Năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của việt nam sang liên minh châu âu (EU) giai đoạn 2009 2012 - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

LƢƠNG QUỐC DŨNG

NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
GIAI ĐOẠN 2009 - 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

LƢƠNG QUỐC DŨNG

NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
GIAI ĐOẠN 2009 - 2012
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ


2.1.1. Khái lược về ngành hàng nông sản Việt Nam......................................28
2.1.2. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam ..............................30
2.2. Phân tích năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang Liên
minh châu Âu trong giai đoạn 2009 - 2012................................................33


2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản ...................................................33
2.2.2. Thị phần hàng nông sản xuất khẩu ......................................................37
2.2.3. Chi phí sản xuất và giá hàng nông sản ................................................42
2.2.4. Chất lượng và cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu..................................46
2.2.5. Thương hiệu hàng nông sản xuất khẩu ................................................50
2.2.6. Phương thức xuất khẩu hàng nông sản................................................51
2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang Liên
minh châu Âu trong giai đoạn 2009 - 2012................................................53
2.3.1. Điểm mạnh ...........................................................................................53
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ......................................................................54
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG
SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU TRONG THỜI
GIAN TỚI.......................................................................................................58
3.1. Những cơ hội và thách thức trong xuất khẩu hàng nông sản sang Liên minh châu
Âu...............................................................................................................58
3.1.1. Cơ hội ...................................................................................................58
3.1.2. Thách thức............................................................................................62
3.2. Định hướng xuất khẩu hàng nông sản sang Liên minh châu Âu trong thời gian
tới ................................................................................................................67
3.2.1. Định hướng xuất khẩu nông sản của Việt Nam ...................................67
3.2.2. Triển vọng ............................................................................................69
3.3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
sang Liên minh châu Âu trong thời gian tới ..............................................70
3.3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước.................................................................70

XK
10
NSXK
11
XKNS
12

Liên minh châu Âu
Cộng đồng châu Âu
Thống kê của Uỷ ban châu Âu
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Đồng tiền chung châu Âu
Đồng đô la Mỹ
Tổng sản phẩm quốc nội
Tổ chức thương mại thế giới
Hiệp định thương mại tự do
Xuất khẩu
Nông sản xuất khẩu
Xuất khẩu nông sản

i


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
1

2



giai đoạn 2003 - 2012
Bảng 2.3

Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam

33

giai đoạn 2003 - 2012
Bảng 2.4
Bảng 2.5

34
Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản sang EU
Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản sang

36

EU
Bảng 2.6

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng

37

nông sản chính sang EU
Bảng 2.7

Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng nông sản của


Bảng 2.14
14

thị trường EU của một số nước
Bảng 2.15

15

Giá trung bình mặt hàng hạt tiêu nhân xuất khẩu vào
thị trường EU của một số nước

Bảng 2.16
16

Giá trung bình mặt hàng gạo xuất khẩu vào thị

43

44

45

trường EU của một số nước
Bảng 2.17

17

Giá trung bình mặt hàng chè xuất khẩu vào thị trường

45

Tên hình vẽ
Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang

35

EU
Hình 2.2

Thị phần nông sản xuất khẩu của Việt Nam tại thị

39

trường EU
Hình 2.3

Cơ cấu các mặt hàng nông sản xuất khẩu của VN

49

sang EU

iv


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn
và 60% lực lượng lao động đang hoạt động và tạo ra thu nhập từ sản xuất nông nghiệp.
Với nhiều lợi thế về đất đai, lao động, các điều kiện tự nhiên, sinh thái, Việt Nam có thể
sản xuất, chế biến nhiều loại nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như gạo, cà phê,

Năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu là một trong những vấn đề
giành được sự quan tâm của nhiều Bộ, Ban, Ngành, các cơ quan nghiên cứu… Liên quan
tới đề tài này, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Một số công
trình đáng lưu ý bao gồm:
(1) TS. Trịnh Thị Ái Hoa (2007), Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam: Lý
luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia. Cuốn sách đề cập đến những cơ sở lý luận
của chính sách xuất khẩu nông sản, thực trạng tác động của chính sách xuất khẩu nông
sản Việt Nam từ năm 1989 đến 2007; các giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những
hạn chế trong chính sách xuất khẩu nông sản hiện hành, bao gồm
những vấn đề liên quan đến các cam kết gia nhập WTO của nước ta;
(2) Trần Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Duy Lượng (2010), Những giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong sản xuất, chế biến và tiêu
thụ nông, lâm sản ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Văn hoá
Thông tin. Cuốn sách đã trình bày cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh, thực trạng năng
lực cạnh tranh và những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông, lâm sản Việt Nam trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế.
(3) Vũ Chí Lộc (2004), Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang
thị trường Châu Âu, NXB Lý luận chính trị. Tác giả đã giới thiệu và phân tích vị trí của thị
trường châu Âu hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam; phương án xây dựng các mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường châu Âu và các giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá.
(4) Báo cáo tổng hợp"Tác động của ngoại thương tới ngành nông nghiệp Việt
Nam" (2005) của các tác giả David Roland Holst, Sarah Baird, Fredrich Kahrl, Bộ
NN&PTNT phát hành (song ngữ Việt - Anh). Báo cáo đã giới thiệu ngành nông

2


nghiệp Việt Nam; phân tích các thay đổi cấu trúc thương mại đa phương, khu vực

Việt Nam sang Liên minh châu Âu trong thời gian tới.

5


Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM
VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU SANG LIÊN MINH CHÂU ÂU

1.1. Lý luận chung về năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.1.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh là xu thế tất yếu của kinh tế xã hội. Trên thực tế cuộc sống, con
người luôn cố gắng vươn lên làm chủ cuộc sống của mình theo nhiều phương diện khác
nhau. Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, những người tham gia lĩnh vực này thể
hiện ý thức vươn lên của mình ở mong muốn đạt được những mục tiêu sản xuất, kinh
doanh của mình cũng như khát khao vượt qua các đối thủ của mình để trở thành người
giỏi nhất trong lĩnh vực đó. Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh được cho là yếu tố khắc
nghiệt nhất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trước đây, đã có một số khái niệm về cạnh tranh được đưa ra dưới những góc độ
khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, xã hội. Trong giai đoạn Chủ nghĩa Tư
bản phát triển vượt bậc, Mác đã đưa ra khái niệm: "Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự
ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận
lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Sau khi Chủ
nghĩa Tư bản phát triển đến đỉnh điểm thành Chủ nghĩa Đế quốc rồi suy vong, ngày nay
xu hướng chính của nền kinh tế thế giới là mở cửa, hội nhập hài hòa giữa các nền kinh tế,
hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường đặt dưới sự quản lý, điều tiết của các Nhà nước.
Trong bối cảnh đó, khái niệm cạnh tranh không còn mang tính giai cấp, song về bản
chất, cạnh tranh vẫn được coi là sự đấu tranh gay gắt giữa các tổ chức, doanh nghiệp
nhằm giành lấy ưu thế, điều kiện thuân lợi và đạt được mục tiêu trong sản xuất, kinh
doanh. Cũng tồn tại một định nghĩa khác về cạnh tranh, đó là: "Cạnh tranh có thể định

hàng thì sản phẩm đó mới dễ dàng được tiêu thụ và đạt doanh thu cao. Điều đó đồng nghĩa
với việc mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thường tỉ lệ thuận với sản lượng tiêu thụ
và doanh thu, phản ánh rõ nét sức cạnh tranh của hàng hóa. Doanh thu
của một loại hàng hóa được tính như sau:

Trong đó:
TR: Doanh thu
8


Pi: Giá cả của một đơn vị sản phẩm i
Qi: Sản lượng tiêu thụ của sản phẩm i
n: Số nhóm sản phẩm được tiêu thụ
- Thị phần
Thị phần (market share) của một loại hàng hóa là tỉ lệ phần trăm về thị
trường mà hàng hóa đó nắm giữ so với tổng quy mô thị trường hàng hóa đó. Sản phẩm
nào có thị phần lớn hơn phản ánh mức độ thành công cao hơn, có sức ảnh hưởng lớn
hơn trên thị trường, đồng nghĩa với việc có sức cạnh tranh cao hơn. Sản phẩm có thị
phần nhỏ hơn thể hiện sức cạnh tranh kém hơn và do đó mức độ thành công cũng hạn
chế hơn, sức ảnh hưởng cũng kém hơn.
Để có thể củng cố và nâng cao vị thế trên thị trường, sản phẩm phải đáp ứng đòi
hỏi của khách hàng và tạo ra lợi thế riêng trong cạnh tranh với các sản phẩm khác. Thị
hiếu, nhu cầu của khách hàng rất đa dạng và luôn luôn thay đổi, để chiếm lĩnh được thị
trường và nâng cao được thị phần, sản phẩm phải kịp thời đáp ứng thị hiếu, nhu cầu đó,
thể hiện ở các mặt: (i) Nhanh hơn đối thủ trong việc đáp ứng sự thay đổi của khách
hàng về nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng. Nói cách khác, sản phẩm phải đi trước đối thủ một
bước so với đối thủ cạnh tranh; (ii) Lựa chọn chính xác nhóm đối tượng khách hàng có
lượng cầu và thị hiếu phù hợp với sản phẩm của mình. Có như vậy, sản phẩm sẽ dễ dàng
tiếp cận khách hàng tiềm năng và dễ dàng được tiêu thụ trên thị trường.
- Chi phí sản xuất và giá cả

Trong thế giới hiện đại, người tiêu dùng ngày càng có yêu cầu cao hơn về
chất lượng sản phẩm. Xu hướng chung là người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho
những sản phẩm cùng loại có chất lượng tốt hơn hẳn. Vì vậy, chất lượng sản phẩm là
chỉ tiêu quan trọng nhất biểu hiện khả năng cạnh tranh sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là hệ thống các thông số nội tại của sản phẩm được xác định
bằng cách đo lường hoặc so sánh với sản phẩm khác xét trên tiêu chí thoả mãn yêu cầu
của người tiêu dùng. Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu lập kế hoạch đến
khâu sản xuất và ngay cả sau khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố:
máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề của người lao động, trình độ quản
lý, hệ thống dịch vụ khách hàng...
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh sản phẩm
của doanh nghiệp ở chỗ:

10


+ Chất lượng sản phẩm tăng sẽ làm tăng giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng
sản phẩm bán ra và kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, tăng lợi nhuận.
+ Sản phẩm có chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín từ đó góp phần nâng cao thị phần của sản
phẩm đó.
Vì thế, vấn đề chất lượng sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với một
nhà cung cấp bởi vì chất lượng sản phẩm thấp cũng đồng nghĩa với việc giảm uy tín,
lượng tiêu thụ kém, đánh mất khách hàng và nhanh chóng bị đào thải khỏi thị trường.
- Thương hiệu và uy tín
Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng hiện nay, thương hiệu của
sản phẩm là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của sản phẩm. Giữa
vô vàn các sản phẩm trên cùng một phân khúc hàng hóa có chất lượng, kiểu dáng…
tương tự nhau, rõ ràng thương hiệu của sản phẩm được người tiêu dùng xem như một nhân tố
quan trọng trong việc lựa chọn sản phẩm. Thương hiệu không tự nhiên mà có, một sản

doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư, cải tiến quy trình sản xuất, áp dụng công nghệ nhằm
giảm chi phí, nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm, từ đó dẫn tới nâng cao năng lực
cạnh tranh của sản phẩm.
+ Lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tỷ lệ lãi suất
là rất quan trọng khi người sản xuất cũng như người tiêu dùng thường xuyên vay tiền để thanh
toán các khoản mua bán hàng hóa của mình. Lãi suất thấp sẽ kích thích tiêu dùng, và ngược lại,
lãi suất cao sẽ khiến khách hàng phải suy tính hơn trong các khoản chi tiêu của mình. Đồng
thời, lãi suất còn quyết định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư. Nếu lãi suất
ngân hàng cho vay cao sẽ dẫn đến chi phí đầu vào tăng lên, doanh nghiệp dè dặt hơn trong
các phương án đầu tư, giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên và năng lực cạnh tranh của
hàng hóa sẽ giảm đi nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn. Ngược lại, nếu
lãi suất ngân hàng thấp sẽ làm giảm chi phí đầu vào, giá thành sản phẩm hạ, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất và cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị
trường bằng công cụ giá.
+ Tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt đối
với các sản phẩm phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào hay các sản phẩm có lợi

12


thế về xuất khẩu. Nếu đồng EUR lên giá, sẽ khuyến khích nhập khẩu vì giá nông sản
nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất phát từ bên
trong EU sẽ bị giảm ngay trên thị trường EU. Và ngược lại, khi đồng EUR giảm giá thì
khả năng cạnh tranh của hàng nông sản bên ngoài EU sẽ kém hơn vì giá đã tăng cao hơn.
- Nhân tố chính trị, pháp luật
Yếu tố chính trị, pháp luật được thể hiện ở mức độ ổn định chính trị của quốc
gia, cơ sở hành lang pháp lý… EU là thị trường có yêu cầu cao và thống nhất đối với các mặt
hàng nông sản. Chính sách, hành lang pháp lý của EU nhìn chung tương đối ổn định.
Nông sản muốn được đưa ra tiêu thụ trên thị trường EU phải tuân theo các quy định của
EU về chất lượng, mẫu mã, bảo vệ môi trường… Những quy định này có thể là cơ hội hoặc

mức độ cạnh tranh của hàng hóa nói chung và hàng nông sản xuất khẩu nói riêng. Nếu
các đối thủ cạnh tranh yếu thì doanh nghiệp có thể tăng giá bán qua đó kiếm nhiều lợi
nhuận hơn. Ngược lại khi đối thủ cạnh tranh mạnh thì doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh
về mặt giá vì điều đó có thể dẫn đến thiệt hại cho cả hai bên. Do vậy nhiệm vụ của doanh
nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khả năng của những đối thủ
cạnh tranh, đặc biệt là những đối thủ chính để xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh
thích hợp với môi trường chung.
Bên cạnh các đối thủ cạnh tranh hiện tại, còn có các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là
các doanh nghiệp hiện tại chưa tham gia ngành, chưa cạnh tranh trong cùng một ngành
sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành.
Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại. Các doanh nghiệp hiện tại rõ ràng đều cố
gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn ra nhập ngành vì càng nhiều doanh nghiệp có
trong một ngành sản xuất đồng nghĩa với qcạnh tranh càng khốc liệt hơn. Với mong muốn
chiếm lĩnh một thị phần nào đó, các đối thủ mới có thể làm giá bán bị kéo xuống hoặc chi
phí của các công ty đi trước có thể bị tăng lên và kết quả làm giảm mức lợi nhuận.
Đối với mặt hàng nông sản xuất khẩu, có thể kể đến một số đối thủ cạnh tranh trực
tiếp của Việt Nam trên thị trường EU như Brazil, Honduras, Columbia (mặt hàng cà phê),
Ấn Độ, Bolivia, Philippines (mặt hàng hạt điều), Kenya, Ấn Độ, Trung Quốc
(mặt hàng chè), Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ (mặt hàng hạt tiêu…)

14


- Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là những cá nhân hoặc tổ chức trong nước hay ngoài nước
chuyên cung cấp vật tư thiết bị, nguồn nhân lực, tài chính…để một doanh nghiệp có thể
hoạt động. Việc nhà cung cấp đẩy mức giá lên cao sẽ đẩy giá sản phẩm tăng lên làm giảm
năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Đồng thời nhà cung cấp là một trong những nhân tố
quan trọng quyết định chất lượng của sản phẩm.
Đối với nông sản xuất khẩu, nhà cung cấp chính là đơn vị cung cấp giống cây trồng

tiêu dùng, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của EU và đặc biệt là không được làm mất uy
tín bởi khi đã đánh mất uy tín, sẽ ảnh hưởng không chỉ tới riêng một sản phẩm mà có thể
ảnh hưởng tới cả ngành hàng.
- Sản phẩm thay thế
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến động
của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và cao cấp
hơn, và chính nó lại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế.
Một doanh nghiệp có thể hoạt động thu được nhiều lợi nhuận khi trong ngành kinh
doanh đó có các các cản trở xâm nhập cao, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
hiện có là thấp, không có sản phẩm thay thế, thế lực khách hàng yếu và thế lực nhà
cung cấp cũng yếu. Ngược lại, một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh trong một ngành
hàng có các cản trở xâm nhập thấp, cạnh tranh mạnh mẽ, có một số sản phẩm thay thế,
thế lực và của khách hàng và nhà cung cấp mạnh thì kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
chật vật và lợi nhuận thấp. Các nhà quản lý cần phải phân tích và hiểu rõ được các thế
lực trong môi trường cạnh tranh, từ đó tận dụng cơ hội và tìm vị trí có lợi nhất cho doanh
nghiệp trong môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu nông sản
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được coi là vấn đề vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp và sản phẩm. Một nguồn nhân lực kém không đáp ứng được
nhu cầu của thị trường sẽ là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thất bại của doanh
nghiệp. Đối với nông sản xuất khẩu, nguồn nhân lực có thể được chia như sau
+ Đội ngũ quản lý gồm ban lãnh đạo và nhân lực trực tiếp quản lý sản xuất, kinh doanh
sản phẩm. Đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh

16


doanh và xu hướng phát triển sản phẩm trong tương lai. Nếu đội ngũ quản lý có thể
nhìn ra được xu hướng thị trường, các vấn đề còn tồn tại đối với sản phẩm nông sản để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status