Phần Mở Đầu
1. Đặt vấn đề
Hiện nay nước ta đó là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế
giới WTO, đây là một động lực lớn để nước ta hoàn thành công cuộc đổi mới
sớm đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp. Đồng thời với công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông
nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp đó và
đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai.
Để đáp ứng nhu cầu rất “ nóng ” của nền kinh tế, nước ta đó chuyển một
phần rất lớn diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng cho các mục đích phi nông
nghiệp có hiệu quả cao. Đồng thời với quá trình phát triển kinh tế là quá trình
biến đổi dân số, một bộ phận dân cư chuyển từ vùng nông thôn ra thành thị, từ
miền núi xuống đồng bằng, từ khu kém phát triển tới những vùng phát triển hơn
tạo nên nhu cầu về nhà ở và các dịch vụ đi kèm ngày càng cao. Đó là nguyên
nhân cơ bản gây ra biến động đất đai.
Thực tế trên cho thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
điều rất cần thiết, qua đó nhà nước thiết lập quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất đối với nhà nước. Thông qua công tác này sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc quản lý đất đai, và từ đây chúng ta nhìn nhận lại những kết quả đó
đạt được và cả những thiếu sót, yếu kém trong việc thực hiện chức năng quản
lý đất đai của ngành nói chung và của địa phương nói riêng. Qua đó rút ra
những bài học kinh nghiệm chỉ ra những nguyên nhân, yếu tố tác động đến
công tác quản lý nhà nước về đất đai để việc quản lý đất đai ngày càng chặt
chẽ.
Thành phố Bắc Ninh là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc
Ninh. Thời gian qua, phòng Tài nguyên và Môi trường đó tiến hành làm các thủ
tục và trình cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD)
đất cho các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức trên địa bàn. Tuy nhiên, công tác
này đến nay triển khai vẫn còn chậm, nhiều hộ đó được cấp nhưng không đến
lấy giấy chứng nhận, một số diện tích đất lâm nghiệp có hiện tượng cấp chồng
chéo…
TN&MT, Sở TN&MT. Điều tra qua thực tế của những người chuyển QSDĐ và
dư luận quần chúng nhân dân trên địa bàn.
3
1.4.2. Phương pháp thu thập số liệu:
Dùng phương pháp kết hợp giữa tài liệu, số liệu có sẵn như: sổ mục kê, sổ
cấp GCN, quyết định giao đất, các biểu số liệu thống kê, kiểm kê đất đai; số liệu
giao đất, cấp GCN của các hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức.
1.4.3. Phương pháp xử lý thông tin:
Trên cơ sở các số liệu thu thập được dùng phương pháp xử lý thông tin để
loại bỏ các số liệu, thông tin chính xác, sai sự thật
1.4.4. Phương pháp phân tích tổng hợp:
Phân tích từng giai đoạn, từng chủ thể của từng vấn đề nghiên cứu nhằm
phân tích tiến trình cấp giấy, tổng hợp kết quả nghiên cứu từ việc phõn tích số
liệu, tài liệu.
1.4.5. Phương pháp so sánh:
So sánh tình hình cấp GCN, kết quả đạt được qua các năm, các giai đoạn,
so sánh các quy trình, từ đó rút ra những hiệu quả đạt được sau khi thực hiện.
1.4.6. Phương pháp chuyên gia:
Pháng vấn tham khảo ý kiến của cán bộ quản lý Nhà nước về đất đai.
1.4.7. Phương pháp thống kê:
Tiến hành thống kê các số liệu, tài liệu địa chính, các tài liệu liên quan về
diện tích, vị trí, mục đích sử dụng… đó được thu thập thông qua quá trình điều
tra.
1.4.8. Phương pháp đánh giá tổng hợp:
Đánh giá tình hình thực hiện việc quản lý nhà nước về đất đai, việc thực
hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
4
Phòng - Quảng Ninh và là đầu mối giao thông quan trọng trong khu vực Lạng
Sơn - Bắc Ninh - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
- Là cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, thành phố Bắc Ninh là
cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và có vị trí quan
trọng đối với an ninh quốc phòng;
Vị trí địa lý thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong các
tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển
đô thị bền vững đậm đà bản sắc.
2.1.1.2. Địa hình, địa mạo
Thành phố Bắc Ninh có địa hình của vựng đồng bằng trung du Bắc Bộ, tương
đối bằng phẳng, gồm địa hình đồng bằng và địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và
trung du. Hướng dốc chính của địa hình theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.
Địa mạo: gồm các khu vực đồng bằng với độ dốc trung bình < 2% xen kẽ
với các đồi bát úp có độ dốc sườn đồi từ 8 -15% và có độ cao phổ biến 40 - 50m.
Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,25%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn
thành phố, phân bố tại: xã Hòa Long (nỳi Quả Cảm); phường Đáp Cầu, Thị Cầu,
Vũ Ninh (núi Ông Tư, Búp Lê, Điêu Sơn); phường Vân Dương, xã Nam Sơn
(núi Cửa Vua, Bàn Cờ); phường Hạp Lĩnh (núi Và).
2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung
bình năm 23,3oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,9 oC (tháng 7), nhiệt độ
trung bình tháng thấp nhất là 15,8oC (tháng 1). Sự chênh lệch nhiệt độ giữa
tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1oC.
- Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400 1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng
5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.
6
4.270,17ha và đất chưa sử dụng 55,96ha. Về đặc tính đất đai được xác định qua
việc phân tích thổ nhưỡng đất thể hiện trên bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/25.000
7
toàn tỉnh Bắc Ninh do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp xây dựng năm
2000, bao gồm có các loại đất chính sau:
- Đất loang lổ, diện tích 296,46ha.
- Đất phù sa loang lổ, diện tích 481,74ha.
- Đất xám feralit, diện tích 234,42ha.
- Đất gley chua, diện tích 667,03ha.
- Đất phù sa chua, diện tích 1.297,14ha.
- Đất xám loang lổ, diện tích 963,35ha.
* Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: với lợi thế nằm cạnh sông Cầu về phía Bắc thuộc vùng
trung hạ lưu của hệ thống sông Cầu, có sông nhánh Ngũ Huyện Khê nằm tại khu
vực phía Tây và sông Tào Khê nằm tại khu vực phía Đông của thành phố. Các
dũng chảy đó cung cấp nước mặt phong phú cho các hoạt động sản xuất, giữ vai
trũ quan trọng về công tác thủy lợi của địa phương mà còn tạo giá trị kinh tế cao
về giao thông đường thủy: cảng sông Đáp Cầu chuyên phục vụ bốc xếp vật tư,
nguyên liệu cho nhà máy Kính cùng nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh vật liệu
xây dựng trên địa bàn. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố có hệ thống hồ, ao phân
bố rải rác trong các khu vực cùng với hệ thống kênh mương thủy lợi đảm nhận
chức năng điều tiết, lưu chuyển lượng nước mặt cho thành phố và tạo cảnh quan,
không gian môi trường sinh thỏi.
Nguồn nước ngầm: theo kết quả điều tra địa chất thủy văn Bắc Ninh có
nguồn nước ngầm mạch nông, chiều dày tầng trung bình 10 - 12m và là tầng
chứa nước có áp, lưu lượng nước khá phong phú ( 3,5 - 10,6l/s.m ). Vùng phía
Bắc có trữ lượng khá lớn, khả năng khai thác với trữ lượng cao và chất lượng
đảm bảo: khu vực làng Hữu Chấp, Đẩu Hàn thuộc xã Hòa Long với trữ lượng
chựa có ở các làng. Bờn cạnh đó, các giá trị văn hoá truyền thống mang bản sắc
riêng của quê hương vẫn được bảo tồn, tôn tạo và phát triển, là nền dân ca quan
họ cổ vô cùng đặc sắc ngày càng được phát triển và cùng với các ngày lễ hội
đình, đền, chùa ở các làng xã được tổ chức, diễn ra sau tết âm lịch, người dân
thành phố coi lễ hội truyền thống dân tộc là một nét đẹp sinh hoạt văn hóa tinh
thần được nhân dân trân trọng và gìn giữ.
* Cảnh quan môi trường
Thành phố có cảnh quan và không gian vô cùng đặc biệt, giữa một vùng
đồng bằng trù phú nổi lên một quần thể các gò đồi bát úp và thành phố nằm cạnh
sông Cầu thơ mộng, mặt nước bình yên và có một quần thể di tích lịch sử văn
hóa đình, đền, chùa: là Văn Miếu - di tích một vùng hiếu học nằm trên đỉnh núi
Nác; là Thành Cổ - công trình có kiến trúc nghệ thuật quân sự thành luỹ độc
đáo; là thị thành Bắc Ninh nằm trong cụm không gian cảnh quan đô thị cổ
(không gian hạt nhân của đô thị có tính lịch sử cao). Tất cả tạo cho thành phố
một cảnh quan hấp dẫn, đầy tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa. Nếu biết
khéo léo tổ chức, kết hợp giữa các hoạt động văn hóa truyền thống với những
sinh hoạt văn hóa hiện đại thì những cảnh quan nơi đây thực sự là những điểm
9
du lịch, tham quan hấp dẫn du khách, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế mà còn
phát triển thành sản phẩm văn hoá phục vụ công tác giáo dục truyền thống, văn
hiến của quê hương.
Vấn đề vệ sinh, môi trường sinh thái chung của thành phố trong những
năm gần đây đó có những biểu hiện và nguy cơ bị ô nhiễm do quá trình phát
triển kinh tế, đặc biệt là phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làng nghề
dẫn đến môi trường đất, môi trường không khí và nguồn nước cùng bị ô nhiễm,
ảnh hưởng xấu đến đời sống và sinh hoạt của người dân. Đặc biệt, là môi trường
không khí ở khu vực phía Tây của thành phố; lượng nước mặt ở sông Ngũ
Huyện Khê (vào tháng 2, tháng 3 bị ô nhiễm nặng do ảnh hưởng của nước thải
kim ngạch xuất khẩu đạt 1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm. Năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền
Bắc. Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc
Ninh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
b. Dân số và lao động
Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2010, Bắc ninh có 1.038.229 người .
Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 74,1%, dân số thành thị chiếm 25,9%.
Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành
thị và giảm dần số nông thôn.
Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động. Với chất
lượng ngày càng được nâng cao đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng
hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của
tỉnh.
Tổng số lao động xã hội toàn thành phố chiếm khoảng 67% tổng dân số,
tương đương với khoảng 100.351 người, từ năm 2001 đến nay tốc độ tăng bình
quân mức gia tăng dân số trong tuổi lao động khoảng 5,16%/năm. Chất lượng của
nguồn nhân lực chủ yếu qua trình độ học vấn và đặc biệt là trình độ chuyên môn
kỹ thuật. Theo điều tra, lao động khoa học kỹ thuật của thành phố chiếm khoảng
40% dân số trong độ tuổi lao động, cao hơn mức trung bình của cả tỉnh; tỷ lệ thất
nghiệp khu vực thành thị là khoảng 4,4% và tỷ lệ thời gian lao động khu vực nông
thôn là khoảng 82%. Năm 2007, đã đào tạo nghề và giải quyết việc làm được
4.520 lao động, đạt 148% kế hoạch; tỷ lệ hộ nghèo còn 4,7%. Trình độ phát triển
nguồn nhân lực còn thể hiện qua phân công lao động theo nhóm ngành/ngành. Số
lao động làm trong các ngành kinh tế quốc dân là 49 ngàn người (năm 2005),
trong đó có khoảng 12,2% làm việc trong nhóm ngành nông lâm ngư, 38,8% làm
11
việc trong các nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và 49% làm trong các ngành
- Đường sông: phía Bắc thành phố có sông Cầu chảy qua dài 32,3km, có
khả năng cho các phương tiện thuỷ có tải trọng 200 - 250 tấn đi qua. Trên mạng
lưới đường sông hiện có 3 cảng lớn, hàng năm xếp dỡ một lượng hàng lớn chủ
yếu là nguyên vật liệu phục vụ cho công nghiệp và xây dựng:
- Cảng Đáp Cầu (do cục đường sông quản lý) có bãi chứa 2ha, trước đây
lượng hàng lưu thông qua là 200.000 tấn/năm, nay chỉ còn 100.000 tấn/năm chủ
yếu là vật liệu xây dựng.
- Cảng chuyên dùng Nhà máy kính Đáp Cầu có công suất trên 30.000
tấn/năm; cảng Nhà máy kính nổi Quế Võ có công suất 35.000 tấn/năm.
- Đường sắt: khu vực nội thị của thành phố có tuyến đường sắt Hà Nội Lạng Sơn chạy qua dài gần 8,8km, chia thành phố thành hai khu vực Đông và
Tây. Dọc theo tuyến qua thành phố có 2 ga: ga hành khách (phường Ninh Xá ) và
ga hàng hóa ( phường Thị Cầu ). Hiện tại, chất lượng đường và ga đều đã xuống
cấp, khả năng sử dụng khai thác hạn chế, các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng
vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày
càng có xu hướng giảm.
Nhìn chung: hệ thống đường bộ trên địa bàn có mật độ tương đối dày, liên
hệ với đường sắt và đường sông tạo thành mạng lưới giao thông thuận tiện, giữ
vai trò quan trọng trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội với các huyện cùng
như các địa phương trong khu vực. Tình trạng các tuyến đường quốc lộ, đường
nội thị cơ bản đạt tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy hoạch, chất lượng đường tốt, đảm
bảo thuận tiện cho các hoạt động và các thành phần tham gia giao thông. Tuy
nhiên, việc tồn tại tuyến đường sắt trong khu vực nội thị đã ảnh hưởng đến mối
liên hệ và mức độ liên kết giao lưu mà còn ảnh hưởng đến môi trường đô thị cùng
như mức độ an toàn giao thông của người và phương tiện tham gia giao thông.
Tình trạng kỹ thuật các tuyến tỉnh lộ, trục đường xã, đường thôn nhìn chung chưa
tốt, nền đường, mặt đường hẹp và chất lượng đã xuống cấp.
d. Thuỷ lợi
Thành phố có hệ thống thuỷ nông, kênh mương chính bao gồm: sông Ngũ
luận chính trị; 06 trường phổ thông trung học; 41 trường trung học cơ sở và tiểu
học; 24 trường mầm non, 215 nhà trẻ và 191 lớp mẫu giáo và số học sinh mầm
non, tiểu học, trung học cơ sở hiện có 35.101học sinh. Các trường dân lập và
trung tâm giáo dục thường xuyên cùng được quan tâm đầu tư phát triển như
14
trường phổ thông trung học Nguyễn Du, trung tâm giáo dục....Diện tích đất cơ sở
giáo dục, đào tạo có 96,91ha, trong đó diện tích dành cho khối mầm non, tiểu học,
trung học cơ sở có 77,98ha; khối trường trung học phổ thông và trung tâm giáo
dục thường xuyên, khối trường cao đẳng, trung học và dạy nghề có 18,93ha.
Mạng lưới giáo dục ngày càng phát triển đa dạng, chất lượng giáo dục được nâng
lên. Hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 đạt 99,9%, tốt nghiệp
trung học cơ sở vào lớp 10 đạt 96,3%, tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học
và cao đẳng trên 30%. Tỷ lệ học sinh đạt giải kỳ thi chọn học sinh giái quốc gia
tăng từ 30% năm 2000 lên 50% - 60% giai đoạn 2001 - 2005. Ngoài ra, các
trường Cao đẳng và dạy nghề trên địa bàn hàng năm còn đào tạo được hàng
nghìn cán bộ có trình độ cao đẳng và công nhân lành nghề, tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo chiếm khoảng 23%. Đội ngũ giáo viên các cấp được bảo đảm về số lượng,
từng bước nâng lên về chất lượng đáp ứng nhu cầu dạy và học trong giai đoạn
hiện nay, riêng đội ngũ giáo viên của thành phố năm học 2007-2008 có trình độ
trên chuẩn: khối mầm non (36,3%), tiểu học (75,7%), THCS (45,7%). Nhiều địa
phương đã quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học khang trang sạch
đẹp, hầu hết các trường phổ thông đều được xây dựng cao tầng, kiên cố.
f. Sự nghiệp y tế
Tính đến ngày 31/12/2007, trên địa bàn thành phố có bệnh viện đa khoa
của tỉnh và bệnh viện đa khoa tư nhân, trung tâm y tế dự phòng và 19 trạm y tế
với 103 giường bệnh, ngoài ra còn có trên 131 cơ sở hành nghề y. Diện tích đất cơ
sở y tế hiện có 22,92ha, bình quân 1,55m2/người. Mặc dù những năm qua còn
gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất xuống cấp, điều kiện khám chữa bệnh cho
nhà văn hóa được xây dựng riêng biệt, 29 nhà văn hóa sử dụng đình chùa, sân
kho.làm nhà văn hóa ); có 2 thư viện cấp thành phố, 06 thư viện cấp xã, 85 tủ sách
các làng, khu phố; 61 điểm vui chơi trẻ em. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố có
các công trình Nhà bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa thể thao của tỉnh góp
phần thúc đẩy phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng ở cơ sở.
Hoạt động thể thao quần chúng được duy trì và ngày càng phát triển sâu
rộng với nhiều loại hình đa dạng và phong phú như: cầu lông, bóng đá, CLB xe
đạp - mô tô, CLB dưỡng sinh phát triển mạnh mẽ từ các làng, khu phố đến các cơ
quan đơn vị trên địa bàn. Tính đến nay 8/19 xã, phường có trung tâm thể dục thể
thao; có 76 sân thể thao ( 23 sân cấp xã, 53 sân cấp làng, khu phố); 100% các cơ
16
quan đơn vị có phong trào thể dục thể thao phát triển; 401 điểm sân chơi, bãi tập;
05 bể bơi; 04 phường có sân vận động cấp III và đã có 129 CLB thể dục thể thao
hoạt động, tỷ lệ số người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên là 28%, số gia
đình thường xuyên luyện tập là 24%. Hoạt động thể thao thành tích cao đạt 22
huy chương cấp tỉnh, trong đó có 10 huy chương vàng, 05 huy chương bạc, 07
huy chương đồng, điển hình là môn bóng bàn đạt 06/22 huy chương các loại.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn hoá thể thao còn
thiếu, sân bãi, dụng cụ không đáp ứng được phòng trào. Trong 19 xã, phường
hiện còn tới 39 làng, khu phố trong đó có 20 là đang xây dựng nhà văn hóa và 19
làng, khu phố chưa có đất xây dựng nhà văn hóa; 31 làng, khu phố chưa có đất
sân thể thao và một số sân thể thao cấp xã. Diện tích các cơ sở văn hóa thể thao
toàn thành phố hiện có 122,68ha, bình quân 5,26m2/người, cao hơn mức bình
quân chung của tỉnh (2,88m2/người).
h. Năng lượng, Bưu chính viễn thông
Thành phố hiện đang sử dụng nguồn điện từ lưới điện quốc gia 110KV với
nhiều cấp điện áp (35Kv, 22Kv, 10Kv và 6Kv), có trên 240 trạm biến áp (chủ yếu
là trạm biến áp phân phối loại treo) hoạt động tối đa công suất, đảm bảo kịp thời
so với đất quốc phòng an ninh của tỉnh chiếm 57,3%.
2.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh
2.3.1. Tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan
Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên và môi
trường đến toàn thể nhân dân, nhằm nâng cao ý thức và nghiêm chỉnh chấp hành
các quy định của pháp luật. Thực hiện có hiệu quả các văn bản quy định cụ thể,
chi tiết của UBND tỉnh về công tác quản lý, sử dụng đất đai.
2.3.2. Tình hình đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và
bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Việc đo đạc bản dồ địa chính theo toạ độ, độ cao nhà nước trên địa bàn
thành phố đó hoàn thành, kết quả có độ chính xác khá cao, đồng bộ đó đáp ứng
yêu cầu về quản lý đất đai ở các cấp nhất là phục vụ cho công tác thống kê, kiểm
kê đất đai, cấp GCNQSDĐ, giải quyết tranh chấp đất đai. Tuy nhiên do biến
động đất đai trên địa bàn thành phố là rất lớn, việc cập nhật chỉnh lý biến động
không thường xuyên, và vậy một số khu vực bản đồ chưa phản ánh đúng hiện
18
trạng sử dụng đất.
2.3.3. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng (gọi chung
công tác quy hoạch) là cơ sở rất quan trọng để thực hiện quản lý đất đai theo
quy hoạch, làm căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất,
phát triển thành phố Bắc Ninh theo hướng bền vững. Xác định tầm quan
trọng của công tác quy hoạch, UBND thành phố Bắc Ninh đó hoàn thành
việc lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm
(2011 - 2015) của thành phố và 19/19 xã, phường đó được phê duyệt.
2.3.4. Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Cựng với quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế, việc thu hồi đất của các tổ
Stt
Loại đất
Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích tự nhiên
8.260,88
100,00
Đất nông nghiệp
3.681,66
44,57
1.1
Đất sản xuất nông nghiệp
3.115,42
37,71
1.2
2.1
Đất ở
1.495,57
18,10
2.2
Đất chuyên dùng
2.608,14
31,57
2.3
Đất tôn giáo, tín ngưỡng
21,44
0,26
2.4
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
96,06
34,77
0,42
3.2
Đất đồi núi chưa sử dụng
20,92
0,25
1
3
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Ninh)
20
Qua công tác thống kê, kiểm kê ta nhận thấy rằng thành phố Bắc Ninh
trong thời kỳ 2010-2014 có sự biến đổi nhanh và mạnh nhất là việc chuyển đổi
cơ cấu từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp (bảng 2.2).
Bảng 2.2. Biến động đất đai giai đoạn 2010 - 2014 của thành phố Bắc Ninh
Diện tích
Stt
Loại đất
8.260,88
3.681,66
3.115,42
221,78
344,34
0,12
4.523,53
1.495,57
2.608,14
21,44
96,06
(ha)
8.260,88
3.802,10
3.210,71
231,28
359,99
0,12
4.403,09
1.450,09
2.533,18
21,44
96,06
Biến động năm
2014 so với năm
2010
Tăng (+) Giảm (-)
120,44
Thành phố Bắc Ninh đang trong quá trình đô thị hóa và vậy diện tích
đất phi nông nghiệp tăng nhanh và mạnh trong những năm gần đây. Năm
2010 diện tích đất phi nông nghiệp của thành phố Bắc Ninh là 4.403,09ha
21
đến năm 2014 diện tích đất phi nông nghiệp là 4.523,53ha tăng 120,44ha.
2.3.7. Công tác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tài chính về
đất đai, giá đất
Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được đảm bảo
theo đúng quy định của pháp luật, các khoản thuế nộp ngân sách Nhà nước từ
việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất đóng góp rất lớn trong nguồn
thu ngân sách của thành phố, từ năm 2012 – 2014, thực hiện chuyển nhượng
quyền sử dụng đất 9.542 trường hợp; tặng cho, thừa kế và tách thửa đất 8.776
trường hợp. Tuy vậy, tình hình chuyển nhượng trao tay, không thực hiện kê
khai thực hiện nghĩa vụ tài chính của người dân vẫn còn diễn ra nhiều. Hàng
năm công tác thống kê, khảo sát, xây dựng giá đất trên địa bàn luôn được
UBND thành phố thực hiện nghiêm túc, đúng quy định (UBND thành phố
Bắc Ninh, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014).
2.3.8. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
Trong những năm qua, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dõn có nhiều
diễn biến phức tạp, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo có chiều hướng gia tăng,
tập trung ở một số lĩnh vực như: tranh chấp đất đai, cấp giấy chứng nhận, bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư do GPMB các công trình, khiếu nại về trách nhiệm
chính quyền các cấp chậm giải quyết công việc cho nhân dân. Từ năm 2010 đến
năm 2014, UBND thành phố đó tiếp nhận và giải quyết 462 đơn khiếu nại, tố
cáo, đề nghị, kiến nghị của công dân liên quan đến lĩnh vực đất đai (UBND
thành phố Bắc Ninh, 2010, 2010, 2011, 2012, 2014).
Nhìn chung, công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị,
kiến nghị về tranh chấp đất đai đó bảo đảm đúng chính sách pháp luật quy
Diện tích đất trồng cây lâu năm là 51,08 ha
- Đất lâm nghiệp
Tổng diện tích 221,78 ha chiếm 2,68% tổng diện tích tư nhiên. Trong đó,
diện tích đất rừng sản xuất là 2,06 ha, rừng đặc dụng là 219,18 ha.
Ngoài ra còn diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 351,78 ha và diện tích đất
nông nghiệp khác 0,12ha, toàn bộ số diện tích này nhân dân sử dụng vào
việc nuôi cá, trồng cây rau, hoa màu cải thiện đời sống hàng ngày.
* Đất phi nông nghiệp:
Diện tích đất phi nông nghiệp: 4.270.17ha, chiếm 51.7% diện tích tự nhiên.
* Đất chưa sử dụng:
Hiện còn 55.96ha, chiếm 0.7% diện tích tự nhiên .
Bảng 2.3: Hiện trạng sử dụng đất năm 2014
Stt
Loại đất
Mã số
Tổng diện tích
Diện tích Cơ cấu
(ha)
(%)
8.260,88
23
100,00
Đất ở
NNP
SXN
LNP
NTS
LMU
NKH
PNN
OTC
3.934,75
3.361,07
221,78
351,40
0,12
4.270,17
1.421,88
47,63
40,68
2,68
4,26
0,00
0,01
51,70
17.21
Đất ở tại nông thôn
CSD
55,96
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
35,04
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
20,92
Núi đá không có rừng cây
NCS
00,00
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Ninh
24
29,52
0,26
1,16
3,50
0.05
0,67
0,42
0,25
2.5. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA THÀNH PHỐ BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2012 - 2014
2.5.1. Kết quả cấp GCNQSD đất cho các hộ gia đình, cá nhân
* Tổng hợp số hộ được cấp giấy CNQSD đất ở giai đoạn 2012 - 2014
được
cần
được
cấp
cấp
cấp
cấp
cấp
cấp
Phường Võ Cường
920
918
275
275
852
845
Phường Kinh Bắc
285
279
500
493
1.460 1.450
Phường Vũ Ninh
102
102
186
186
270
265
Phường Ninh Xá
115
101
130
126
Phường Suối Hoa
72
72
60
56
68
68
Phường Đại Phúc
418
406
105
103
400
380
Phường Vân Dương
86
86
125
120
216
210
Phường Hạp Lĩnh
63
63
55
55
Xã Nam Sơn
40
38
62
56
106
98
Xã Phong Khê
65
62
89
85
115
93
Xã Kim Chân
36
36
65
63
76
76
Tổng
2.736 2.676 2.175 2.116 4.722 4.537
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Ninh
Kết quả cấp giấy CNQSD đất giai đoạn 2012 - 2014 của thành phố Bắc
Ninh được thể hiện qua bảng 2.4.
Số liệu tại bảng 2.4 cho thấy:
Năm 2012 tổng số hộ cần cấp đất ở là 2.736 hộ và đã cấp được 2.676 hộ
đạt 97,81% tổng số hộ có nhu cầu. Năm 2013 cấp được 2.116/2.175 hộ đạt
97,29% và đến năm 2014 cấp được 4.537/4.722 hộ đạt 96,08%.