Lời mở đầu
Xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp và Khu chế xuất là một
trong những nội dung cơ bản của quyết sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã
được Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cho thời kỳ
phát triển mới của Cách mạng nước ta.
Trong thời gian qua, mỗi KCN ra đời tại Hà Nội đã trở thành địa điểm
quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI), tạo điều kiện lớn để tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và phân công lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế - xã hội
Thủ đô và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Việc phát triển khu
công nghiệp cũng thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội Thủ đô và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong 14
năm qua, các khu công nghiệp Hà Nội đã thu hút được nhiều dự án mới, lớn
của các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới như: Canon, ToTo, Panasonic,
Sumitomo Bakelite, Daewoo - Hanel….
Vấn đề thu hút vốn vào các khu công nghiệp ở Hà Nội bên cạnh những
thành tựu đã đạt được, vẫn còn những tồn tại, yếu kém đặc biệt là những vấn
đề được đặt ra kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO). Để tìm ra những giải pháp nhằm phát huy những thành công, kết quả;
hạn chế những tồn tại đó của các Khu công nghiệp tập trung ở Hà Nội, em
chọn đề tài: “ Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các
Khu công nghiệp tập trung ở Hà Nội” để nghiên cứu.
Mặc dù đã được tham khảo nhiều tài liệu có giá trị cũng như sự hướng
dẫn nhưng cũng không tránh được những sai sót trong các vấn đề đưa ra. Em
rất mong có sự đóng góp của thầy cô để đề án được chính xác và có tính khoa
học cao hơn.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Văn Hùng đã giúp đỡ em hoàn
thành Đề án này.
1
Chương I: Lý luận chung về thu hút vốn đầu tư vào các Khu
công nghiệp (KCN)
: GDP tăng thêm
Vốn đầu tư phát triển gồm: vốn đầu tư Xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn
tài sản cố định; vốn lưu động bổ sung; vốn đầu tư phát triển khác. Đầu tư xây
dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định của doanh
nghiệp, vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền để xây dựng
mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố
định trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động đầu tư này đòi hỏi một lượng vốn
lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư. Vốn lưu động bổ sung bao
gồm những khoản đầu tư dùng để mua sắm nguyên vật liệu, thuê mướn lao
động… làm tăng thêm tài sản lưu động trong kỳ của toàn bộ xã hội. Vốn đầu
tư phát triển các hoạt động khác bao gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội
nhằm gia tăng thêm năng lực phát triển cho cả xã hội, nâng cao trình độ dân
trí, nâng cao trình độ chuyên môn, cải thiện môi trường sống, điều kiện làm
việc cho người lao động; có thể kể đến như chi phí thăm dò, khảo sát và qui
hoạch ngành, vùng lãnh thổ; chi phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc
gia…
Ngay từ xa xưa các nhà kinh tế đã đánh giá rất cao vai trò của vốn đối
với sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Theo luận điểm của nhà kinh tế học
người Anh William Petty “ lao động là cha, đất đai là mẹ” của mọi của cải vật
chất đã chứng tỏ rằng khi đó người ta đã nhận thức được những yếu tố cơ bản
để tạo nên mọi của cải cho xã hội, đó là nguồn lực con người và đất đai. Kế
thừa những tư tưởng đó Mac đã chỉ ra nguồn gốc chủ yếu của vốn tích lũy là
lao động thặng dư do những người lao động tạo ra, và nó sẽ tiếp tục quá trình
vận động của mình để tạo thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội.
Tuy nhiên, để có vốn thì vấn đề đầu tiên là phải xác định nguồn vốn, đây
là hai vấn đề có mối quan hệ biện chứng.
2.2 Nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn cho đầu tư phát triển là thuật ngữ để chỉ các nguồn tích lũy,
tập trung và phân phối cho đầu tư. Xét về bản chất, nguồn vốn này chính là
3
sinh sống. Trong KCN có thể có các doanh nghiệp chế xuất”.
2. Đặc điểm của KCN
Cho đến nay, các KCN đã được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc
gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về quy mô,
địa điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng nói chung các KCN
có những đặc điểm chủ yếu sau:
* Về tính chất hoạt động:
Là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh
nghiệp cung cấp các dịch vụ mà không có dân cư (gọi chung là doanh nghiệp
KCN). KCN là nơi xây dựng để thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm công
nghiệp hoặc các đơn vị kinh doanh dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp.
Theo điều 6 Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao ban hành kèm theo
Nghị định 36/CP thì doanh nghiệp KCN có thể là các doanh nghiệp Việt Nam
thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc
các bên tham gia trong hợp đồng hợp tac kinh doanh. Các doanh nghiệp này
được quyền kinh doanh trong các lĩnh vực cụ thể sau:
- Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng.
- Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và
tiêu dung ở trong nước, phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kĩ
thuật, quy trình công nghệ.
- Nghiên cứu, triển khai khoa học – công nghệ để nâng cao chất lượng
sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới.
- Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
* Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
Các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho hoạt
động sản xuất kinh doanh như đường xá, hệ thống điện nước, điện thoại…
Thông thường việc phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN do một công ty xây
dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm. Ở Việt Nam những công ty này
5
là do các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
án đầu tư thực hiện trong KCN.
+ Thứ ba, miễn thuế 04 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm
50% số thuế phải nộp cho 07 năm tiếp theo đối với cơ sở kinh doanh phát
triển hạ tầng mới thành lập từ dự án đầu tư phát triển hạ tầng KCN, KCX;
doanh nghiệp chế xuất trong lĩnh vực sản xuất không phân biệt trong hay
ngoài KCX.
• Đối với thuế xuất nhập khẩu:
+ Ưu đãi về thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
b. Nhà nước tạo rất nhiều sự hỗ trợ cho các nhà đầu tư
+ Hỗ trợ chuyển giao công nghệ: Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho
các bên chuyển giao công nghệ, khuyến khích việc chuyển giao công nghệ
vào Việt Nam và có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác
xã đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ.
+ Hỗ trợ đào tạo: Quỹ hỗ trợ đào tạo của doanh nghiệp sẽ được miến,
giảm thuế. Chi phí đào tạo sẽ được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác
định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ còn có
kế hoạch, chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
+ Hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào KCN, KCX, khu công nghệ cao:
Chính phủ khuyến khích và có chính sách ưu đãi các thành phần kinh tế
đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
ngoài hàng rào KCN, KCX và khu công nghệ cao. Nhà nước tạo điều kiện thực hiện xây
dựng đồng bộ, kịp thời các công trình kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào các
KCN như: Hệ thống cấp điện, thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nước, bãi
thải công nghiệp, điểm nút giao thông, bệnh viện, trường học, trường dạy
nghề... đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ của các KCN.
+ Hỗ trợ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng trong hàng rào KCN, KCX.
7
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ
nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào
Môi trường đầu tư trong KCN được hiểu là các yếu tố ảnh hưởng đến
công cuộc đầu tư của các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN.
4.1. Các yếu tố về khung pháp lý
Hoạt động của các doanh nghiệp KCN xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ
tầng. Ban quản lý KCN đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật như:
Quy chế KCN,KCX, Khu công nghệ cao, Luật đầu tư trong và ngoài nước,
Luật lao động, Luật môi trường… Nếu các luật này được ban hành với nôi
dung cụ thể , đồng bộ và được sử dụng có hiệu lực thống nhất giữa các cơ
quan thi hành luật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trong KCN, tránh
được những khiếu kiện không cần thiết, hay những vi phạm pháp luật không
đáng có.
4.2. Các yếu tố liên quan đến đất đai và cơ sở hạ tầng
*Về giá đất: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN, các
nhà đầu tư phải thuê lại đất từ công ty phát triển hạ tầng KCN. Như vậy giá
thuê đất trong KCN sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của các nhà
đầu tư.
*Về quy hoạch: Quy hoạch cũng là một vấn đề nổi cộm ở nhiều địa
phương trong cả nước. Quy hoạch rồi lại điều chỉnh quy hoạch sẽ gây rất
nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp kinh doanh cơ sở
hạ tầng trong việc tái tạo mặt bằng sản xuất. Vì vậy nếu quá trình quy hoạch
được thực hiện công khai, dân chủ và nhất quán thì thuận lợi cho quá trình
giải phóng mặt bằng và thu hút vốn đầu tư.
*Về cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng trong KCN bao gồm cơ sở hạ tầng bên
trong và cơ sở hạ tầng bên ngoài hàng rào. Cơ sở hạ tầng trong hàng rào bao
gồm: Hệ thống thoát nước, hệ thống điện, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống
9
thông tin…. Tất cả yếu tố này ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Cơ sở hạ tầng bên ngoài hàng rào bao gồm quà trình
vận chuyển, tiêu thụ, cung cấp nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp khu
công nghiệp.Vì vậy nều các cơ sở trong và ngoài hàng rào đồng bộ với nhau
*Dịch vụ cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp: Thông tin ngày càng
trở nên là một yếu tố quan trọng trong việc củng cố và nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp.Là một doanh nghiệp sản xuất trực tiếp việc
quản lý nhân sự, tiền lương, vật tư sản xuất chiếm một vị trí quan trọng việc
quản trị doanh nghiệp. Hệ thống thông tin tại doanh nghiệp sẽ hỗ trợ rất tích
cực cho công tác quan lý này, giúp nhà quản lý có thể đạt hiệu quả tối đa. Có
một hệ thống công nghệ thông tin tốt, hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng
tiếp cận với khách hàng mọi lúc mọi nơi.
4.4. Các chính sách hỗ trợ:
Hệ thống các chính sách hỗ trợ là một trong những yếu tố quan trọng để
thu hút các nhà đầu tư. Đó là những chính sách ưu đãi về thuế, về tiền thuê
đất, về phương thức trả tiền thuê đất, về tín dụng…chính sách hỗ trợ ở KCN
nào càng nhiều thì ở đó khả năng mời chào các nhà đầu tư càng lớn.
11
Chương II: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào các KCN tập
trung ở Hà Nội giai đoạn 2002- 2007
I. Các KCN tập trung ở Hà Nội
1. Những điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư vào các KCN tập trung
Hà Nội
Lợi thế về địa điểm đầu tư của các KCN và KCX ở Hà Nội: Hà Nội là
Thủ đô nước CHXHCN Việt Nam - là trái tim của cả nước, đầu não chính trị -
hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và
giao dịch quốc tế. Việt Nam là một thị trường tiêu thụ có triển vọng với số
dân khoảng 80 triệu, mức tăng dân số trung bình 1 triệu người/năm. Nền tảng
công nghiệp hiện tại đang được phát triển sẽ tạo nên rất nhiều cơ hội cho các
nhà đầu tư. Hà Nội có trên 62% số cán bộ khoa học và quản lý có trình độ đại
học và trên đại học của cả nước. Người Hà Nội có trình độ dân trí và tay nghề
khá cao, có khả năng tiếp nhận nhanh chóng các công nghệ hiện đại cũng như
trình độ quản lý tiên tiến. Giá nhân công lao động ở mức hợp lý. Tình trạng
cơ sở hạ tầng, đặc biệt là mạng lưới giao thông đô thị, thông tin liên lạc và tài
10.000 m3 nước đạt tiêu chuẩn Việt Nam
Hệ thống thông tin liên lạc: Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt
Nam (VNPT) sẽ quản lý và điều hành các dịch vụ thông tin liên lạc ở KCN.
Các chủ thuê đất sẽ ký hợp đồng với VNPT.
Hệ thống xử lý chất thải công nghiệp: Mỗi hãng thuê đất phải xin phép
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phê duyệt hệ thống xử lý chất thải.
13
KCN Thăng Long: KCN Thăng Long được phát triển bởi Thăng Long
Industrial Park, một công ty liên doanh giữa tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản)
và Công ty cơ khí Ðông Anh (Bộ Xây dựng), được thành lập theo Giấp phép
đầu tư số 1845/GP do Bộ Kế hoạch & Ðầu tư Việt Nam cấp ngày 22/2/1997.
Tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng là 76.846.000 USD.
Cơ sở hạ tầng Quy mô phát triển: KCN Thăng Long có diện tích đất
chiếm 302 ha và được phát triển làm 03 giai đoạn: Giai đoạn 1 (121,23 ha) đã
cho thuê. Giai đoạn 2 (80 ha) thực hiện trong thời gian từ 2000 - 2001. Giai
đoạn 3 thực hiện trong thời gian từ 2003 - 2004. Ðã được cấp chứng chỉ quản
lý môi trường ISO-14001.
Thời gian thuê đất: Tới năm 2047
Ðường trong khu vực: Ðường chính rộng 37m đến 42m, với 3 làn đường
một chiều mỗi phía trên tổng số 6 làn đường. Ðường phụ rộng 26m, với một
làn đường mỗi phía trên tổng số 2 làn đường.
Hệ thống cấp điện: Mạng lưới cung cấp điện 22kV được đặt ngầm dưới
lòng đất.
Hệ thống cấp nước: Sau khi được xử lý tại nhà máy lọc nước, nước tiêu
dùng công nghiệp được cung cấp bởi hệ thống ống nước bằng sắt mềm đặt
ngầm dưới lòng đất.
Hệ thống thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc, cũng được đặt
ngầm dưới lòng đất, sẽ cho phép mở rộng để đáp ứng nhu cầu tăng lên về
truyền dữ liệu tốc độ cao.
Hệ thống xử lý nước thải: Nước thải của các đơn vị thuê đất sẽ được thu
đó đất xây dựng xí nghiệp, kho tàng: 32,1276 ha (chia thành 31 lô); đất xây
dựng công trình công cộng: 1,0781 ha đất giao thông, bến bãi: 4,8129 ha; và
đất xây dựng các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật: 1,928 ha. KCN Hà Nội
- Đài Tư sẽ cung cấp điều kiện kỹ thuật hạ tầng và xây dựng các nhà máy, các
công trình công cộng có chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh
nghiệp Đài Loan.
15
Thời gian thuê đất: Tới năm 2045.
KCN Sài Đồng A: Đây là KCN liên doanh giữa công ty điện tử Hanel
và tâpk đoàn Deawoo của Hàn Quốc. Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
là 152.000.000 USD.Diện tích đất sử dụng là 407 ha. Trong đó có KCN 197
ha, khu thương mại 100 ha, khu vui chơi giải trí 128 ha. Thời gian cho thuê
đất đến năm 2052. KCN Sài Đồng A nằm cách trung tâm Hà Nội 5 km và
cách cảng Hải Phòng 94 km.
2. Các chính sách đã thực thi để thu hút vốn đầu tư vào KCN tập trung ở
Hà Nội
2.1. Ưu đãi về thuế
Thành phố áp dụng tất cả các chính sách ưu đãi về thuế đối với tất cả các
doanh nghiệp đầu tư vào KCN tập trung, kể cả doanh nghiệp kinh doanh cơ
sở hạ tầng.
Tất cả các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh trong KCN đều
được hưởng chính sách ưu đãi về thuế theo quy định hiện hành đối với từng
sắc thuế.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh trong KCN, bên
nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh và công ty phát triển hạ
tầng KCN là doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam thực hiện nộp thuế như sau:
+ Đối với doanh nghiệp chế xuất: 10% lợi nhuận thu được và được miễn
thuế lợi tức 4 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lợi nhuận đối với doanh
nghiệp sản xuất, 15% lợi nhuận thu được và được miễn thuế lợi tức 2 năm kể
tư toàn bộ hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào; đường vào, hệ thống cấp nước
sạch, điện…
• Còn các công trình hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào:
- Ngành điện đầu tư đưa điện bán đến chân công trình của doanh nghiệp.
17
- Ngân sách hỗ trợ một phần để giải phóng mặt bằng (30%), hỗ trợ một
phần kinh phí xây lắp các công trình trong hàng rào.
- Cải cách thủ tục hành chính “một cửa, tại chỗ” triệt để theo chỉ đạo của
Chính phủ và UBND thành phố Hà Nội. Các nhà đầu tư khi đến Ban quản lý
các KCN và KCX Hà Nội được giải quyết nhanh chóng các thủ tục hành
chính (giấy phép đầu tư, đăng ký nhân sự, thiết kế kỹ thuật…) theo mô hình
cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”. Các thủ tục của các nhà đầu tư được giải
quyết công khai, minh bạch, rõ ràng, hiệu quả nên tiết kiệm được cho nhà đầu
tư nhiều thời gian không cần thiết và đáp ứng được đòi hỏi rất lớn của các nhà
đầu tư.
* Đối với các công trình xây dựng nhà ở cho công nhân: các dự án đầu
tư xây dựng nhà ở cho công nhân KCN – KCX được hưởng các ưu đãi sau:
được tiếp cận với nguồn tín dụng nhà nước và được vay vốn với lãi suất ưu
đãi. Mặt khác, Thành phố Hà Nội sử dụng ngân sách để hỗ trợ đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng của khu vực có dự án xây dựng nhà ở cho công nhân.
Miễn tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất được Nhà nước giao để thực
hiện dự án nhà ở cao tầng. Trường hợp xây dựng nhà ở cho công nhân không
phải là nhà cao tầng trong phạm vi dự án thì được giảm 50% tiền sử dụng đất.
Nếu gặp khó khăn có thể cho phép chủ dự án được chậm nộp tiền sử dụng tối
đa không quá 3 năm kể từ ngày ký quyết định giao đất.
* Miễn tiền thuê đất đối với phần diện tích được Nhà nước cho thuê để
thực hiện dự án xây dựng nhà cao tầng trong suốt thời gian thực hiện dự án.
Miễn thuế sử dụng đất trong trong thời hạn 3 năm kể từ khi được giao đất đối
với phần diện tích được Nhà nước giao để thực hiện dự án xây dựng nhà cao
tầng cho công nhân. Ngoài ra, hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở cho công