Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu từ vào phát triển du lịch tỉnh thừa thiên huế giai đoạn 2011 2014 - Pdf 35

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH
TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ, GIAI ĐOẠN 2011-2014

NGUYỄN THỊ HẢO

Khóa học: 2011-2015
ĐẠI HỌC HUẾ


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH
TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ, GIAI ĐOẠN 2011-2014

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Hảo

trong thời gian thực tập.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và
năng lực của mình, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà
bản thân chưa thấy được. Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để
bài khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày tháng năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Hảo

3

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

3


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

MỤC LỤC

4

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

4



PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời
sống văn hóa - xã hội.Bên cạnh đó, du lịch được xem là một trong những ngành kinh
tế quan trọng hàng đầu vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà nó đem lại.Nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã xem du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển xã hội.
Sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn đa dạng, TTH thật sự là vùng
đất của du lịch. Là một ngành kinh tế quan trọng ở TTH, du lịch đã có các bước phát
triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, góp phần
cải thiện đời sống người dân, đồng thời giới thiệu và quảng bá hình ảnh Huế, con
người Huế đến với bạn bè trong và ngoài nước
Tỉnh TTH từ lâu đã được xác định là một trong những trung tâm du lịch văn hóa
quan trọng của nước ta. Tài nguyên du lịch của TTH tương đối đa dạng, phong phú,
nổi bật và có giá trị hơn cả là các tài nguyên văn hóa đặc sắc, độc đáo; trong đó, có
không ít những di sản văn hóa vật thể tầm cỡ quốc gia và quốc tế có sức thu hút rất lớn
đối với khách du lịch. Với nguồn tài nguyên du lịch vô giá như vậy, du lịch đã trở
thành thế mạnh không chỉ của Huế mà còn có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển du
lịch Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỉnh vẫn chưa khai thác được hết
tiềm năng, thế mạnh của mình, lượng khách du lịch đến đây vẫn chưa cao, các cơ sở
hạ tầng du lịch chưa được đầu tư mạnh mẽ, các khu di tích ngày càng xuống cấp. Tình
hình đó đòi hỏi tỉnh phải có những chính sách thu hút vốn đầu tư để thực hiện các mục
tiêu tăng trưởng, phát triển ổn định và bền vững. Do đó, em chọn đề tài “ Giải pháp
tăng cường thu hút vốn đầu từ vào phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn
2011-2014” làm đề tài nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu
7


Khóa luận này tập trung nghiên cứu về các nguồn vốn đầu tư thuộc các thành
phần kinh tế trong nước, kể cả nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho đầu tư phát triển du
lịch trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
- Thời gian: giai đoạn từ 2010 – 2013, và định hướng đến 2020

8

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

8


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

5. Bố cục khóa luận
Bố cục đề tài nghiên cứu ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, phần nội dung gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học về thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch
Chương 2. Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 3. Các giải pháp và định hướng tăng cường thu hút vốn đầu tư vào
ngành du lich tỉnh Thừa Thiên Huế

9

SVTH: Nguyễn Thị Hảo


quả đó”.
Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của hoạt động đầu tư trong
nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư của một quốc
gia.Đồng thời dựa vào khái niệm này để nhận diện hoạt động đầu tư, tức là căn cứ vào
đó để thấy hoạt động nào là đầu tư, hoạt động nào không phải là đầu tư theo những
10

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

10


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

phạm vi xem xét cụ thể.
Từ các khái niệm trên ta có thể rút ra một số đặc điểm của đầu tư như sau:
Hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau và thường sử dụng
đơn vị tiền tệ để biểu hiện. Các nguồn lực để đầu tư có thể bằng tiền, bằng các loại tài
sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác… thuộc nhiều
hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, tư nhân, nước ngoài…
- Đầu tư cần phải xác định trong một khoảng thời gian nhất định, tuy nhiên thòi
gian càng dài thì mức độ rủi ro càng cao bởi vì nền kinh tế luôn thay đổi, lạm phát có
thể xảy ra… cũng như các nguyên nhân chủ quan khác có ảnh hưởng đến đầu tư. Do
đó cần phải đưa ra các dự báo về rủi ro để có thể khắc phục.
- Mục đích của đầu tư là sinh lời trên cả hai mặt: Lợi ích về mặt tài chính –
thông qua lợi nhuận gắn liền với quyền lợi của chủ đầu tư, và lợi ích về mặt xã hội –
thông qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội hay cộng
đồng

giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn. Ở góc độ chung nhất trong một phạm vi
quốc gia, nguồn vốn đầu tư được phân thành hai loại: nguồn vốn đầu tư trong nước và
nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
1.2.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia.Nguồn vốn
này có ưu điểm là bền vững, ổn định, giảm thiểu được mức rủi ro và tránh được hậu
quả từ bên ngoài.Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn nhà nước, vốn tín dụng, vốn của
khu vực doanh nghiệp tư nhân và vốn tiết kiệm được từ dân cư.Măc dù trong thời đại
ngày nay, các đồng vốn nước ngoài cũng trở nên quan trọng không kém nhưng nguồn
vốn trong nước vẫn giữ vai trò quyết định. Tuy vậy, nước ta là một nước đang phát
triển, nguồn tiết kiệm được từ trong nước còn thấp chưa đủ đáp ứng nhu cầu về vốn
cho đầu tư phát triển nên cần phải thu hút vốn tư nước ngoài để tạo cú huých cho đầu
tư để phát triển kinh tế xã hội.
1.2.2. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là bổ sung nguồn
vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là cầu nối quan trọng giữa kinh
tế Việt Nam với kinh tế thế giới, thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh
tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như phương thức kinh doanh,
nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên được khai thác và sử
dụng hợp lí hơn. Tuy vậy, trong nó lại luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất
lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư…
Như vậy, vấn đề thu hút vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính
sách thu hút vốn đầu tư của nền kinh tế đang chuyển đổi. Một mặt phải ra sức thu hút
đầu tư để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công cuộc công nghệp hóa – hiện đại hóa đất
nước, mặt khác phải kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài để
12

SVTH: Nguyễn Thị Hảo


1.3.1. Khái niệm, đặc điểm về du lịch
Theo tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Oganization – WTO) Du lịch là
bao gồm hoạt động của những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình trong thời hạn không quá một năm liên tục để vui chơi, vì công việc
hay vì mục đích khác không liên quan đến những hoạt động kiếm tiền ở nơi mà họ
đến.
Còn theo luật du lịch Việt Nam 2005 thì du lịch được định nghĩa là các hoạt động
13

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

13


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định.
Các khái niệm trên chưa thể hiện được khái quát các ý nghĩa về du lịch, do đó,
một số nhà nghiên cứu đã định nghĩa khái quát về du lịch như sau: “Du lịch là tổng
hợp các mối quan hệ kinh tế - kĩ thuật - văn hóa - xã hội, phát sinh do sự tác động
tương hỗ giữa du khách, các đơn vị cung ứng dịch vụ, chính quyền và dân cư bản địa
trong quá trình khai thác các tài nguyên về du lịch, tổ chức kinh doanh phục vụ du
khách”. Ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về du lịch như sau:
- Du lịch là hoạt động của người ngoài nơi cư trú thường xuyên
- Chuyến du lịch ỏ nơi đến chỉ mạng tính chất tạm thời trong một thời gian ngắn
- Mục đích của chuyến du lịch là thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc


việc kinh doanh phục vụ du lịch từ đó làm cân đối thu nhập trong xã hội.
Bên cạnh đó, du lịch còn thúc đẩy các ngành kinh tế có liên quan cùng phát triển
vì hoạt động du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, chúng bổ sung và hỗ trợ để cùng
nhau phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và kinh tế vùng
Phát triển du lịch sẽ mở mang và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng
lưới giao thông, mạng lưới điện, nước, các phương tiện thông tin đại chúng
 Về chính trị: Du lịch góp phần củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế, phát triển
đường lối giao thông quốc tế,giúp cho khách du lịch hiểu biết được đất nước con
người, truyền thống lịch sử, truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống văn hóa
của các dân tộc. Từ đó làm tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, mối
quan hệ hiểu biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và của nhân dân các quốc gia
với nhau nhằm mục đích hòa bình và tiến bộ xã hội.
 Về văn hóa – xã hội: du lịch góp phần giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, giúp cho
khách du lịch hiểu biết về các nền văn hóa xã hội của tỉnh và của đất nước, tạo điều
kiện du nhập văn hóa văn minh của nhân loại, làm cho nền văn hóa phát triển lành
mạnh, tiến bộ.
Về mặt xã hội du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân.
Du lịch làm giảm quá trình đô thị hoá ở các nước kinh tế phát triển. Thông
thường tài nguyên du lịch thiên nhiên thường có nhiều ở những vùng núi xa xôi, vùng
ven biển hay nhiều vùng hẻo lánh khác. Việc khai thác đưa những tài nguyên này vào
sử dụng đòi hỏi phải có đầu tư về mọi mặt giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hoá, xã
hội,… Do vậy việc phát triển làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của những vùng đó và
cũng vì vậy góp phần làm giảm sự tập trung dân cư căng thẳng ở những trung tâm dân
cư, góp phần phân phối lại thu nhập, giảm đói nghèo, đóng góp vào khôi phục các làng
nghề thủ công, lễ hội truyền thống, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi chung
cho xã hội
Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu cho các thành tựu của
một địa phương
1.3.3. Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư để phát triển nghành du lịch

1.3.3.3. Thu hút vốn đầu tư vào du lịch góp phần tăng cường khoa học kĩ thuật
và trình độ quản lí
Thu hút vốn đầu tư để phát triển ngành du lịch sẽ làm cho trình độ khoa học kĩ
thuật của ngành du lịch được tăng lên thông qua các dự án đầu tư. Khi các dự án đầu
tư được triển khai thì đồng thời các nhà đầu tư sẽ áp dụng những khoa học công nghệ
tiên tiến, thay thế các thiết bị cũ và lạc hậu.Đối với các nước đang phát triển, mặc dù
tích lũy vốn và công nghệ thấp nhung cũng có những lợi thế của người đi sau tiếp thu,
thích nghi và làm chủ công nghệ có sẵn, do đó rút ngắn thòi gian và giảm những rủi ro
trong áp dụng công nghệ mới.Đồng thời, khi thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch
sẽ góp phần nâng cao trình độ quản lí và năng lực điều hành của các nhà quản lí, các
nhà đầu tư và các nhà doanh nghiệp.
16

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

16


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

1.3.3.4. Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần tạo công ăn việc làm
cho địa phương
Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần tạo ra công ăn việc làm cho
những người lao động trong ngành du lịch, các nhà sản xuất các đồ lưu niệm, các nhà
buôn bán, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời tạo điều kiện khai thác có hiệu quả nguồn
tài nguyên thiên nhiên và góp phần tăng thu ngân sách nhà nước
1.3.3.5. Thông qua thu hút vốn đầu tư và mở rộng luồng khách quốc tế giúp
quảng bá hình ảnh của tỉnh Thừa Thiên Huế

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

chài. Vì thế trước khi đầu tư thì nhà đầu tư phải xem xét, phân tích những nhân tố đó
để thuận lợi trong việc tiến hành đầu tư.
1.4.2. Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch của địa phương
Sự phát triển của ngành du lịch gắn liền với việc khai thác và sử dụng các nguồn
tài nguyên thiên nhiên, các di tích lịch sử và nhân văn. Do đó, các tài nguyên thiên
nhiên như núi, rừng, biển, ghềnh thác, cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử là
những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào ngành du lich. Tài
nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên là những tài nguyên mà thiên
nhiên ban tặng cho con người để tiến hành các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng, tham
quan, nghiên cứu như hang động, biển đảo, suối thác…; Tài nguyên du lịch nhân văn
là những của cải vật chất và của cải tinh thần do con người tạo ra từ xa xưa và nó để
lại cho thế hệ bây giờ những di tích lịch sử, kiến trúc cổ điển hay các di tích văn hóa
nghệ thuật; Còn tài nguyên du lịch xã hội là tài nguyên mang tính văn hóa. Du khách
đi du lịch là muốn được hưởng thụ nét văn hóa ở nơi mà họ đến. Ở đây con người
chính là trọng tâm tạo ra nét văn hóa đó, như cách sống, sinh hoạt hay các món ăn đó
cũng là các tài nguyên du lịch.
1.4.3. Chính sách thu hút vốn đầu tư ở địa phương
Các chính sách về thương mại theo khuynh hướng tự do hóa trong khuôn khổ
cho phép thì sẽ đảm bảo cho việc xuất nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu sản
xuất được dễ dàng hơn, thuận lợi hơn. Giúp cho sự liên tục trong hoạt động đầu tư của
các nhà đầu tư trong và ngoài nước không bị gián đoạn.
Sự ưu đãi về tài chính dành cho vốn đầu tư trước hết là nó phải đảm bảo cho chủ
đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện kinh doanh chung của khu
vực, của mỗi nước, đồng thời nó còn khuyến khích họ đầu tư vào những nơi mà chính
phủ khuyến khích đầu tư. Trong đó, những ưu đãi về thuế là chiếm vị trí quan trọng
hàng đầu và tiếp đó là các ưu đãi về tín dụng về đất đai, mức ưu đãi về thuế càng cao
khi các dự án đầu tư càng có quy mô lớn,dài hạn và sử dụng nhiều lao động, công
nghệ cao.

khai các dự án của họ. Bên cạnh đó, địa phương, quốc gia này mà lạc hậu về trình độ
khoa học và công nghệ thì có thể làm hạn chế dòng vốn đầu tư chảy vào địa phương.
Vì thế, để thu hút được vốn đầu tư đòi hỏi quốc gia, địa phương đó phải tăng
cường đào tạo, nâng cao tay nghề cho đội ngũ lao đông, luôn học hỏi và phát triển để
có thể tiếp thu được sự chuyển giao khoa học công nghệ để thu hút được nhiều hơn và
hiệu quả hơn luồng vốn đầu tư.
1.4.6. Hiệu quả của các dự án thu hút đầu tư đã triển khai thực hiện trong
nghành
Vì mục tiêu của việc đầu tư là nhằm thu lợi nhuận. Do vậy, nếu như các dự án
trước đó kinh doanh không hiệu quả, thường xuyên thua lỗ thì sẽ làm nản lòng các nhà
19

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

19


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

đầu tư vì họ nhận thấy sự rủi ro trong môi trường đầu tư nên họ sẽ không giám bỏ vốn.
Ngược lại, nếu các dự án thu hút đầu tư đã được triển khai đạt tỉ suất lợi nhuận cao sẽ
khuyến khích và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư hay tái sản xuất
và mở rộng, đồng thời cũng thuyết phục được các nhà đầu tư khác bỏ vốn đầu tư.
Tóm lại, vốn đầu tư chỉ tìm đến những nơi đầu tư an toàn, đồng vốn được sử
dụng có hiệu quả, quay vòng nhanh và ít rủi ro. Vì thế nó đã, đang và sẽ tìm đến quốc
gia và địa phương nào có nền kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, hệ thống pháp luật
đầu tư đầy đủ, thông thoáng nhưng đáng tin cậy; chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn; có
cơ sở hạ tầng du lịch được chuẩn bị tốt; lao động trong lĩnh vực có trình độ cao và rẻ;

doanh nghiệp và dự án. Trên phạm vi quốc gia, một cơ cấu nguồn vốn hợp lý là cơ cấu
phản ảnh khả năng huy dộng tối đa mọi nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, phản
ánh khả năng sử dụng hiệu quả cao mọi nguồn vốn đầu tư, là cơ cấu thay đổi theo
hướng giảm dần tỷ trọng của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, tăng tỷ trọng nguồn vốn
của các doanh nghiệp trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài và nguồn vốn của dân cư.
Cùng với sự gia tăng của vốn đầu tư xã hội, cơ cấu nguồn vốn ngày càng đa dạng
hơn, xóa bỏ bao cấp trong đầu tư, phù hợp với chính sách phát triển kinh t ế nhiều
thành phần vàchính sách huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển. Mộtsố loại
nguồn vốn chủ yếu:
a) Vốn trong nước
 Vốn ngân sách nhà nước:

Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn thu khác nhau
như thuế, phí tài nguyên, bán hay cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của nhà nước...
Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Nguồn vốn này giữ một
vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tếxã hội của mỗi quốc gia. Nó
thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, hỗ trợ các dự án đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước. Thông qua hoạt
động chi ngân sách, Nhà nước sẽ cung phí đầu tư cho cơ sởkết cấu hạ tầng, hình thành
các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sởđó tạo môi trường và điều kiện
thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế.Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong
những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình
trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí
trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh
nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu
mới hợp lý hơn. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước sẽ chi cho các khoản trợgiúp trực
tiếp dành cho những người có thu nhập thấp, thất nghiệp hay có hoàn cảnh đặc biệt
như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng
thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống

động, tạo ra công ăn việc làm cho nền kinh tế. Với việc xây dựng lại các nghành nghề
thủ công truyền thống sẽ giải quyết thất nghiệp tại các vùng nông thôn, huy động
nhiều nguồn lực xã hội tập trung đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.Đối với các doanh nghiệp dân doanh, phần tích luỹ của các doanh nghiệp
này có đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn xã hội.Ở một mức độ nhất
định, các hộ gia đình cũng sẽ là một trong những nguồn tập trung và phân phối vốn
quan trọng trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế và du lịch.
b) Nguồn vốn nước ngoài
 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI):

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư của quốc
gia này (thường là một công ty hay một cá nhân cụ thể) mang các nguồn lực cần thiết
sang một quốc gia khác để thực hiện đầu tư; chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá
22

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

22


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

trình khai thác kết quả đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn của mình
theo quy định của quốc gia nhận đầu tư. FDI đầu tư cho sản xuất kinh doanh và dịch
vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng trong
đầu tư và phát triển kinh tếkhông chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả các nước có
nền công nghiệp phát triển.Nguồn vốn FDI có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn
vốn đầu tư nước ngoài khác làviệc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho


GVHD: PGS.TS. Trần Văn Hòa

theo công thức sau:
Năng suất lao động bình quân càng cao phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của
doanh nghiệp ngày càng tốt. Do đó, không ngừng nâng cao năng suất lao động là biện
pháp chủ yếu để tăng sản lượng, hạ giá thành sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp
1.6.1.2. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu chỉ ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận,
nó thể hiện vai trò và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp qua một kỳ kinh doanh.
Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Chỉ tiêu này phản ánh trong một kỳ kinh doanh, cứ một đồng doanh thu mà
doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì có bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ chi phí phát sinh trong kì càng thấp và hiệu quả
hoạt động càng cao.
1.6.1.3. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn đầu tư phản ánh hiệu quả sử dụng vón trong hoạt
động kinh doanhcuar doanh nghiệp qua các kỳ cao hay thấp. Chỉ tiêu này được tính
theo công thức:
Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quan trọng nhất, bởi vì nó phản ánh một
đồng vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ đầu tư. Tỷ suất trên tổng
vốn đầu tư càng cao thì trình độ quản lí và sủ dụng vốn của doanh nghiệp càng tốt và
ngược lại.Qua chỉ tiêu đó để các nhà đầu tư phân tích đề ra các biện pháp quản lý và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả đầu tư, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác
như thời gian thu hồi vốn, điểm hòa vốn…
1.6.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả về kinh tế thì người ta còn quan tâm đến những
tác động tích cực và tiêu cực của dự án đó đến xã hội. Thông thường để dánh giá hiệu

Việc tổ chức các hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh bất kỳ ngành nghề nào
cũng tạo ra một khối lượng công việc nhất định, do đó sẽ tạo ra nhu cầu về tuyển dụng
lao động, tuy nhiên mỗi ngành nghề khác nhau sẽ có nhu cầu tuyển dụng lao động
khác nhau. Vì thế hoạt động đầu tư sẽ tạo ra công ăn việc làm từ đó nâng cao đời sống
cho người lao động.
1.7. Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch của một số quốc gia
và kinh nghiệm đối với tỉnh Thừa Thiên Huế
1.7.1. Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư và khách du lịch của Singapore
Ngày nay, Singapore là một điểm đến đang được ưa thích của hàng triệu du
khách quốc tế, để lại cho du khách những ký ức đặc biệt khó quên.
25

SVTH: Nguyễn Thị Hảo

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status