ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
LƢƠNG QUỐC DŨNG
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
GIAI ĐOẠN 2009 - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
LƢƠNG QUỐC DŨNG
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
GIAI ĐOẠN 2009 - 2012
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1.1. Khái lược về ngành hàng nông sản Việt Nam...................................... 28
2.1.2. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam .............................. 30
2.2. Phân tích năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang
Liên minh châu Âu trong giai đoạn 2009 - 2012................................................ 33
2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản ................................................... 33
2.2.2. Thị phần hàng nông sản xuất khẩu ...................................................... 37
2.2.3. Chi phí sản xuất và giá hàng nông sản ................................................ 42
2.2.4. Chất lượng và cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu .................................. 46
2.2.5. Thương hiệu hàng nông sản xuất khẩu ................................................ 50
2.2.6. Phương thức xuất khẩu hàng nông sản ................................................ 51
2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang
Liên minh châu Âu trong giai đoạn 2009 - 2012................................................ 53
2.3.1. Điểm mạnh ........................................................................................... 53
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ...................................................................... 54
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG
SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU TRONG
THỜI GIAN TỚI.......................................................................................................58
3.1. Những cơ hội và thách thức trong xuất khẩu hàng nông sản sang Liên minh
châu Âu ............................................................................................................... 58
3.1.1. Cơ hội ................................................................................................... 58
3.1.2. Thách thức ............................................................................................ 62
3.2. Định hướng xuất khẩu hàng nông sản sang Liên minh châu Âu trong thời
gian tới ................................................................................................................ 67
3.2.1. Định hướng xuất khẩu nông sản của Việt Nam ................................... 67
3.2.2. Triển vọng ............................................................................................ 69
3.3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt
Nam sang Liên minh châu Âu trong thời gian tới .............................................. 70
3.3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước................................................................. 70
4
ASEAN
5
EURO
6
USD
Đồng đô la Mỹ
7
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
8
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
9
FTA
Bảng
Nội dung
1
Bảng 2.1
2
Bảng 2.2
3
Bảng 2.3
4
Bảng 2.4
5
Bảng 2.5
6
Bảng 2.6
7
Thị phần hạt tiêu xuất khẩu của một số nước tại EU
41
13
Bảng 2.13
Thị phần gạo xuất khẩu của một số nước tại EU
42
Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai
đoạn 2003 - 2012
Sản lượng xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam
giai đoạn 2003 - 2012
Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam
giai đoạn 2003 - 2012
Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản sang EU
Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản sang
EU
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng
nông sản chính sang EU
Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng nông sản của
EU
Thị phần nông sản Việt Nam tại thị trường EU
Thị phần một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của
Việt Nam sang EU
17
Bảng 2.17
18
Bảng 2.18
Giá trung bình mặt hàng cà phê nhân xuất khẩu vào
thị trường EU của một số nước
Giá trung bình mặt hàng hạt tiêu nhân xuất khẩu vào
thị trường EU của một số nước
Giá trung bình mặt hàng gạo xuất khẩu vào thị
trường EU của một số nước
Giá trung bình mặt hàng chè xuất khẩu vào thị trường
EU của một số nước
Cơ cấu một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt
Nam sang EU
iii
43
44
45
45
48
Trang
35
39
49
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn
và 60% lực lượng lao động đang hoạt động và tạo ra thu nhập từ sản xuất nông
nghiệp. Với nhiều lợi thế về đất đai, lao động, các điều kiện tự nhiên, sinh thái, Việt
Nam có thể sản xuất, chế biến nhiều loại nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao
như gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, chè… Trong những năm vừa qua, thực hiện đường
lối Đổi mới của Đảng và Nhà nước, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành
tựu đáng khích lệ, không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn từng bước
gia tăng xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản.
Thực tế cho thấy, Việt Nam về cơ bản đã đạt được những thành công nhất
định trong việc tiếp cận và gia tăng giá trị xuất khẩu hàng nông sản tại nhiều thị
trường trên thế giới, trong đó có Liên minh châu Âu (EU) -một trong những thị
trường lớn và tiềm năng nhất. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam và EU ký tắt Hiệp định
hợp tác và đối tác kinh tế (PCA) năm 2010 và xúc tiến đàm phán Hiệp định Thương
mại tự do song phương (FTA) đến nay, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt
Nam sang EU tăng đều qua các năm, từ 301,8 triệu USD năm 2001 lên 3,4 tỷ USD
năm 2011, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực tế: hàng nông sản của Việt Nam mới
chiếm một tỉ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng nông sản của EU;
xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang EU chưa tương xứng với tiềm năng kinh
tế của cả hai bên. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do nền nông nghiệp
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
(3) Vũ Chí Lộc (2004), Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
sang thị trường Châu Âu, NXB Lý luận chính trị. Tác giả đã giới thiệu và phân tích vị
trí của thị trường châu Âu hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam; phương án xây
dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường châu Âu và các
giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá.
(4) Báo cáo tổng hợp“Tác động của ngoại thương tới ngành nông nghiệp
Việt Nam” (2005) của các tác giả David Roland Holst, Sarah Baird, Fredrich Kahrl,
Bộ NN&PTNT phát hành (song ngữ Việt - Anh). Báo cáo đã giới thiệu ngành nông
2
nghiệp Việt Nam; phân tích các thay đổi cấu trúc thương mại đa phương, khu vực
và sự tác động đối với ngành nông nghiệp Việt Nam; phân tích thị trường nông sản
các nước Đông Á, Châu Âu, Hoa Kỳ, qua đó nêu thực trạng xuất khẩu nông sản
Việt Nam với các thị trường này.
(5) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp về tổ chức
và hoạt động của các hiệp hội ngành hàng “nông sản xuất khẩu” Việt Nam” (2007)
của Bộ NN&PTNT do TS. Nguyễn Đình Long làm chủ nhiệm. Đề tài đã đưa ra
những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và các hình thức hoạt động của các
hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu; phân tích bản chất, vai trò và tổ chức của
hiệp hội trong cơ chế thị trường; đề xuất các giải pháp, nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của các hiệp hội ngành hàng “nông sản xuất khẩu” trong thời gian tới
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
(6) Luận án Tiến sĩ “Sức cạnh tranh của hàng nông sản chủ Việt Nam trong
điều kiện tự do hoá thương mại” (2009) của Lê Hữu Thành. Luận án đã đánh giá
thực trạng sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu chủ lực trong giai đoạn 1989
- 2009; khái quát những vấn đề đang đặt ratrước thách thức của tự do hoá thương
mại; đề xuất các giảipháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất
của Việt Nam sang Liên minh châu Âu trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
(1) Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh hàng nông sản
xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2009 - 2012;
(2) Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất
khẩu của Việt Nam sang Liên minh châu Âu trong giai đoạn 2009 - 2012;
(3) Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất
khẩu của Việt Nam sang EU trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Năng lực cạnh trạnh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh
châu Âu.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu
chủ yếu của Việt Nam (gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều, rau quả) sang Liên
minh châu Âu trong giai đoạn 2009 - 2012.
4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như phương pháp hệ thống
hóa, phương pháp phân tích lồng ghép nghiên cứu so sánh… trong nghiên cứu về
hàng nông sản Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh hàng
nông sản xuất khẩu; phương pháp phân tích mô hình kim cương của M. Porter
trong đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu; phương pháp phân
tích SWOT đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu; phương pháp thống kê học để
xử lý số liệu…
6. Những đóng góp mới của luận văn
thành người giỏi nhất trong lĩnh vực đó. Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh được
cho là yếu tố khắc nghiệt nhất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trước đây, đã có một số khái niệm về cạnh tranh được đưa ra dưới những
góc độ khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, xã hội. Trong giai đoạn
Chủ nghĩa Tư bản phát triển vượt bậc, Mác đã đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh chủ
nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật
những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận
siêu ngạch. Sau khi Chủ nghĩa Tư bản phát triển đến đỉnh điểm thành Chủ nghĩa Đế
quốc rồi suy vong, ngày nay xu hướng chính của nền kinh tế thế giới là mở cửa, hội
nhập hài hòa giữa các nền kinh tế, hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường đặt dưới
sự quản lý, điều tiết của các Nhà nước. Trong bối cảnh đó, khái niệm cạnh tranh
không còn mang tính giai cấp, song về bản chất, cạnh tranh vẫn được coi là sự đấu
tranh gay gắt giữa các tổ chức, doanh nghiệp nhằm giành lấy ưu thế, điều kiện thuân
lợi và đạt được mục tiêu trong sản xuất, kinh doanh. Cũng tồn tại một định nghĩa
khác về cạnh tranh, đó là: “Cạnh tranh có thể định nghĩa như là một khả năng của
doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản
phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và có lợi nhuận”.
Như vậy, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng tựu trung lại, có thể
hiểu Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể
6
cùng tham gia hoạt động kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa nào đó
nhằm giành khách hàng, qua đó nâng cao số lượng hàng hóa được tiêu thụ cũng
như lợi nhuận, tạo nên cơ sở thuận lợi để thúc đẩy hoạt động sản xuất và tiêu thụ.
Từ khái niệm này, có thể thấy cạnh tranh đem lại lợi ích cho chủ thể kinh
doanh này, song cũng có thể gây thiệt hại cho chủ thể khác. Xét về phương diện xã
hội, nhìn chung cạnh tranh đem lại tác động tích cực thể hiện ở việc góp phần đẩy
mạnh việc phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu. Nói cách khác, cạnh tranh trở
thành một động lực để thúc đẩy nền kinh tế đi lên. Để tồn tại và phát triển được
vị trí của mình trên một thị trường trong thời gian dài. Năng lực cạnh tranh đó thể
hiện ở vị trí của sản phẩm trên thị trường: Sản phẩm nào có vị trí càng cao, được
chấp nhận rộng rãi bởi người dùng tức là sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh cao
hơn. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm gắn liền với năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, của ngành và của quốc gia tham gia kinh doanh hàng hóa đó. Một
quốc gia, ngành hay doanh nghiệp có sức cạnh tranh đối với một sản phẩm thấp
thì sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường cũng sẽ thấp, đồng nghĩa với
chỗ đứng của hàng hóa đó trên thị trường cũng thấp.
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm
- Sản lượng tiêu thụ và doanh thu
Sản lượng tiêu thụ và doanh thu của hàng hóa là một trong những tiêu chí quan
trọng hàng đầu, mang tính chất tuyệt đối và dễ xác định để đánh giá năng lực cạnh tranh
của hàng hóa. Sản phẩm có doanh thu lớn là sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao và dễ
dàng được tiêu thụ trên thị trường. Một sản phẩm có sức cạnh tranh kém sẽ có mức tiêu
thụ yếu hơn. Sản lượng tiêu thụ của một mặt hàng cũng phản ánh mức độ hài lòng của
người tiêu dùng: Chỉ khi sản phẩm đáp ứng được các nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của đa
dạng khách hàng thì sản phẩm đó mới dễ dàng được tiêu thụ và đạt doanh thu cao. Điều
đó đồng nghĩa với việc mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thường tỉ lệ thuận với
sản lượng tiêu thụ và doanh thu, phản ánh rõ nét sức cạnh tranh của hàng hóa. Doanh thu
của một loại hàng hóa được tính như sau:
Trong đó:
TR: Doanh thu
8
Pi: Giá cả của một đơn vị sản phẩm i
Qi: Sản lượng tiêu thụ của sản phẩm i
n: Số nhóm sản phẩm được tiêu thụ
- Thị phần
bãi… Bất cứ khâu nào còn tồn tại bất cập, thiếu hiệu quả sẽ làm gia tăng chi phí và
đồng thời giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Khả năng cạnh tranh về chi phí
là điều cần chứ không phải là điều kiện đủ đối với việc duy trì và mở rộng thị phần
vì sức cạnh tranh của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thông tin, năng
lực marketing, khả năng đối phó rủi ro… Nói cách khác, chi phí thấp mới chỉ là sự
khởi đầu chứ không phải yếu tố quyết định đến sức cạnh tranh.
Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ
cung cầu tức là thông qua sự thoả thuận giữa người mua và người bán để đi tới mức
giá mà cả hai bên đều thấy có lợi và chấp nhận được. Trong nền kinh tế thị trường
có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thì khách hàng có quyền lựa chọn cho mình
sản phẩm tốt nhất và cùng một loại sản phẩm thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn sản phẩm
có giá bán thấp hơn. Vì vậy giá cả là công cụ cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường.
Doanh nghiệp có thể định giá bán thấp, bằng hoặc cao hơn giá thị trường. Để chiếm
ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sụ lựa chọn các chính sách giá
thích hợp cho từng loại sản phẩm từng giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm
hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường.
- Chất lượng và cơ cấu hàng hóa
Trong thế giới hiện đại, người tiêu dùng ngày càng có yêu cầu cao hơn về
chất lượng sản phẩm. Xu hướng chung là người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn
cho những sản phẩm cùng loại có chất lượng tốt hơn hẳn. Vì vậy, chất lượng sản
phẩm là chỉ tiêu quan trọng nhất biểu hiện khả năng cạnh tranh sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là hệ thống các thông số nội tại của sản phẩm được xác
định bằng cách đo lường hoặc so sánh với sản phẩm khác xét trên tiêu chí thoả mãn
yêu cầu của người tiêu dùng. Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu lập kế
hoạch đến khâu sản xuất và ngay cả sau khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của
nhiều yếu tố: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề của người lao
động, trình độ quản lý, hệ thống dịch vụ khách hàng...
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh sản phẩm
của doanh nghiệp ở chỗ:
10
nghiệp có chất lượng cao, dịch vụ sau bán hàng tốt...Do đó sản phẩm của doanh
11
nghiệp khi đưa ra thị trường có thể nhanh chóng thu hút được người tiêu dùng. Điều
này sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm một phần chi phí cho việc thu hút khách hàng,
khách hàng sẽ trung thành với doanh nghiệp hơn.
1.1.3. Nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu
1.1.3.1. Nhóm các nhân tố vĩ mô
- Các nhân tố kinh tế:
Các yếu tố kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân
đầu người, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái…có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực
cạnh tranh của sản phẩm.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người cao dẫn đến khả năng
tiêu thụ hàng hóa cao. Nền kinh tế phát triển cùng với các yếu tố như lãi suất ngân
hàng, tỷ giá hối đoái… ổn định sẽ tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp mở rộng kinh
doanh, thu hút đầu tư nước ngoài. Đối với mặt hàng nông sản xuất khẩu, tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao sẽ giúp doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư, cải tiến quy trình sản
xuất, áp dụng công nghệ nhằm giảm chi phí, nâng cao năng suất, giảm giá thành sản
phẩm, từ đó dẫn tới nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
+ Lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tỷ lệ lãi
suất là rất quan trọng khi người sản xuất cũng như người tiêu dùng thường xuyên vay tiền
để thanh toán các khoản mua bán hàng hóa của mình. Lãi suất thấp sẽ kích thích tiêu dùng,
và ngược lại, lãi suất cao sẽ khiến khách hàng phải suy tính hơn trong các khoản chi tiêu
của mình. Đồng thời, lãi suất còn quyết định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức
đầu tư. Nếu lãi suất ngân hàng cho vay cao sẽ dẫn đến chi phí đầu vào tăng lên, doanh
nghiệp dè dặt hơn trong các phương án đầu tư, giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên và
năng lực cạnh tranh của hàng hóa sẽ giảm đi nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực
mạnh về vốn. Ngược lại, nếu lãi suất ngân hàng thấp sẽ làm giảm chi phí đầu vào, giá
và tiêu thụ của các sản phẩm. Đối với nông sản muốn tồn tại được ở thị trường EU, nơi
người tiêu dùng có thị hiếu tiêu dùng thuộc hàng “khó tính” và ít thay đổi trải qua quá trình
phát triển văn minh lâu dài, thì phải có hương vị, mẫu mã… phù hợp với thị hiếu, văn hóa
của thị trường mới có thể nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
-Nhân tố môi trường kinh doanh quốc tế
Những thay đổi về môi trường quốc tế có thể xuất hiện cả những cơ hội cũng
như nguy cơ về việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và ngoài nước.
13
Hiện nay, việc Việt Nam tham gia tích cực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc
biệt là sau khi ký kết FTA với EU thì tiềm năng, cơ hội là vô cùng lớn và cơ sở để
nâng cao sức cạnh tranh cũng rất lớn đối với hàng nông sản. Bên cạnh đó, hội nhập
sâu rộng cũng mang đến những thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp Việt Nam
trong vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông sản xuất khẩu tới thị
trường EU để chiếm lĩnh được thị trường này.
1.1.3.2. Nhóm các nhân tố trong nội bộ ngành
- Các đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định tính chất và
mức độ cạnh tranh của hàng hóa nói chung và hàng nông sản xuất khẩu nói riêng.
Nếu các đối thủ cạnh tranh yếu thì doanh nghiệp có thể tăng giá bán qua đó kiếm
nhiều lợi nhuận hơn. Ngược lại khi đối thủ cạnh tranh mạnh thì doanh nghiệp khó có
thể cạnh tranh về mặt giá vì điều đó có thể dẫn đến thiệt hại cho cả hai bên. Do vậy
nhiệm vụ của doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khả
năng của những đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những đối thủ chính để xây dựng cho
mình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung.
Bên cạnh các đối thủ cạnh tranh hiện tại, còn có các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
là các doanh nghiệp hiện tại chưa tham gia ngành, chưa cạnh tranh trong cùng một
ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia
giữa khách hàng và các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm trên thị trường: Khách
hàng yêu thích sản phẩm của doanh nghiệp nào nhiều hơn, mua nhiều hơn thì doanh
nghiệp đó có ưu thế hơn trên thị trường. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp nào cung
cấp sản phẩm không nhận được sự quan tâm của khách hàng thì sẽ khó khăn trong
tiêu thụ sản phẩm. Khách hàng có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm đi
thông qua việc ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn hay doanh
nghiệp phải đưa ra nhiều dịch vụ hậu mãi hơn.
Để nâng cao khả năng cao khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp phải giảm tối
đa sức ép trên và tạo môi trường với các khách hàng qua các chính sách giá, chất
lượng sản phẩm, dịch vụ, biến họ trở thành người cộng tác tốt. Tóm lại, doanh nghiệp
phải điều tiết được mối quan hệ với khách hàng, xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp
với khách hàng thông qua chất lượng, mẫu mã, giá cả, dịch vụ hậu mãi… thì mới
củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
15
Đối với thị trường EU, người tiêu dùng tại đây có sở thích, tập quán tiêu dùng
thuộc dạng khó tính nhất thế giới, với sự ưu tiên dành cho các mặt hàng có chất lượng
tốt, mẫu mã đẹp, có thương hiệu uy tín… và đòi hỏi quyền lợi, sự đảm bảo cho sức
khỏe, môi trường khi sử dụng sản phẩm. Nông sản cũng không nằm ngoài xu thế này,
các mặt hàng nông sản chỉ có thể chiếm lĩnh được thị trường khi có mẫu mã, hương
vị hợp với thị hiếu tiêu dùng, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của EU và đặc biệt là
không được làm mất uy tín bởi khi đã đánh mất uy tín, sẽ ảnh hưởng không chỉ tới
riêng một sản phẩm mà có thể ảnh hưởng tới cả ngành hàng.
- Sản phẩm thay thế
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến động
của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và cao cấp
hơn, và chính nó lại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế.
Một doanh nghiệp có thể hoạt động thu được nhiều lợi nhuận khi trong ngành
- Nguồn lực về tài chính
Khả năng tài chính có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp
xuất khẩu trên thị trường. Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của
doanh nghiệp và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như tỷ lệ thu hồi
vốn, khả năng thanh toán...Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng
huy động vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác
đầu tư về liên doanh liên kết… Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể giảm chi phí sản
xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và qua đó, nâng cao năng lực cạnh
tranh trên thị trường.
Đối với mặt hàng nông sản xuất khẩu, việc có nguồn lực tài chính dồi dào sẽ
giúp doanh nghiệp hiện đại hóa quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản...
giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngoài ra, nguồn lực tài chính còn giúp
doanh nghiệp chủ động trong các phương án thu mua, vận chuyển, thanh toán…
- Quy mô sản xuất kinh doanh:
Cơ sở hạ tầng là yếu tố hỗ trợ quan trọng giúp tạo nên năng lực cạnh tranh của
sản phẩm. Đối với nông sản xuất khẩu, cơ sở hạ tầng hiện đại sẽ làm tăng năng suất
lao động, hiệu quả sản xuất cao hơn, hao phí nhỏ… dẫn tới năng suất, chất lượng
17