Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt trên địa bàn xã hải sơn, huyện hải lăng, tỉnh quảng tri - Pdf 35

Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn

MỤC LỤC

MỤC LỤC........................................................................................................................................................ I
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU.................................................................................................... III
DANH MỤC BIỂU ĐỒ..................................................................................................................................... IV
DANH MỤC BẢNG BIỂU.................................................................................................................................. V
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
5
1.1.1. Những lý luận chung về hiệu quả kinh tế...............................................................................................5
1.1.2. Vai trò chăn nuôi gà trong nền kinh tế quốc dân...................................................................................7
1.1.3. Yêu cầu kỹ thuật nuôi một số giống gà chủ yếu tại địa phương............................................................8
1.1.4. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến yếu tố chăn nuôi gà thịt................................................................12
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
14
1.2.1. Tình hình chăn nuôi gà trên Thế giới...................................................................................................14
1.2.2. Tình hình chăn nuôi gà trong nước......................................................................................................17
1.3. HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
21
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI GÀ THỊT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HẢI SƠN.........................24


i


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
60
3.2. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
60
3.2.1. Mục tiêu chung.....................................................................................................................................60
3.2.2. Mục tiêu cụ thể.....................................................................................................................................61
3.3. NHỮNG GIÁI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GÀ THỊT Ở XÃ HẢI SƠN
61
3.3.1. Các giải pháp về kỹ thuật.....................................................................................................................61
3.3.2. Giải pháp về chính sách........................................................................................................................63
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................................................. 65
1. KẾT LUẬN
2. KIẾN NGHỊ

65
66

TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................................... 68
PHỤ LỤC...................................................................................................................................................... 69

SVTH: Trần Minh Hoàng

ii



C

Chi phí sản xuất

TT

Chi phí sản xuất trực tiếp

TC

Chi phí tự có

TSCĐ

Tài sản cố định

NB

Lợi nhuận kinh tế ròng

BQ

Bình quân

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

ĐVT

ĐẦU KHÔNG QUÁ LỚN, CÁC HỘ GIA ĐÌNH ĐỀU SỬ DỤNG MỘT PHẦN NGUỒN VỐN SẴN CÓ. HIỆN NAY, CÁC TỔ
CHỨC TÍN DỤNG, QUỸ TIẾT KIỆM CỦA PHỤ NỮ ĐANG MỞ RỘNG CHO VAY ĐỂ CHĂN NUÔI. ĐỐI VỚI HỘ CN CÓ
TỶ LỆ VAY VỐN LÀ 30%, ĐỐI VỚI HỘ NUÔI BCN LÀ 33,33%............................................................................36
BẢNG 5: MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ TÌNH HÌNH NUÔI GÀ THỊT CỦA HỘ ĐIỀU TRA..................................................36
BẢNG 6: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA.....................................................................38
BẢNG 7: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NGUỒN VỐN CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA.............................................................39
BẢNG 8: CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA HỘ ĐIỀU TRA TRONG VỤ 1...........................41
BẢNG 9: CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA HỘ ĐIỀU TRA TRONG VỤ 2...........................43
BẢNG 10: KẾT QUẢ NUÔI GÀ THỊT CỦA CÁC HỘ ĐƯỢC ĐIỀU TRA THEO PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI.............46
BẢNG 11: HIỆU QUẢ NUÔI GÀ THỊT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA THEO PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI.....................48
BẢNG 12: ẢNH HƯỞNG CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT TRỰC TIẾP ĐẾN KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ NUÔI GÀ THỊT.........51
BẢNG 13: ẢNH HƯỞNG CỦA KINH NGHIỆM NUÔI ĐẾN KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ NUÔI GÀ THỊT.......................53
BẢNG 14: ĐÁNH GIÁ CỦA HỘ NUÔI GÀ THỊT VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC ĐẦU VÀO.....................................56

SVTH: Trần Minh Hoàng

v


PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhắc đến đất nước Việt Nam là nhắc đến đất nước nông nghiệp với điều kiện tự
nhiên trời phú, cuộc sống ruộng vườn thế hệ này qua thế hệ khác. Biết rõ lợi thế của
nước ta như vây nên sau những năm giải phóng, đăc biệt là sau đại hội Đảng tháng 6 1986, Đảng và chính phủquyết định quan tâm sâu sắc, đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp và nông thôn, coi đây là một lĩnh vực chủ chốt, ý nghĩa chiến lược đối với sự
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Nhờ vậy, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam
đã có những bước tiến mạnh mẽ. Vươn lên chiếm thành phần chủ đạo trong cơ cấu nền
kinh tế. Sản phẩm mang lại từ nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội đó là
lương thực, thực phẩm, nguyên liệu thiết yếu đảm bảo cung cấp nhu cầu ăn uống, xóa
đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy nghành công nghiệp chế

thiên nhiên và lao động gia đình, tạo ra sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Chính vì
thế chăn nuôi gà có vai trò không thể thiếu trong nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam
nói chung cũng như Quảng Trị nói riêng.
Xã Hải Sơn – một xã thuộc tỉnh Quảng Trị là một trong những vùng chăn nuôi gà
điển hình của tỉnh. Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của Đất Nước
trong thời kì hội nhập với nên kinh tế quốc tế.Ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi
gà ở xã Hải Sơn đã có những bước phát triển mới, góp phần vào sự phát triển chung
của tỉnh Quảng Trị. Bên cạnh những đóng góp và những giá trị kinh tế mà chăn nuôi
gà mang lại thì chăn nuôi gà thể hiện nhiều bất cập và những hạn chế. Tình trạng chăn
nuôi vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát chưa chú trọng đầu tư vào để phát triển. Phong
trào nuôi gà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và ít quan tâm đến kỹ thuật dẫn đến năng
suất hiệu quả sản xuất thấp. Mặc dù đã có nhiều biện pháp chuyển đổi phương thức
nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung với quy mô lớn nhưng việc chuyển đổi vẫn còn rất
chậm. Đến nay số lượng gia trại, trang trại chăn nuôi có quy mô lớn trên địa bàn xã
Hải Sơn còn hạn chế, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không tuân thủ các điều kiện về an
toàn sinh học khiến công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, nguy cơ xảy ra dịch bệnh rất
cao. Bên cạnh đó sự biến đổi thất thường của thời tiết, giá cả đầu ra, đầu vào biến động
thất thường, công tác phòng trừ dịch bệnh còn hạn chế đã ảnh hưởng đến kết quả chăn
nuôi, làm cho thu nhập của người dân cũng như công việc chăn nuôi trên địa bàn xã có
xu hướng ngày càng giảm xuống và không ổn định. Hơn thế nữa sự đa dạng về
phương thức chăn nuôi, đa dạng vùng sinh thái và nhóm hộ cũng làm cho hiệu quả
kinh tế có sự khác nhau. Vấn đề đặt ra ở đây là phải biết được mức đầu tư đó, với
phương thức chăn nuôi đó hộ sẽ thu được lợi nhuận bao nhiêu và vùng nào nhóm hộ
SVTH: Trần Minh Hoàng

2


nuôi nào là có hiệu quả nhất và đưa ra những giải pháp thích hợp khắc phục nhằm tăng
năng suất, hiệu quả cao cả về số lượng và chất lượng, làm cho chăn nuôi gà trên địa



4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Số liệu thứ cấp:
Các số liệu cung cấp từ xã Hải Sơn và Ủy ban xã Hải Sơn. Ngoài ra, đề tài còn
thu thập và sử dụng một số tài liệu trên internet, thông tin đại chúng, kết hợp tìm đọc
tham khảo một số tài liệu liên quan khác.
+ Số liệu sơ cấp:
Điều tra phỏng vấn trực tiếp 50 hộ gia đình, trang trại tổng hợp, gia trại chăn
nuôi gà thịt thương phẩm.
- Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp hệ thống hóa và phân tích, từ đó tìm ra mối liên hệ giữa các
yếu tố trong quá trình sản xuất.
- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình thực hiện tôi đã trao đổi, tham khảo ý
kiến các chuyên gia, các cán bộ chuyên môn, người nuôi gà thịt ở địa phương nhằm bổ
sung, hoàn thiện nội dung nghiên cứu và kiểm chứng kết quả nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp so sánh
Xác định độ biến động của các xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu
phân tích. Kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất được tính toán, thống kê
qua các chỉ tiêu: GO, NB, GO/(C+TC), NB/(C+TC)… Khi đánh giá mức độ đạt được
về mặt kết quả và hiệu quả, cần so sánh các chỉ tiêu đó qua thời gian, qua không gian,
giữa các chỉ tiêu đó với nhau, từ đó đưa ra nhận xét và kết luận.
- Phương pháp phân tổ thống kê
Phương pháp phân tổ thống kê được hệ thống hóa các số liệu thu thập được dưới
dạng chỉ tiêu nghiên cứu. từ đó đánh giá các chỉ tiêu theo thời gian. Phương pháp này
còn được dùng để phân tích sự tác động của các yếu tố đầu vào với các yếu tố đầu ra
cũng như biểu hiện mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra với các yếu tố đầu vào.

SVTH: Trần Minh Hoàng

đầu vào người ta sẽ sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỷ lệ nhất định để đạt được
lợi nhuận tối đa. Việc xác định hiệu quả này giống như xác định các điều kiện về lý
thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận. Điều đó có nghĩa rằng giá trị biên của sản phẩm
SVTH: Trần Minh Hoàng

5


phải bằng giá trị biên của các nguồn lực sử dụng vào sản xuất.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất phải đạt được hiệu
quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật. Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị
đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp.
Nếu sản xuất chỉ đạt hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả phân bổ thì mới là điều cần chứ
chưa phải là điều kiện đủ đạt hiệu quả kinh tế.
Như vậy ta có thể thấy được hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, biểu hiện
tập trung của sự phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác của các nguồn
lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện
mục tiêu sản xuất kinh doanh.
Ý nghĩa hiệu quả kinh tế:
- Giúp người sản xuất thấy rõ kết quả đầu tư của mình, việc đầu tư các chi phí
đầu vào sẽ được so sánh kết quả thu được. Từ đó giúp người sản xuất thấy được hiệu
quả hoạt động đầu tư để có quyết định tiếp tục hay không đầu tư.
- Giúp cho nhà nghiên cứu thấy được những kết quả đạt được cũng như các
nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế từ đó đưa ra các biên pháp giải quyết khó
khăn và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp.
1.1.1.2. Phương pháp xác định và bản chất hiệu quả kinh tế
- Phương pháp xác định
Phương pháp 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được
với chi phí bỏ ra, nghĩa là một đơn vị chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
H=Q/C

các nước phát triển thịt gà chiếm tới 30%.
Chăn nuôi gà cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, hàm
lượng protein của thịt gà và trứng gà rất cao. Trứng gia cầm có tới 12,5% protein, thịt
gia cầm có 22,5% protein trong khi đó ở thịt bò là 20%, thịt lợn là 18% và thịt cừu là
14,5% protein; thịt, trứng gia câm có nhiều axit amin , vitamin và khoáng vi lượng.
Sản phẩm gia cầm dễ chế biến, dễ ăn, ngon miệng, phù hợp với mọi lứa tuổi và tỷ lệ
đồng hóa cao. Theo quan niệm của Đông y, thịt gà có tính ôn ngọt, không độc, bổ
dưỡng, lành mạnh phổi. Có tác dụng bồi bổ cao cho người bị bệnh lâu ngày, dạ dày bị
phong hàn, suy yếu không hấp thụ được thức ăn. Ngoài ra, thịt gà con chữa được băng
huyết, xích bạch đới, lỵ, ung nhọt, trừ phong. Bên cạnh đó sự phát triển của ngành gia
cầm cũng kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác như: công nghệ thức ăn
chăn nuôi, công nghệ hóa học, công nghệ sinh học trong nuôi dưỡng, nhân giống và ấp
trứng nhân tạo, công nghệ sản xuất thiết bị chuyên ngành, công nghệ giết mổ và chế
SVTH: Trần Minh Hoàng

7


biến các sản phẩm gia cầm.
- Chăn nuôi gà cũng góp phần cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt. Phân gà
là một loại phân hữu cơ có thành phần dinh dưỡng cao so với các loại phân chuồng
khác như phân heo, phân trâu bò và các loại phân hữu cơ khác. Thành phần dinh
dưỡng chủ yếu trong phân gà như N: 1,6 - 1,7%; P2O5: 0,5 - 0,6%; K2O: 0,85%; CaO:
2,4%. Chính vì vậy, phân gà được sử dụng bón rất hiệu quả trên nhiều loại cây trồng
khác nhau, trong đó có nhóm cây rau. Ngoài ra, phân gà còn làm thức ăn cho các loại
cá ăn tạp như cá rô phi, cá trắm cỏ…
Đối với những hộ nông dân, việc chăn nuôi gà không chỉ cung cấp thêm dinh
dưỡng hàng ngày, chăn nuôi gà làm tăng thu nhập cho gia đình, thông qua chăn nuôi
gà, người nông dân có thể an tâm đầu tư cho con cái học hành và hoạt động văn hóa
khác như cúng giỗ, cưới hỏi, ma chay, đình đám. Bên cạnh đó, chăn nuôi gà góp phần

Úm lồng: Sử dụng chuồng úm có kích thước 1m x 2m cho 100 gà trong tuần đầu
với nhiệt độ sưởi 370C – 380C (2 bóng đèn 100W) và giảm xuống còn 32 0C – 350C (1
bóng đèn 100W) trong tuần kế, sau đó chỉ cần sưởi ban đêm.
Úm nền: Phải chuẩn bị nền thật kỹ, có đổ chất độn chuồng ( trấu khô sạch, nên
phun thuốc diệt trùng ) có độ dày tối thiểu 8 cm. Nguồn sưởi ấm phải được hoạt động
3 – 5 giờ trước khi đưa gà con vào. Mỗi ổ úm chỉ nên úm tối đa 500 con. Trong 2 -3
ngày đầu, dùng giấy báo lót đáy lồng úm, thay giấy lót mỗi ngày. Nước uống phải có
sẵn trước khi đưa gà con vào lồng úm. Nên cho 1 lít nước uống 50g đường + 1g
vitamin C để cho uống 12 giờ đầu tiên.
+ Máng ăn: gà dưới 1 tuần : Dùng khay cho ăn
Gà trên 1 tuần tuổi: Dùng máng dài 2m/con, tăng dần lên 5cm/con.
+ Máng uống:
1 bình tròn (1 lít) cho 50 con dưới 2 tuần
1 bình (3 lít) cho 25 con trên 2 tuần hoặc 2 cm – 4 cm/con nếu máng uống dài.
Nước uống: phải trong, sạch không chứa chất độc hay vi khuẩn, nước có nhiệt độ
180C – 260C, luôn phải cấp nước đủ cho gà. Mỗi ngày phải thay nước tối thiểu 2 lần.
+ Thức ăn: khi bắt gà con về nên cho gà uống nước, sau đó vài giờ mới nên cho
gà ăn. Nên cho gà ăn nhiều để kích thích gà ăn nhiều và ăn hết số lượng trong ngày để
đảm bảo đủ nhu cầu cho gà phát triển tốt.
Để nuôi gà CN người ta thường dùng các loại thức ăn CN khác nhau, tùy theo
điều kiện chăn nuôi mà bà con có thể chọn một trong hai công thức pha trộn thức ăn
sau đây:

SVTH: Trần Minh Hoàng

9


Loại 1: thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn để cho gà ăn trực tiếp mà không cần phải
pha trộn với các loại nguyên liệu khác bao gồm các loại thức ăn của hãng như : Green

10


50 gà. Các máng ăn, máng uống xếp xen kẽ nhau để tiện cho gà ăn uống.
+ Phương pháp úm gà: Trước khi nhận gà về phải chuẩn bị đầy đủ các trang thiết
bị và tiến hành làm quây úm theo yêu cầu đã trình bày ở trên.
Quây úm phải bật điện sưởi trước 2 giờ sau đó mới thả gà vào. Đồng thời cho gà uống
nước có pha thuốc bổ: Đường Glucozo 50g + vitamin C 1g + Bcomlpex 1g/1lit nước.
Sau khi cho gà uống đủ nước 1-2 giờ mới cho gà ăn cám để tránh hiện tượng bội
thực cho gà.
+ Cám gà nên chọn loại thức ăn thơm ngon, chất lượng đảm bảo, pha trộn theo
đúng tỉ lệ của hãng sản xuất. Cứ 2-3 giờ sàng loại bỏ tạp chất và bổ sung thức ăn mới.
+ Yêu cầu nhiệt độ:
Giai đoán úm gà nhiệt độ là quan trọng nhất.
Tuần thứ nhất: nhiệt độ quây úm từ 32-330C
Tuần thứ hai: 30-320C
Tuần thứ ba: 28-300C
Tuần thứ tư: 25-280C
Trong thực tế phương pháp nhận biết gà đủ hay thiếu nhiệt bằng cách quan sát:
Nếu đủ nhiệt gà sẽ tản ra xung quanh quây, ăn uống bình thường. Thiếu nhiệt gà
chụm lại dưới bóng đèn. Thừa nhiệt gà tập trung quanh máng uống.
Khắc phục hiện tượng thừa hoặc thiếu nhiệt bằng cách thêm vào hoặc rút bớt
bóng sưởi.
Dãn quây gà: vào mùa hè ta nới rộng quây vào khi gà 5 hoặc 7 ngày tuổi, mùa
đông khi 7 hoặc 10 ngày tuổi. Khi dãn quây đồng thời nhỏ vacxin Lasota và chủng đậu
theo lịch.
+ Máng ăn, máng uống: từ tuần thứ 2 trở đi thay dần khay vuông hoặc mẹt bằng
máng P50, máng uống Galon bằng chậu có bảo vệ để giữ cho nước uống được sạch.
- Giai đoạn 4 tuần tuổi đến khi xuất gà.
Giai đoạn này gà nuôi tự do trong sân thả vào ban ngày. Vào ban đêm thì cho gà

Thức ăn là yếu tố quan trọng trong phát triển chăn nuôi gà thịt. Sự sinh trưởng và
phát triển của gà thịt phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng và chăm sóc gà thịt và cụ thể là
đầu tư thức ăn chăn nuôi. Thông thường, chi phí thức ăn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong
tổng chi phí chăn nuôi gà thịt. Thức ăn cho gà thịt cũng rất phong phú, đối với những
hộ nuôi gà công nghiệp phần lớn sử dụng thức ăn công nghiệp làm cho gà tăng trọng
rất nhanh nhưng thịt gà không thơm ngon như gà nuôi bán công nghiệp nên giá thấp
hơn, đối với các hộ nuôi bán công nghiệp ngoài ra còn sử dụng thêm các thức ăn như
lúa, hèm, bột ngô, thức ăn này phần lớn là thức ăn tự có của gia đình nên giảm được
chi phí mua thức ăn bên ngoài. Tuy nhiên nguồn thức ăn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
SVTH: Trần Minh Hoàng

12


thời tiết, khí hậu, mùa vụ.
Tuy nhiên, để đàn gà thịt phát triển tốt đoi hỏi người chăn nuôi phải có kiến thức
về kĩ thuật phối trộn thức ăn hợp lý nhằm giảm chi phí và đem lại hiệu quả cao.
Giống là yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển chăn nuôi gà thịt. Các
giống khác nhau thì năng suất, phẩm chất thịt khác nhau, sự tăng trọng cũng như tỉ lệ
hao hụt khác nhau. Để chọn được giống tốt người nuôi nên tìm đến những cơ sở giống
uy tín cũng như chọn giống nuôi có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hoạt động chăn nuôi chủ yếu gặp phải rủi ro về dịch bệnh. Dịch bệnh và các loại
gia cầm nói chung thường phát theo mùa, phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết và khí hậu.
Sự phát triển và tăng trưởng của các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virut, kí sinh
trùng, nấm… quan hệ mật thiết với các yếu tố khí hậu, thời tiết. Do đó để giảm thiệt hại,
người nuôi chú trọng đến công tác thú y để kiểm soát, khống chế dịch bệnh ở gà.
- Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách của Nhà nước, của chính quyền địa phương cũng có tầm ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành chăn nuôi gà thịt, đặc biệt là các chính sách
về đất đai, đầu tư, tín dụng…

rõ đặc điểm sinh học của gà, biết được những căn bện cũng như triệu chứng của gà để
phòng và chữa bệnh một cách kịp thời, những quy luật về sự thay đổi thời tiết đẻ điều
chỉnh mức nhiệt độ thích hợp cho gà… điều này làm giảm tỉ lệ hao hụt trong mỗi lứa
nuôi, đưa lại kết quả nuôi cao cho hộ, mang lại lợi nhuận tối đa. Nếu người nuôi có
kiến thức, kinh nghiệm nuôi hạn chế họ sẽ gặp khó khăn trong áp dụng những tiến bộ
khoa học kỹ thuật chăn nuôi, không nắm bắt được thông tin về thị trường dẫn đến thua
thiệt trong mặc cả giá bán sản phẩm. Từ đó làm giảm lợi nhuận, hiệu quả nuôi mang
lại thấp.
Đất đai là yếu tố quan trọng để phát triển chăn nuôi gà thịt, trước hết là để xây
dựng chuồng trại, tạo điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất và riêng đối với chăn
nuôi gà bán công nghiệp đòi hỏi phải có một phần diện tích đất tùy theo quy mô nuôi
để chăn thả gà. Phát triển chăn nuôi gà quy mô trang trại đòi hỏi diện tích đất phải đủ
lớn, cách xa khi dân cư.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình chăn nuôi gà trên Thế giới
Số lượng gia cầm giết thịt ở châu Á đã tăng từ 14,687 triệu đến 24,723 triệu con
trong giai đoạn này. Trọng lượng thịt mổ tăng từ khoảng 1,3 kg ở vùng này, nhưng ở
châu Mỹ nó tăng từ 1,67kg lên 1,93kg.

SVTH: Trần Minh Hoàng

14


Sản lượng thịt gia cầm toàn cầu được dự báo tăng 1,6% trong năm 2014, theo
Terry Evans, một nhà phân tích ngành công nghiệp nói trong phần đầu tiên của loạt
phim năm 2014 về Xu hướng gia cầm toàn cầu, và dự kiến sẽ vượt qua thịt lợn trong
năm 2020. Châu Á chiếm hơn một phần ba sản lượng thịt gà trên thế giới.
Trong cả ngắn hạn và dài hạn, triển vọng đối với thịt gia cầm, đặc biệt là thịt gà,
thì các nhà sản xuất đều sẽ ổn. Sau hai năm khó khăn do chi phí thức ăn cao và dịch

Châu Mỹ
27,1 32,7 33,7 35,0 37,5 36,9 38,6 39,8 40,1 40,6 41,3
Châu Á
18,6 22,4 23,5 25,0 26,2 28,0 29,2 29,9 31,4 31,8 32,1
Châu Âu
9,3 10,9 10,8 11,6 12,1 13,3 13,9 14,6 15,4 15,9 16,5
Đại tây dương
0,7 0,9 1,0 1,0 1,0 1,0 1,1 1,2 1,2 1,2
1,2
Thế giới
58,5 70,3 72,3 76,2 80,7 83,4 87,3 90,1 92,7 94,2 95,8
Sản lượng gà thịt (triệu tấn)
Thế giới
50,1 63,1 64,3 68,3 72,8 73,6 78,2 81,2 83,2 84,1 85,3
Nguồn: FAO cho số liệu gà, USDA cho số liệu gà thịt
F 2014 = Dự báo của USDA về sản lượng thịt gà thịt.
Sản xuất gia cầm bản địa ở đây từ các loại gia cầm nuôi nông hộ và lượng thịt gia
cầm bán con sống.
Số liệu của các vùng có thể không được dùng để làm tròn tổng thế giới.
Ước tính của chúng tôi cho năm 2013 và 2014 cho thấy trong khi thịt gia cầm tăng 1,6%
và 1,7%, tương ứng, thì năm 2015 sản lượng sẽ tăng hơn 2% và sẽ đến 98 triệu tấn.
Trong phần dưới của Bảng 1 trình bày các số liệu ước tính sản xuất gà thịt trên
thế giới của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA). Chúng xấp xỉ khoảng 90% số liệu gà
của FAO đưa ra, trong đó gồm các loại gà mái thải loại và gà trống giống cùng với các
loại gà khác. Số liệu của USDA cho thấy sản lượng vào năm 2013 và năm 2014 tăng
thêm 1,1% và 1,4%, tương ứng, so với 4,3% đạt được từ năm 2000 đến năm 2012.
Từ năm 2000 đến năm 2012, sản xuất thịt gà ở châu Á tăng thêm 4,5% mỗi năm,
nhanh hơn so với trung bình toàn cầu là 3,9% và đó là lý do tại sao khu vực này chiếm
31,8-33,9% đầu ra. Tuy nhiên, sự gia tăng đã giảm trong năm 2013 và 2014, còn
khoảng 1%/ một năm.

Thái Lan 1170
1200
1280
1350
Indonesia 1350
1409
1465
1515
Nhật Bản 1255
1283
1295
1251
Malaysia 930
1014
1140
1174
Iran
722
745
765
785
2014F = dự báo , Chân gà đã được loại trừ

2012
13.7
3160
1707
1550
1540
1325

sông Cửu Long và Đông Bắc chiếm 60% đàn gà của cả nước. Các vùng phát triển tiếp
theo là Đông Nam bộ và Bắc Trung bộ, chiếm 26%, các vùng có sản lượng thấp nhất
là Tây Bắc và Tây Nguyên, chỉ chiếm từ 4-5% về số lượng đầu con.
Hiện nay chăn nuôi gà ở nước ta có ba hình thức chăn nuôi cơ bản đó là: chăn
nuôi theo phương thức truyền thống thường thấy ở các nông hộ nhỏ lẻ, chăn nuôi BCN
thả vườn hoặc thả đồi và cuối cùng là hình thức chăn nuôi CN.
Việt Nam có nhiều giống gà nội được chọn lọc thuần hoá từ lâu đời như gà Ri, gà
Mía, gà Hồ, gà H’mông, gà Tre, gà Ác... Một số giống trong đó có chất lượng thịt
trứng thơm ngon như gà Ri, gà H’mông. Tuy nhiên, do không được đầu tư chọn lọc lai
tạo nên năng suất còn rất thấp. Một số giống quý nhưng chỉ tồn tại ở một số địa bàn rất

SVTH: Trần Minh Hoàng

17


hẹp như gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía. Việc sản xuất và cung cấp con giống diễn ra tại
các hộ gia đình chăn nuôi chủ yếu theo hình thức tự sản, tự tiêu tại địa phương. Hiện
nay, cả nước chỉ có một cơ sở nghiên cứu chọn lọc, cải tạo giống gà Ri nhưng quy mô
quần thể và đầu tư kinh phí còn rất hạn chế, giống được cải tiến chậm, chất lượng chưa
cao, số lượng đưa ra sản xuất chưa nhiều. Ngoài ra, trong những năm qua, nước ta đã
nhập 14 giống gà. Các giống nhập khẩu chủ yếu là bố mẹ và một số ít giống ông bà như
các giống gà Tam hoàng, gà Lương phượng, gà Sacso, gà Plymouth, gà Hubbard…. Tuy
nhiên, công nghệ chăn nuôi chưa hoàn toàn đồng bộ nên năng suất của các giống nhập
khẩu nuôi ở nước ta chỉ đạt 85-90% so với năng suất chuẩn của giống.
Do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán, giết mổ phân tán, không
đảm bảo an toàn sinh học nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xẩy ra, gây tổn thất lớn về
kinh tế. Các bệnh thường gặp là Niucátxơn, Gumbôrô, Tụ huyết trùng, Dịch tả v.v....
Trong đó, tỉ lệ gia cầm bị bệnh Niucátxơn từ 40-53%, bệnh Gumbôrô 27-32%, tụ
huyết trùng 14-15%. Theo số liệu điều tra của Viện Chăn nuôi Quốc gia, tỉ lệ chết từ

26 cơ sở, Nam Trung Bộ 11 cơ sở, Tây Nguyên 11 cơ sở, Đông Bắc 9 cơ sở, Bắc
Trung Bộ 7 cơ sở và Tây Bắc có 1 cơ sở, với công suất mổ gần 90.000con/ngày. Phần
lớn các dây chuyền giết mổ tại địa phương hiện nay vẫn là thủ công, bán công nghiệp,
mức đầu tư thấp. Cơ sở vật chất như nhà xưởng, kho tang, thiết bị làm lạnh, xử lý môi
trường…chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Nhiều cơ sở tận dụng nhà xưởng cũ,
nhà giết mổ nằm sát chuồng gà, cơ sở giết mổ nằm ngày trong khu dân cư, nhiều sản
phẩm chưa đảm bảo vệ sinh. Lao động kỹ thuật thiếu nghiêm trọng. Số cơ sở chế biến
để nâng cao giá trị sản phẩm vẫn còn rất bé nhỏ. Tại nhiều tỉnh vẫn chưa xây dựng
được cơ sở giết mổ, chế biến gà mặc dù có nguồn nguyên liệu và thị trường ( Vĩnh
Phúc, Nam Định, Khánh Hòa, Quảng Ninh…). Phần lớn các tỉnh chưa có quy hoạch
và chính sách đầu tư cho ngành giết mổ, chế biến gà.
Hệ thống thị trường
Trên 95% sản phẩm bán là tươi sống và hoàn toàn tiêu thụ trong nước. Gà sống
và sản phâm được bán khắp nơi, trong các chợ nông thôn, chợ phiên, chợ nông sản, và
các chợ thành thị. Sản phẩm không chế biến, không bao gói, không đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm…
Nguyên nhân chủ yếu do:
Tập quán, truyền thống chợ làng quê, thói quen sử dụng sản phẩm tươi sống của
người tieu dùng đã hình thành từ lâu, khó thay đổi ngay. Nguồn thu nhập thấp, khó
chấp nhận sản phẩm chế biến, giá thành cao. Chăn nuôi, tự cung, tự cấp, giết mổ tại
SVTH: Trần Minh Hoàng

19


nhà. Thói quen tiêu thụ thịt gà là gà sống và một phần nhỏ gà đã giết mổ sẵn chủ yếu
bằng phương tiện thủ công, bán công nghiệp và công nghiệp. Do thói quen của người
tiêu dùng nước ta đã thích sử dụng thịt tươi sống, nên thị trường thịt gà bảo quản lạnh
hoặc đã qua công nghiệp chế biến chưa phát triển. Đây là một trong những nguyên
nhân gây khủng hoảng thừa và thiếu sản phẩm thịt gà vào các mùa vụ chăn nuôi trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status