TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
ĐỂ CƯƠNG ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI
TRƯỜNG NƯỚC MẶT TẠI SÔNG CẦU ĐOẠN CHẢY QUA
ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN
Họ và tên sinh viên
: NGUYỄN BÌNH ƠN
Lớp
: ĐH2KM1
Giảng viên hướng dẫn
: Ths.Phạm Phương Thảo
Cơ quan công tác
: Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường HN
Giảng viên hướng dẫn
: Ths.Nguyễn Thị Thanh Thảo
Cơ quan công tác
MỤC LỤC
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển
của sự sống trên trái đất. Đặc điểm của tài nguyên nước là được tái tạo theo quy luật
thời gian và không gian. Nhưng ngoài quy luật tự nhiên, hoạt động của con người đã
tác động không nhỏ đến vòng tuần hoàn của nước. Nước ta có nguồn tài nguyên nước
khá phong phú nhưng khoảng 2/3 lại bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ quốc gia, mùa khô lại
kéo dài 6 - 7 tháng làm cho nhiều vùng thiếu nước trầm trọng.
Hiện nay, cùng với sự phát triển đất nước theo hướng CNH - HĐH, quá trình đô
thị hoá diễn ra mạnh mẽ, môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng đang bị
tác động rất lớn. Chất lượng nước các con sông đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đồng
thời khả năng tiếp nhận chất thải của chúng cũng bị mất dần như sông Nhuệ, sông Tô
Lịch, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn,… vùng thượng lưu cũng như hạ lưu các con sông
đã chịu tác động mạnh mẽ từ các hoạt động sinh hoạt, y tế, hoạt động sản xuất nông,
lâm nghiệp và công nghiệp… từ các tỉnh trong lưu vực sông.
Sông Cầu là dòng lớn của hệ thống sông Thái Bình, bắt nguồn từ vùng núi cao
tỉnh Bắc Kạn. Dòng chính sông cầu dài 288 km, chảy qua các tỉnh Bắc Kạn, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội rồi đổ vào sông Thái Bình tại Phả
Lại - Hải Dương, lưu vực sông Cầu có diện tích khoảng 6030 km 2. Cùng với sự phát
triển kinh tế - xã hội của vùng, gia tăng dân số, khai thác khoáng sản cùng với các khu
công nghiệp chế biến mọc lên theo từng ngày, sự canh tác nông nghiệp thâm canh ở 2
bên khu vực sông đã làm cho chất lượng nước sông Cầu bị suy giảm rõ rệt trong
những năm qua.
Đoạn trung lưu, từ ngã ba sông Đu gặp sông Cầu đến Phù Lôi (Sóc Sơn), đây là
khu vực có mức độ phát triển kinh tế tương đối cao. Đoạn sông này phải tiếp nhận một
lượng lớn nước thải (khoảng 300 triệu m 3/năm) từ các hoạt động sinh hoạt, công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ... chất lượng nước của đoạn này đã suy giảm một cách
- Luận giải nguyên nhân gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn
nước sông Cầu đoạn chảy qua huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi trường nước sông
Cầu đoạn
chảy qua huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
4. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN
CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1. Vị trí địa lý
Sóc Sơn là huyện ngoại thành Thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô
6
Hà Nội 40 km về phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên 30.651,34 ha, bao gồm 26
đơn vị hành chính: 25 xã và 01 thị trấn.
Có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Nam giáp huyện Đông Anh;
- Phía Đông giáp huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Tây giáp huyện Mê Linh.
Huyện có vị trí cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội: cửa ngõ phía Bắc theo Quốc lộ
3, cửa ngõ phía Tây theo Quốc lộ 2, cửa ngõ phía Đông theo Quốc lộ 18. Đây là
địa bàn có vị trí thuận lợi với hệ thống giao thông đối ngoại khá phát triển, đặc
biệt là cảng hàng không quốc tế Nội Bài, các trục quốc lộ Hà Nội - Thái
Nguyên, Bắc Ninh - Hà Nội - Việt Trì.
4.1.2. Địa hình, địa chất
Sóc Sơn là vùng bán sơn địa với 3 loại địa hình chính: vùng đồi gò, vùng
giữa và vùng đồng bằng ven sông.
Vùng đồi gò của Sóc Sơn là hệ thống núi thấp và đồi gò, là một phần kéo
vào khoảng thời gian ngắn dễ gây lũ, đất đai xói mòn, rửa trôi làm cho đất nghèo
kiệt, nhất là đối với những diện tích đất không có thảm thực vật che phủ.
4.1.4. Thuỷ văn
Sóc Sơn có hệ thống sông ngòi dày đặc, quan trọng nhất là sông Cầu, sông
Công và sông Cà Lồ, có ảnh hưởng tới chế độ thuỷ văn của huyện. Bên cạnh đó
là hệ thống các suối và nhiều đầm, hồ tự nhiên là nguồn dự trữ nước quan trọng
vào mùa khô. Hệ thống sông không chỉ cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt
mà còn là nơi tiếp nhận nguồn nước thải và tiêu nước khi mùa mưa lũ đến.
Trong đó sông Cầu đoạn chảy qua huyện Sóc Sơn có chiều dài khoảng 15
km, với mật độ lưới sông 0,95 km/km2. Sông Cầu có nhiều sông nhánh và suối
nhỏ đổ vào, đặc biệt là sông Cà Lồ vì vậy mà có ý nghĩa quan trọng trong việc
cung cấp nước mặt.
Đối với vùng đồi gò Sóc Sơn là một phần của nguồn sinh thủy, với mạng
lưới suối và kênh mương khá dày từ 1,2 - 1,5 km/km2, bao gồm: suối Cầu
Chiền, suối Cầu Lai, suối Thanh Hoa, suối Lương Phú, suối Đồng Quang, ngòi
Nội Bài, chảy ra 3 sông bao quanh huyện là: sông Công (phía Bắc), sông Cầu
(phía Đông) và sông Cà Lồ (phía Nam).
4.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
8
4.2.1. Dân số và lao động
Dân số toàn huyện có 270.300 nhân khẩu, năm 2008 có 281.051 khẩu, đạt
tốc độ tăng bình quân 2006 - 2008 là 101,97. Trong đó, nhân khẩu nông nghiệp
chiếm khoảng 84,56 %, năm 2006 - 2008 bình quân tăng 1,69 %, nhân khẩu phi
nông nghiệp chiếm khoảng 15,44 %, đạt tốc độ tăng bình quân năm 2006 - 2008
là 3,48 %.
Tổng số hộ của huyện năm 2008 là 60.966 hộ, năm 2006 - 2008 tăng bình
quân 1,5%. Trong đó hộ nông nghiệp tăng bình quân là 0,5%, hộ phi nông
nghiệp tăng bình quân 7,1%.
được thực hiện góp phần ngăn chặn dịch bệnh, bảo vệ cho sức khoẻ của người
dân. Tuy nhiên còn xảy ra tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm ở một số nơi
chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong xã hội.
4.2.5. Giao thông - thuỷ lợi
Sóc Sơn là đầu mối của nhiều tuyến giao thông quan trọng nối liền Thủ đô
Hà Nội với các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như Quảng Ninh, Hải
Phòng, Bắc Ninh…; với các tỉnh phía Bắc như Thái Nguyên, Lào Cai… thông
qua Quốc lộ 2, 3, 18… và đặc biệt là tuyến cao tốc Bắc Thăng Long - Nội Bài
nối sân bay Nội Bài với trung tâm thành phố. Tổng chiều dài các tuyến đường
bộ trên địa bàn huyện là 227 km.
Năm 2010 toàn huyện có 27 công trình hồ chứa, 119 công trình tiểu thuỷ
nông, 119 trạm bơm và khoảng 73.810 km kênh mương. Hệ thống đê, kè các
tuyến sông được gia cố, cơ bản đáp ứng yêu cầu phòng chống lũ lụt của huyện
hằng năm. Mặc dù vậy vẫn còn nhiều tồn tại đó là mới đảm bảo tưới tiêu chủ
động được khoảng 60 - 70% diện tích đất canh tác, có những nơi khu vực phải
tưới 3 cấp. Điều này có thể một phần do điều kiện địa hình của vùng Đông Bắc
và Đông Nam, một phần do các trạm bơm tiêu và thông mương thoát vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu.
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá chất lượng nước sông Cầu đoạn chảy qua huyện Sóc Sơn, thành phố
Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu
10
+ Thời gian: 15/03-15/05/2016.
+ Không gian: sông Cầu trên địa bàn huyện Sóc Sơn.
Nhiệt độ
Nhiệt kế thủy ngân
3
Độ đục
Đĩa Secchi
4
DO
Phương pháp Winkler cải tiến (TCVN 7324:2004)
5
COD
Phương pháp Đicromat (TCVN 6491:1991)
12
6
BOD5
Phương pháp pha loãng (TCVN 6001-1:2008)
TSS
Phương pháp khối lượng (TCVN 6625:2000)
12
Pb
Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (TCVN
6193-1996)
13
Fe
Phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10phenantrolin (TCVN 6177-1996)
14
Coliform
Phương pháp màng lọc (MF) ( TCVN 6187-1-1996)
trắc
phổ
amonimolipdat
(TCVN
1
Tuần
1,2 Tìm kiếm tài liệu Các tài liệu liên Viện Công Nghệ
(ngày27/2-11/3)
về đề tài
quan đến đề tài
Môi Trường,Thư
viện
Trường
ĐHTNMT
2
Tuần 3( ngày 12/3- Tiến hành khảo sát Tìm ra các vị trí lấy Huyện Sóc Sơn,
20/3)
thực địa
mẫu
Hà Nội
3
Tuần 4 ( ngày Quan trắc lấy mẫu
21/3- 25/3)
4
Tuần5( ngày 28/3- Xử lí mẫu
1/4)
Hà Nội
Tuần còn lại (ngày Viết báo cáo
2/5-31/5 )
Viện Công nghệ
môi trường
Viện Công nghệ
môi trường
Viện Công nghệ
môi trường
Thư viện Trường
ĐHTNMT
Báo cáo tổng kết đề Viện Công nghệ
tài
môi trường
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Văn Khoa và các tác giả, 2001. “Khoa học môi trường”. NXB Giáo dục
2. “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2009”. Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
16