa của bị can bị cáo trong giái đoạn hồ sơ được
chuyển qua Viện Kiểm Sát và giai đoạn xét xử. Khi hồ sơ được chuyển sang
VKS theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự hiện hành VKS có nhiệm vụ
áp dụng mọi biện pháp do luật định để nhằm không bỏ lọt tội phạm và
không truy tố oan người vô tội. Khi vụ án được đưa ra xét xử VKS tham gia
tố tụng với tư cách là chủ thể tiến hành tố tụng. Kiểm sát viên thay mặt
VKS tiến hành kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật của Tòa Án và nếu như
khi bản án được đưa ra nếu vi phạm quyền lợi của bị cáo nói riêng thì VKS

Tòa án phải đảm bảo cho bị cáo đưa ra chứng cứ và yêu cầu : tại phiên
tòa bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu, Tòa án phải đảm bảo cho bị
17


cáo và người bào chữa đưa ra chứng cứ và yêu cầu. Tại điều 19 Bộ luật tố
tụng hình sự 2003 quy định nguyên tắc " đảm bảo bình đẳng trước Tòa án
". Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có cả Tòa án
phải tôn trọng các quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khac
trong việc đưa ra chứng cứ và tranh luận trước tòa.
Tòa án phải đảm bảo cho bị cáo nói lời sau cùng, tại điều 220 Bộ luật
tố tụng hình sự 2003 quy định " Tòa án không được hạn chế thời gian đối
với bị cáo", đồng thời " nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm
tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, thì Hội đồng xét xử phải
quyết định trở lại xết hỏi ". Như vậy khi đảm bảo cho bị cáo thực hiện
quuyền bào chữa của mình, sau khi tuyên án thì Hội đồng xét xử phải tạo
những điều kiện cần thiết cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo điều này
giúp cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa ở cấp phúc thẩm.
- Tòa án phải bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc
thẩm. Theo quy định tại điều 236 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 , khi có kháng
cáo hoặc kháng nghị, Tòa án phải thông báo cho bị cáo và người bào chữa
của họ. Việc thông báo này nhằm đảm bảo cho bị cáo có điều kiện chuẩn bị
những điều kiện cần thiết cho việc bào chữa khi tham gia phiên tòa phúc
thẩm. Sự có mặt của bị cáo là một yêu cầu bắt buộc tại phiên toà phúc thẩm.
Tóm lại: Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cơ quan tiến
hành tố tụng phải chú trọng thực hiện tốt hai nhiệm vụ: bảo vệ sự thật, bảo
vệ pháp luật ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam, tạm
giữ, bị can, bị cáo. Chính những biện pháp bảo đảm quyền bào chữa của bị
can, bị cáo sẽ tạo điều kiện cho người tiến hành tố tụng, người tụng thực sự
là một quá trình đi tìm sự công bằng trên cơ sở tôn trọng quyền cơ bản của

chỉnh và đầy đủ, tạo cơ sỡ vững chắc cho các chủ thể tham gia tố tụng thực
hiện đầy đủ các quyền và ngĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Cụ
thể là các quy định về người bào chữa và các quyền của người bào chữa

19


được quy định rõ ràng hơn, ví dụ như quy định mở rộng thời điểm người
bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, người bào
chữa được quyền thu thập các đồ vật, tài liệu liên quan đến việc bào
chữa....các quy định này đã tạo thuận lợi cho người bào chữa tham gia tố
tụng thực hiện nhiệm vụ bào chữa có hiệu quả.Luật luật sư ra đời năm 2006
đã ghi một dấu mốc quan trọng về vai trò của đội ngũ luật sư trong hoạt
đọng tố tụng nói chung và hoạt động bào chữa nói riêng và điều đó tiếp tục
được khẳng định tại luật luật sư năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012.Trên
cơ sỡ đó, ngày 12/5/2009, tổ chức luật sư toàn quốc được thành lập với tên
gọi Liên đoàn luật sư Việt Nam, là đại diện của tất cả đoàn luật sư địa
phương trên toàn quốc.Một văn bản được coi là có ý ngĩa nhân bản cao đó là
luật trợ giúp pháp lý năm 2006. Đạo luật này là văn bản duy nhất quy định
về quyền trợ giúp pháp lý miễn phí đối với người ngèo, người già neo đơn,
người tàn tật, trẻ mồ côi.Theo đó người bị buộc tội nếu thuộc một trong các
trường hợp trên sẽ được hưởng chính sách được bào chữa miễn phí bởi trợ
giúp viên pháp lý của các trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.Ngoài ra,
cùng với sự ra đời của ngị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17-32003 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về bồi thường thiệt hại cho người bị
oan do người có thẩm quyền trong hoaat động tố tụng hình sự gây ra đã thực
sự có ý ngĩa trong việc bảo đảm trọn vẹn hơn quyền lợi cuản người bị buộc
tội nói chung và quyền bào chữa nói riêng.Bên cạnh đó còn có thông tư liên
tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC.hướng
dẫn thi hành một số quy định của ngị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11
tiếp tục là bước hoàn thiện rất quan trọng về mặt pháp luật trong lĩnh vực

cẩn trọng và có trách nhiệm hơn trong việc chuẩn bị quan điểm, luận cứ báo
chữa và tranh luận với Kiểm sát viên, bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh
tụng tại phiên tòa, góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ trọng
tâm của cải cách tư pháp.
Hiệu quả của việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị
21


can, bị cáo đã phần nào được phản ánh qua thực tiễn công tác xét xử các vụ
án hình sự trong thời gian vừa qua, cụ thể là:
- Tiếp tục triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của
Bộ chính trị, các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đã thực hiện
việc đổi mới một bước thủ tuch xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở
các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành và theo tinh thần cải
cách tư pháp. Tòa án đã tạo điều kiện, bảo đảm cho những người tiến hành
tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ; luật sư và
những người tham gia tố tụng được trình bày hết ý kiến của mình; những
câu hỏi của hội đồng xét xử và của Kiểm sát viên thể hienj khách quan hơn;
việc phán quyết cảu Tòa án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên
tòa và các chứng cứ có trong hồ sơ.Trong công tác xét xử, hình phạt mà các
Tòa án đã tuyên phạt đối với các bị cáo đã thể hiện được chính sách khoan
hồng đối với người tự thú,thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội, ăn năn
hối cải đã đề cao được tính giáo dục và phòng ngừa chung, đáp ứng được
yêu cầu trong tình hình hiện nay.
- Bên cạnh đó, hiệu quả công tác bào chữa thể hiện rõ qua phán quyết
của Tòa án so với đề xuất của người bào chữa. Trong năm 2008, tủ lệ các vụ
án bị kháng cáo, kháng nghị đã giảm 6% so với năm 2007. Trong năm 2008,
các Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố không phạm tội đối với 53 trường hợp,
15 trường hợp miễn trách nhiệm hính sự, 378 trường hợp cho hưởng án treo,
và nhiều trường hợp Tòa án cho đổi tội danh nhẹ hơn. Trong các trường hợp

và giải quyết là ngày càng tăng.
Hoạt động bào chữa cũng có những tính hiệu khởi sắc; đặc biệt là trong
hoạt động luật sư. Tính đến đầu năm 2010, số lượng luật sư có chứng chỉ
23


hành nghề trên phạm vi cả nước là 5.978 luật sư, tăng gần gấp đôi số lượng
luật sư của cả nước vào thời điểm năm 2004 là 3.149 luật sư. Kết quả khảo
sát cho thấy hiện nay, một tỉ lệ rất lớn các luật sư là có bằng cử nhân, chiếm
92.23%. Ỉ lệ luật sư có bắng thạc sĩ, tiến sĩ còn rất thấp. Trong tổng số hơn
5.000 luật sư thì số luạt sư đã qua đào tạo nghề cũng chiếm tỷ lệ khá lớn
65,8% tổng số luật sư của cả nước. Theo đánh giá của Bộ tư pháp, hoạt động
của các đoàn luật sư cả đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giúp đỡ pháp
lý nói chung và nhu cầu bào chữa của người bị buộc tội trong vụ án hình sự
nói riêng; đóng góp đáng kể cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị can, bị cáo và các đương sự khác; đồng thời góp phần giúp Tòa án và các
cơ quan tiến hành tố tụng khác giải quyết vụ án khách quan, chính xác và
đúng pháp luật, góp phần giữ vững và tăng cường pháp chế.
2.2. Những bất cập trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can,
bị cáo
a. Những bất cập về mặt quy phạm:
Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những ghi nhận và bổ
sung tiến bộ về bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, tuy nhiên vẫn
còn tồn tại những vướng mắc nhất định. Điều này dẫn đến việc quyền bào
chữa của bị can, bị cáo chưa được đảm bảo trọn vẹn đồng thời ảnh hưởng
đến hậu quả trong việc thực thi nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự qua
nghiên cứu và tìm hiểu người viết nhận thấy những khiếm khuyết trong quy
định của bộ luật tố tụng hình sự và một số văn bản pháp luật có liên quan tập
trung hầu hết trong việc quy định về các quyền tố tụng của người bào chữa
khi tham gia vụ án hình sự.

tại khoản 2 Điều 57 bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trong trường hợp bào
chữa bắt buộc theo quy định tại điểm a,b khoản 2 điều này thì: “ Bị can, bị
cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc
từ chối người bào chữa’’ Việc quy định trên đã dẫn đến xuất hiện nhiều qua
điểm khác nhau. Hầu hết các quan điểm đều cho rằng việc quy định trên là
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status