Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty trách nhiệm hữu hạn giày dép tân hợp đến năm 2020 - Pdf 35

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn 2025, Da giày sẽ trở thành ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn
của nền kinh tế, trong năm 2013 - 2014 vừa qua tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất
công nghiệp toàn ngành đạt 9.4%; với tốc độ tăng trưởng này, dự kiến kim ngạch
xuất khẩu của toàn ngành năm 2015 là 9.1 tỷ USD, năm 2020 là 14.5 tỷ USD và
năm 2025 đạt 21 tỷ USD; nâng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm đạt từ 60 - 65% trong
năm này và đạt 75 - 80% vào năm 2020 (Kim Tuyến, 2013).
Bước sang năm 2015 với một loạt các Hiệp định thương mại đã và đang
chuẩn bị được ký kết là cơ hội lớn để doanh nghiệp (DN) Việt “bơi” ra biển lớn.
Tuy nhiên, cũng là thách thức không nhỏ khi mà phần lớn DN vẫn "loay hoay"
chưa xác định được vị trí của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Cho nên các
doanh nghiệp cần phải xây dựng một chiến lược phát triển dài hạn. Mà chuỗi cung
ứng được quản trị tốt thì góp phần quan trọng để các doanh nghiệp đạt các mục tiêu
và dễ dàng vượt qua đối thủ cạnh tranh.
Bỡi vì chuỗi cung ứng là tất cả các hoạt động từ nhà cung cấp đầu tiên cho
đến khách hàng cuối cùng. Như vậy, để sản xuất một đôi sản phẩm giày dép thì đầu
tiên phải khảo sát thị hiếu người tiêu dùng, rồi đến thiết kế sản phẩm và tiến hành
sản xuất và đến bán hàng rồi sau cùng là dịch vụ để duy trì giá trị sản phẩm. Để làm
được điều đó, các doanh nghiệp cần phải hoàn thiện và quản trị tốt chuỗi cung ứng.
Đối với Công ty TNHH giày dép Tân Hợp là doanh nghiệp sản xuất giày dép
đóng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với các sản phẩm là giày dép trẻ em và người lớn,
xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Anh Quốc. Hiện tại Ban giám đốc Công ty quyết
định đầu tư thêm dây chuyền sản xuất mới và tuyển dụng nhân sự để phục vụ cho
việc mở rộng sản xuất. Xuất phát từ những vai trò quan trọng của chuỗi cung ứng
cũng như tiến trình hội nhập của các doanh nghiệp Việt Nam, Công ty cần quan
tâm đến việc xây dựng và quản trị tốt chuỗi cung ứng. Chính vì vậy để góp phần
nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm của Công ty, tác giả quyết định chọn đề tài
“Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng tại Công ty Trách

Hệ thống hóa lý thuyết về chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng.
Phân tích thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng hiện nay tại Công ty TNHH
giày dép Tân Hợp, qua đó chỉ ra những tồn tại và hạn chế.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng của Công
ty.


3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chuỗi cung ứng và hoạt động chuỗi cung ứng
của một công ty.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng hoạt
động chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH giày dép Tân Hợp, nằm trên địa bàn
cụm công nghiệp Thiện Tân, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Thời gian: Thu thập số liệu của Công ty trong 3 năm: 2012, 2013, 2014 và các
giải pháp đề xuất cho đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1 Quy trình nghiên cứu

Đặt vấn đề
Mục tiêu nghiên cứu
ccưcứu

Cơ sở lý luận chung về
chuỗi cung ứng

Thu thập dữ liệu
sơ cấp và thứ cấp

cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng, góp phần gia tăng t nh cung ứng của Công
ty.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phần phụ lục, nội dung chính của luận văn
chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động chuỗi cung ứng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH giày dép
Tân Hợp.
Chương 3: Hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH giày dép
Tân Hợp đến năm 2020.


5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng
Vào những năm đầu của thế kỷ 20 thì việc thiết kế và phát triển sản phẩm
mới diễn ra chậm chạp và lệ thuộc chủ yếu vào nguồn lực nội bộ, công nghệ và
công suất. Chia sẻ công nghệ và chuyên môn thông qua sự cộng tác chiến lược giữa
người mua và người bán là một thuật ngữ hiếm khi nghe giai đoạn bấy giờ. Các quy
trình sản xuất được đệm bởi tồn kho nhằm làm cho máy móc vận hành thông suốt
và duy trì cân đối dòng nguyên vật liệu, điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất
tăng cao.
Cho đến thập niên 60 của thế kỷ 20, các công ty lớn trên thế giới tích cực áp
dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, song
họ lại t chú ý đến việc tạo ra mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế
quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm.
Trong thập niên 70, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và
hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) được phát triển và tầm quan trọng
của quản trị hiệu quả vật liệu ngày càng được nhấn mạnh, các nhà sản xuất nhận

cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng như cắt giảm chi phí nhờ
vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh kiện được sử
dụng trong hoạt động sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp và người mua
đã chứng tỏ sự thành công của mình.
1.1.2 Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng
1.1.2.1 Khái niệm chuỗi cung ứng
Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa về chuỗi cung ứng
và quản trị chuỗi cung ứng. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tr ch lược một số
định nghĩa để bổ sung cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, bao gồm:
Theo David Blanchard (2013, bản dịch của Đoàn Thị Hồng Vân), “Chuỗi
cung ứng là tất cả các hoạt động liên quan đến vòng đời của sản phẩm từ lúc ra đời
đến khi kết thúc’’.
Theo Ganesham và Harrison (1995), “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các
nhà xưởng và những lựa chọn phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua
nguyên vật liệu, chuyển những nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm,
phân phối những thành phẩm này đến khách hàng’’.


7
Theo Lambert, Stock và Ellram (1998), “Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa
các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường’’.
Theo Chopra và Meindl (2003), “Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai
đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến thỏa mãn yêu cầu khách hàng. Chuỗi
cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và người phân phối mà còn có cả người
vận chuyển, nhà xưởng, người bán lẻ và bản thân khách hàng…’’.
Theo GS Souviron (2007), “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới gồm các tổ
chức liên quan, thông qua các mối liên kết ph a trên và ph a dưới, trong các quá
trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm, dịch vụ
trong tay người tiêu dùng cuối cùng. Việc sắp xếp năng lực của các thành viên
trong chuỗi cung ứng ở ph a trên hay ph a dưới nhằm mục đ ch tạo ra giá trị lớn

ứng để cải thiện hiệu quả hoạt động, chất lượng và dịch vụ khách hàng. Chính vì
vậy, để quản trị chuỗi cung ứng thành công, các công ty phải cùng làm việc với
nhau, chia sẻ thông tin như dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, những thay đổi năng
lực, chiến lược marketing mới, việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, công nghệ
mới, kế hoạch mua hàng, ngày giao hàng và tất cả những thông tin khác ảnh hưởng
đến hoạt động mua hàng, sản xuất, kế hoạch phân phối.
Ngày nay, ranh giới của chuỗi cung ứng cũng rất linh hoạt. Nhiều công ty đã
mở rộng ranh giới của chuỗi cung ứng sang tầng lớp nhà cung cấp của nhà cung
cấp, khách hàng của khách hàng, các công ty dịch vụ logistics, bao gồm cả các nhà
cung cấp và khách hàng nước ngoài.
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của quản trị chuỗi cung ứng
1.1.3.1 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng
Cung ứng là một hoạt động rất quan trọng không thể thiếu trong mọi tổ
chức. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có các hoạt động
như: sáng tạo, tài chính, nhân sự, mua hàng, sản xuất và phân phối. Để thực hiện tốt
các hoạt động này thì trong doanh nghiệp thường có các bộ phận:


Phòng kỹ thuật – nghiên cứu và phát triển



Phòng tài chính/ kế toán tài vụ



Phòng tổ chức nhân sự






Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.



Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.4 Mục tiêu của quản trị cung ứng
Mục tiêu của các nhà lãnh đạo cấp cao yêu cầu bộ phận cung ứng phải đạt
được mục tiêu là 5 đúng: chất lượng, nhà cung cấp, số lượng, thời điểm và giá.
Mục tiêu ở bộ phận chiến lược quản trị cung ứng là làm sao cho các bộ phận
trong công ty vận hành một các liên tục và ổn định. Phải mua hàng với giá cạnh
tranh, thỏa mãn một cách tốt nhất các mặt chất lượng, dịch vụ và giá cả phù hợp
với nhu cầu của mình. Các công việc quản trị vật tư cần phải cân đối mức vật tư dự
trữ cần thiết cho quá trình sản xuất liên tục. Chính vì thế cần phát triển nguồn cung
cấp hữu hiệu, tin cậy và tạo mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài với nhà cung cấp hiện có.
Ngoài ra bộ phận cung ứng cần tăng cường hợp tác với tất cả các phòng ban khác
trong công ty, hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ chung của công ty. Cũng
như thực hiện cung ứng một cách hiệu quả trong quản trị cung ứng.
Mục tiêu cuối cùng là ở phần nghiệp vụ cung ứng hoàn thành tốt các kế
hoạch mua hàng và cung ứng đã được lập ra.
1.1.5 Các mô hình chuỗi cung ứng
1.1.5.1 Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản
Mô hình này bao gồm công ty, các nhà cung cấp cho công ty và khách hàng
của công ty mình. Các mối liên kết trong chuỗi cung ứng chỉ dừng lại ở mức độ 2
bên. Các công ty có quy mô nhỏ sẽ có mô hình quản lý chuỗi cung ứng này.


10

cuối cùng

Nhà cung cấp
Cuối cùng dịch vụ
(Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006), tr. 24)
Sơ đồ 1.2 Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng
1.1.5.3 Mô hình chuỗi cung ứng điển hình
Trong mô hình chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một
hoặc nhiều nhà cung cấp, các bộ phận được sản xuất ở một hoặc nhiều nhà máy,
sau đó được chuyển đến công ty sản xuất. Sản phẩm được đưa vào kho và sau đó
phân phối đến nhà bán sỉ, qua nhà bán lẻ đến tay người tiêu dùng. Các mối quan hệ
này được liên kết với nhau thành một mạng lưới. Dòng sản phẩm, dịch vụ và thông
tin lưu chuyển liên tục trong cả chuỗi.
Các

Các

Các

Các

nhà

nhà

nhà

nhà

Khách

Bao gồm tất cả các nhà chế biến nguyên vật liệu đầu vào ra thành phẩm, sử
dụng các nguyên liệu và các sản phẩm gia công để tạo ra thành phẩm. Trong một
chuỗi cung ứng, có thể một nhà sản xuất này sẽ là nhà cung cấp cho nhà sản xuất
khác, tạo mối liên kết lẫn nhau.
1.1.6.3 Nhà phân phối
Là các tổ chức mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và phân phối sỉ
đến các khách hàng của họ, gọi là nhà bán sỉ. Chức năng ch nh của các nhà phân
phối là điều phối các dao động về nhu cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng
cách trữ hàng tồn và thực hiện nhiều họat động kinh doanh để tìm kiếm và phục vụ
khách hàng từ đó ăn phần trăm hoa hồng của sản phẩm. Nhà phân phối có thể tham
gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất để bán cho khách hàng, đôi khi họ chỉ là nhà
môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng. Bên cạnh đó chức năng của
nhà phân phối là thực hiện quản lý tồn kho, vận hành kho, vận chuyển sản phẩm,
hỗ trợ khách hàng và dịch vụ hậu mãi.
1.1.6.4 Nhà bán lẻ
Là những hoạt động chuyên trữ hàng và bán với số lượng nhỏ hơn đến người
tiêu dùng cuối cùng. Họ luôn theo dõi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, để mang
về những sản phẩm phù hợp. Các cửa hàng tạp hóa, cửa hàng thời trang, hệ thống
siêu thị, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm đều là những nhà bán lẻ. Thông thường
nhà bán lẻ được hưởng phần trăm trên sản phẩm cao nhất, nhưng ngược lại học
cũng người chịu lượng hàng tồn kho nhiều nhất.


12
1.1.6.5 Khách hàng
Những khách hàng hay người tiêu dùng là những người mua và sử dụng sản
phẩm. Khách hàng có thể mua sản phẩm để sử dụng hoặc mua sản phẩm kết hợp
với sản phẩm khác rồi bán cho khách hàng khác. Nắm bắt nhu cầu của khách hàng
là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà quản trị chuỗi cung ứng.
1.1.7 Hoạt động của chuỗi cung ứng

Sau khi đã nhận được vật liệu từ nhà cung cấp, doanh nghiệp sẽ tiến hành
sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng yêu cầu kho khách hàng. Có thể lựa các phương
án để sản xuất như sản xuất theo đơn hàng (make to order), sản xuất để dự trữ
(make to stock) và lắp ráp theo đơn hàng (engineer to order). Nhiều vấn đề cần
được quan tâm trong suốt quá trình sản xuất như là kiểm định chất lượng vật liệu,
năng lực sản xuất, kế hoạch sản xuất, kiểm định sản phẩm, tồn kho trên chuyền,
đóng gói…
Để tiết giảm chi phí trong sản xuất, ngày càng nhiều doanh nghiệp sử dụng
các đối tác bên ngoài hoặc đưa ra ngoài gia công. Tuy nhiêu điều này sẽ làm tăng
công việc trong quản lý chuỗi cung ứng. Đặc biệt là yêu cầu đảm bảo chất lượng
sản phẩm theo tiêu chuẩn đã được đề ra.
1.1.7.3 Hoạt động tồn trữ
Hoạt động tồn trữ bao gồm 2 thành phần là tồn trữ nguyên vật liệu và tồn trữ
thành phẩm. Để quá trình lưu kho được hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng quy
trình hoạt động của kho một cách bài bản. Bên cạnh đó cần chú trọng đầu tư vào cơ
sở hạ tầng để giúp bảo quản nguyên liệu và thành phẩm được tốt hơn, giảm hư hao,
mất mát theo thời gian.
1.1.7.4 Hoạt động phân phối
Quy trình giao hàng bắt đầu bằng việc tiếp nhận đơn hàng của khách hàng,
sau đó đến báo giá và cuối cùng là thu tiền từ khách hàng – các hoạt động cần thiết
để hoàn tất đơn hàng như vận tải, kho bãi, phân phối. Các bộ phận có liên quan
khác như mua hàng, sản xuất, kho cũng phải biết được thông tin về đơn hàng để
đảm bảo đơn hàng của khách hàng được đáp ứng đầy đủ và đúng hạn.
Theo xu hướng phát triển, các doanh nghiệp sẽ chuyển giao hoạt động vận
tải, hay hoạt động logistics cho bên thứ ba (3PL) có chuyên môn thực hiện. Họ sẽ
giúp quá trình thực hiện chuỗi cung ứng diễn ra trôi chảy với chi phí thấp hơn.
1.1.7.5 Hoạt động quản lý khách hàng
Hoạt động quản lý khách hàng có thể bao gồm khâu dự báo nhu cầu thị
trường, theo dõi và quản lý đơn hàng, lên kế hoạch cho sản phẩm mới, theo dõi tiến
độ giao hàng và phản hồi từ khách hàng. Hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp nắm

các loại hợp đồng sau để đạt hiệu quả kinh tế như: hợp đồng dài hạn (có kỳ hạn
hoặc định kỳ), hợp đồng quốc gia.
1.1.8.4 Tích hợp chuỗi cung ứng và cộng tác chiến lƣợc
Thiết kế và thực thi một chuỗi cung ứng tối ưu là điều không dễ dàng bởi vì
mục tiêu khác biệt và xung đột của các bộ phận và đối tác khác nhau. Trong thị
trường cạnh tranh ngày nay, hầu hết các công ty bắt buộc phải tích hợp chuỗi cung


15
ứng của họ và tham gia vào cộng tác chiến lược. Việc chia sẻ thông tin và hoạch
định tác nghiệp là chìa khóa cho chuỗi cung ứng tích hợp thành công. Tuy nhiên,
cần phải xác định mức độ tích hợp và cộng tác với các đối tác của mình. Trong quá
trình cộng tác có thể xảy ra những rủi ro về vấn đề rò rỉ thông tin, công nghệ.
1.1.8.5 Thu mua bên ngoài
Trong chiến lược chuỗi cung ứng, các công ty phải quyết định những loại
nguyên vật liệu gì công ty tự sản xuất và loại gì nên mua từ bên ngoài. Công ty có
thể xác định các hoạt động sản xuất nào thuộc các năng lực cốt lõi và nên được
hoàn tất ở nội bộ, và những loại nguyên vật liệu nào hoặc bộ phận nào nên được
mua từ nguồn nhà cung cấp bên ngoài. Tuy nhiên, khi sử dụng càng nhiều chi tiết
mua bên ngoài, đồng nghĩa với việc gia tăng quản lý nội bộ, gia tăng chi ph quản
lý. Cần phải cân nhắc giữa lợi ích giảm chi phí khi mua ngoài và chi phí nội bộ
trước khi quyết định mua.
1.1.8.6 Thiết kế sản phẩm
Thiết kế đóng vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng. Việc thiết kế sản phẩm
có thể gia tăng chi ph tồn kho hoặc chi phí vận tải liên quan đến các thiết kế khác,
trong khi các phác thảo khác có thể tạo điều kiện thuận lợi nhằm làm giảm chu kỳ
sản xuất. Việc thiết kế sản phẩm đòi hỏi phải có thời gian và chi phí, do đó cần phải
xác định thời điểm để tái thiết kế sản phẩm giúp giảm chi phí, giảm thời gian giao
hàng trong chuỗi cung ứng.
1.1.8.7 Công nghệ thông tin và hệ thống hỗ trợ ra quyết định

1.2.1 Yếu tố bên trong doanh nghiệp
Ở bất kỳ doanh nghiệp nào cũng tồn tại các điểm mạnh và điểm yếu, việc
phân t ch môi trường nội bộ của doanh nghiệp là vô cùng cần thiết, vì nó là cơ sở
giúp doanh nghiệp xây dựng những giải pháp tối ưu để tận dụng cơ hội và đối phó
với những nguy cơ từ bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Đối với chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp bị tác động bởi các nguồn lực
(nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài ch nh và các nguồn lực vô hình)
và hoạt động của các bộ phận có liên quan (bộ phận marketing, nhân sự, tài chính...
kế toán, nghiên cứu và phát triển, sản xuất và tác nghiệp, mua hàng...) (Nguyễn Thị
Liên Diệp, 2008, tr.71-73).
1.2.1.1 Ảnh hƣởng của các nguồn lực
Nguồn nhân lực: là yếu tố đầu tiên trong các nguồn lực mà nhà quản trị cần
phân tích. Mục đ ch của việc phân t ch nguồn nhân lực nhằm xác định khả năng
hiện tại và tiềm năng của từng nhà quản trị, đồng thời đánh giá tay nghề, trình độ
chuyên môn của người thừa hành, đánh giá kịp thời các điểm mạnh, điểm yếu của


17
từng thành viên, so sánh với các công ty khác trong ngành để biết được vị thế cạnh
tranh hiện tại và triển vọng của mình trong mối quan hệ với các đối thủ trên thị
trường. Từ đó có kế hoạch bố trí, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực hiện có, thực hiện
đào tạo và tái đào tạo để đảm bảo thực hiện chiến lược cho chuỗi cung ứng và chiến
lược kinh doanh thành công.
Nguồn lực vật chất: bao gồm những yếu tố như: vốn sản xuất, nhà xưởng,
máy móc thiết bị, nguyên vật liệu dự trữ, thông tin,... việc phân t ch các nguồn lực
này là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị hiểu được những nguồn vật chất tiềm
tàng, những hạn chế, để ra các quyết định quản trị chuỗi cung ứng th ch nghi với
thực tế.
Nguồn lực tài chính: bao gồm các hoạt động sử dụng và phân bổ nguồn vốn,

mức độ hài lòng của khách hàng, chi phí hoạt động...
Tóm lại việc phân tích các bộ phận này sẽ đánh giá được hiệu quả của hoạt
động sản xuất và tác nghiệp của doanh nghiệp từ đó giúp cho nhà quản trị chuỗi
cung ứng có cái nhìn toàn diện.
1.2.2 Yếu tố môi trƣờng bên ngoài doanh nghiệp
1.2.2.1 Các yếu tố môi trƣờng vĩ mô
Bao gồm các yếu tố chủ yếu tác động đến chuỗi cung ứng của doanh nghiệp,
những yếu tố này doanh nghiệp không kiểm soát được (Nguyễn Thị Liên Diệp,
2008, tr.40).
Các yếu tố kinh tế: Giai đoạn của chu kỳ kinh tế, nguồn cung cấp tiền tệ,
mức độ thất nghiệp, những xu hướng thu nhập quốc dân, tỷ lệ lạm phát, lãi suất
ngân hàng, những chính sách tài chính, tiền tệ, những chính sách thuế, sự kiểm soát
lương/giá cả, cán cân thanh toán, tài trợ,… các yếu tố này tác động gián tiếp đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu các yếu tố này phát triển bền
vững thì sẽ tạo điều kiện cho lĩnh vực cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng của
doanh nghiệp phát triển bền vững.
Các yếu tố chính trị và Chính phủ: Các yếu tố này ngày càng có ảnh hưởng
rất lớn đến các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các quy định về chống
độc quyền, các luật bảo vệ môi trừng, các ch nh sách đãi ngộ từ Chính phủ, các quy
định trong lĩnh vực ngoại thương… Sự ổn định về chính trị, hệ thống pháp luật rõ
ràng, thi hành nghiêm minh, triệt để sẽ tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động lâu
dài của chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng nói riêng và cho sự phát triển
doanh nghiệp nói chung, ngược lại sẽ là nguy cơ cho môi trường kinh doanh của
doanh nghiệp.


19
Các yếu tố xã hội: Tiêu chuẩn đạo đức, lối sống, phụ nữ trong lực lượng lao
động, nghề nghiệp, tính linh hoạt của người tiêu thụ, tôn giáo, dân số, hành vi…
những yếu tố này thay đổi hoặc tiến triển chậm, khó nhận ra nên các doanh nghiệp


20
nghiệp đó. Khi phân t ch môi trường kinh doanh các doanh nghiệp luôn lưu ý đến
đối thủ tiềm ẩn vì khi tham gia trong ngành sẽ làm giảm lợi nhuận cho doanh
nghiệp, do các đối thủ này sẽ đưa vào các năng lực sản xuất mới với mong muốn
chiếm thị phần, khách hàng nhanh chóng.
Các nhà cung cấp: gồm những cá nhân, doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu
đầu vào như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, các loại dịch vụ, lao
động, thông tin, năng lượng, phương tiện vận chuyển… các yếu tố này ảnh hưởng
rất lớn về giá cả, chất lượng và thời gian.
Khách hàng (người mua): Các doanh nghiệp khi tạo ra các sản phẩm,
nguyên liệu, dịch vụ… đều mong muốn làm sao thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của
khách hàng. Vì vậy, việc thường xuyên nghiên cứu nhu cầu khách hành, thu thập
thông tin, định hướng nhu cầu là cơ sở để hoạch định chiến lược kinh doanh.
Sản phẩm thay thế: là sản phẩm của các nhà sản xuất khác có thể đáp ứng
nhu cầu hiện tại của khách hàng đang dùng sản phẩm của doanh nghiệp, làm hạn
chế tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không chú ý đến
những sản phẩm thay thế tiềm ẩn sẽ bị tụt hậu với thị trừng.
Tóm lại các doanh nghiệp cần phải tìm hiểu thật kỹ các yếu tố trong môi
trường vi mô, giúp chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng hoạt động tốt trong
doanh nghiệp, vượt qua đối thủ cạnh tranh, hạn chế đối thủ tiềm ẩn, tìm ra nhiều
nhà cung cấp và sản phẩm thay thế tốt nhất.
1.3 Các xu hƣớng của quản trị chuỗi cung ứng
1.3.1 Sự mở rộng của chuỗi cung ứng
Các doanh nghiệp ngày càng mở rộng mạng lưới của mình ra ngoài biên giới
của mình. Các công ty lớn có thể tập trung vào hoạt động nghiên cứu phát triển và
giao việc sản xuất cho các đối tác ở quốc gia có chi phí thấp. Công ty còn có thể tận
dụng được lợi thế khác do đặt thù từng quốc gia để hỗ trợ cho các khu vực khác,
đặc biệt là nguồn nhân lực.
1.3.2 Công nghệ

hàng để họ đánh giá t nh bềnh vững của sản phẩm và lúc này những nhãn hiệu bềnh
vững sẽ bắt đầu xuất hiện trên các sản phẩm.
1.3.5 Cải tiến liên tục
Quản trị Lean là một chiến lược loại bỏ lãng phí, chứ không phải là chiến
lược cắt giảm chi phí. Các công ty cần gắn liền quản trị chuỗi cung ứng trong khi
vận dụng Lean. Nguyên tắc Lean và các sự kiện kaizen (cải tiến không ngừng) là
hai khái niệm chủ chốt trong quá trình liên tục cải tiến. Các doanh nghiệp cần phải
quản lý tập trung vào việc loại bỏ lãng phí, giảm hàng tồn kho và gia tăng lợi


22
nhuận. Vì vậy cần cải tiến ở những bước nhỏ nhất và tăng dần liên tục thì sẽ đem
lại những lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng của quá trình cải tiến liên tục là sự hài lòng của khách
hàng và doanh nghiệp, xác lập các tiêu chuẩn mới trong ngành đối với dịch vụ
khách hàng. Tạo khả năng nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của khách hàng có được
từ cải tiến liên tục cũng như chất lượng sản phẩm giúp doanh nghiệp trở thành lựa
chọn của đối tác. Lúc này doanh nghiệp sẽ đạt được vị thế tốt trong môi trường
cạnh tranh khắc nghiệt toàn cầu hiện nay.
1.4 Đánh giá hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng
Đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng là công việc rất cần thiết cho mọi doanh
nghiệp, nhằm giúp các doanh nghiệp hướng đến việc cải tiến và đặt mục tiêu cho
việc cải tiến chuỗi cung ứng của mình để tăng t nh cạnh tranh trên toàn cầu.
Có bốn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng, đó là: giao
hàng, chất lượng, thời gian và chi phí.
1.4.1 Tiêu chuẩn giao hàng
Tiêu chuẩn này đề cập đến giao hàng đúng hạn được biểu hiện bằng tỉ lệ
phần trăm của các đơn hàng được giao đầy đủ về số lượng và đúng ngày khách
hàng yêu cầu trong tổng số đơn hàng. Các đơn hàng không được tính là giao hàng
đúng hạn khi chỉ có một phần đơn hàng được thực hiện và khi khách hàng không có

thuộc trách nhiệm của những nhà quản lý khác nhau và vì vậy không
giảm được tối đa tổng chi phí.
 Tính chi phí cho cả hệ thống chuỗi cung ứng để đánh giá hiệu quả giá
trị gia tăng và năng suất sản xuất. Phương pháp đo lường hiệu quả như
sau:
Doanh số - Chi phí nguyên vật liệu
Hiệu quả =

Chi ph lao động + Chi phí quản lý

Sau khi xây dựng xong các tiêu ch đo lường này, công ty phải đặt ra mục
tiêu kiểm soát. Mục tiêu phải phù hợp với chiến lược kinh doanh của công ty. Điều
quan trọng là hiệu quả của cả chuỗi được giảm chứ không phải từng bộ phận.
1.5 Cải tiến cấu trúc chuỗi cung ứng
Có hai cách cải tiến chuỗi cung ứng: bằng cách thay đổi cấu trúc hoặc thay
đổi bộ phận của chuỗi cung ứng.
Thay đổi cấu trúc trong chuỗi cung ứng thường mang tính dài hạn và cần
lượng vốn đáng kể. Có 5 phương thức thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng là:
 Thống nhất từ khâu đầu đến khâu cuối theo quy trình khép kín.


24
 Đơn giản hóa quá trình chủ yếu.
 Thay đổi số lượng nhà máy, nhà kho, hoặc nơi bán lẻ.
 Thiết kế lại những sản phẩm chính.
 Chuyển quá trình hậu cần của công ty cho bên thứ ba.
Thay đổi các bộ phận trong chuỗi cung ứng bao gồm con người, hệ thống
thông tin, tổ chức, quản lý sản xuất và tồn kho, quản lý chất lượng. Có 5 cách để
thực hiện điều này:
 Sử dụng những đội chức năng chéo.

Liên quan đến các hoạt Liên quan đến hệ thống
động xảy ra trong phạm vi các công ty làm việc với
Phạm vi

của một tổ chức riêng lẻ

nhau và kết hợp các hoạt
động để phân phối sản
phẩm đến thị trường.

Quản trị các hoạt động Bao gồm tất cả các hoạt
bao gồm vận tải, kho bãi, động logistics nhưng thêm
Công việc

dự

báo, đơn hàng, giao vào các hoạt động khác

nhận, dịch vụ khách hàng

như phát triển sản phẩm,
tiếp thị, tài chính và dịch
vụ khách hàng.

(Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006), tr. 8)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status