TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA NGÂN HÀNG
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
GVHD : PGS.TS. Trầm Thị Xuân Hương
Lớp
: CHNHK24
Nhóm : Nhóm 4
DANH SÁCH NHÓM 4:
STT
Họ tên
%
1
Nguyễn Thị Ngọc Hà
100%
2
Nguyễn Thị Mai Hương
100%
những Tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn trên thế giới.
Trên thực tế hầu hết các vụ sáp nhập và mua lại gần đây liên quan đến doanh nghiệp
cạnh tranh trong cùng ngành. Từ đó, việc hình thành các Tập đoàn tài chính - ngân hàng
cũng xuất phát từ xu hướng này nhằm mục đích nâng cao doanh thu và tiết kiệm chi phí.
Để giải quyết vấn đề giảm lợi nhuận từ những dịch vụ ngân hàng truyền thống, các ngân
hàng chủ động đem đến cho khách hàng mục tiêu về những tiện ích vượt trội. Sự hài lòng
quyết định tính sẵn sàng chi trả của người sử dụng dịch vụ, từ đó ngân hàng có thể gia
tăng được lợi nhuận. Một động lực cho việc cũng cố liên ngành là thị trường sản phẩm
ngày càng đa dạng (Ví dụ: các ngân hàng hiện nay cũng bán sản phẩm bảo hiểm hoặc các
công ty bảo hiểm cũng cung cấp sản phẩm hỗn hợp). Do đó, các hoạt động kinh doanh
sản phẩm và dịch vụ trở nên đa dạng, phong phú hơn.
Những cải tiến trong công nghệ thông tin đã mở đường cho sự phát triển của nhiều
sản phẩm mới, góp phần thúc đẩy các công ty hoạt động trong lĩnh vực như viễn thông và
thông tin tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính- ngân hàng. Ngoài ra, sự phát triển
công nghệ thông tin còn cung cấp cho các nhà quản trị các kỹ thuật quản lý rủi ro hiệu
quả hơn, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong ngành tài chính - ngân hàng, lĩnh vực được
xem là kinh doanh khá rủi ro. Những kỹ thuật này giúp các các nhà quản trị không những
quản trị được chính mình mà còn đánh giá được các tổ chức khác, phục vụ cho mục tiêu
sáp nhập, mua lại.
Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hoá kinh tế và tự do hoá thương mại diễn ra mạnh
mẽ hơn bao giờ hết. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan dần được loại bỏ, tạo điều
kiện thuận lợi cho các dòng ngân lưu gia tăng lưu lượng và di chuyển giữa các quốc gia.
Cho nên sự hình thành các tập đoàn tài chính chính là để thích ứng với sự phát triển này.
Theo TS. Nguyễn Thị Kim Thanh - Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam; cho rằng Những nhân tố chi phối xu hướng phát triển khu vực
ngân hàng đến năm 2020 là:
2
-
Như vậy, có thể nói: “Nhìn về tương lai, sự phát triển Hệ thống tài chính – ngân
hàng thế giới là theo xu hướng phát triển ổn định, bền vững, hiệu quả sẽ đóng vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế.” Do đó, xu hướng phát triển các Tập đoàn tài chính ngân hàng là một xu thế tất yếu trong tương lai.
Câu 2: Lý thuyết về Tập đoàn tài chính – ngân hàng.
Khái niệm:
Tập đoàn tài chính ngân hàng là một nhóm các Công ty hoạt động trong các lĩnh
vực tài chính khác nhau theo quy định của pháp luật của từng quốc gia. Là sự kết hợp của
ít nhất 2 trong 3 lĩnh vực sau Ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm.
3
Theo The Group of 10: “Bất kỳ một nhóm các Công ty dưới sự kiểm soát chung có
các hoạt động độc lập hoặc hoạt động trong việc cung cấp ít nhất 2 lĩnh vực khác nhau
về tài chính (Bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán) thì được gọi là các Tập đoàn tài chính
- ngân hàng”.
Ủy ban Châu Âu (QĐ 2002/87/EC) cũng đưa ra một định nghĩa khá rõ nét hơn; một
nhóm các công ty đủ tiêu chuẩn để trở thành Tập đoàn tài chính – ngân hàng khi: Thứ
nhất nếu như nó có hơn 50% các hoạt động liên quan đến lĩnh vực tài chính. Và thứ 2 là
nếu như tài sản của mỗi lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm nằm trong khoảng 10%-90% so
với tổng tài sản của cả tập đoàn. Thêm vào đó, nếu như tổng tài sản của những công ty
nhỏ nhất trong tập đoàn vẫn nhiều hơn 6 tỷ EUR thì nhóm các công ty này vẫn được xem
là một Tập đoàn tài chính – ngân hàng.
Còn ở Mỹ lại gọi Tập đoàn tài chính – ngân hàng là “ Fanancial Holding Company”
(Tổ chức tài chính hỗn hợp). Theo quy định của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLB
Act) được thông qua năm 1999: Tập đoàn tài chính – ngân hàng là một tổ chức mà trong
đó công ty được nắm giữ những công ty khác cung cấp đa dạng các loại dịch vụ tài chính,
ngân hàng. Thực tế không yêu cầu chỉ là mô hình công ty mẹ, con mà còn là công ty thực
hiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.
Mô hình cấu trúc:
Không có một cấu trúc đơn nhất cho loại hình Tập đoàn tài chính – ngân hàng. Nó
là những ngân hàng đầu tư. Điều này đặc biệt đúng tại một số quốc gia với kiểu ngân
hàng truyền thống châu Âu. Những ví dụ điển hình của những ngân hàng toàn cầu là
Deutsche Bank của Đức, UBSS và Credit Suisse của Thuỵ Sĩ.
Hầu hết thì hiện nay các Ngân hàng ở Châu Âu đều đi theo mô hình này do tính
5
chất lịch sử cũng như quy định của khu vực này. Còn ở Mỹ thì cấu trúc này bị cấm bởi đi
ngược lại quy định của quốc gia.
-
Cấu trúc thứ 2: Financial Service Holding Company
Đối với các Ngân hàng ở Mỹ thì Cấu trúc Holding Company là một tiêu chuẩn và
hiện nay thì hầu hết tập đoản tài chính của Mỹ đều đi theo mô hình này. Cấu trúc này có
sự phân chia giữa các doanh nghiệp và tránh được xung đột lợi ích giữa các thành phần
như trong cấu trúc full universal bank. Tuy nhiên, không nhiều hiệu quả kinh tế đạt được
từ mô hình này, do thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận (Ở đây là giữa các Công ty trong
cùng tập đoàn). Thông qua nghiên cứu của Kuhara Masaharu cho thấy rằng: Ngoài mặt
thì các tập đoàn tài chính của Mỹ họ đi theo mô hình số 2 này, nhưng trên thực tế để đạt
được sự hiệu quả trong việc phối hợp giữa tính tập trung và phi tập trung thì cấu trúc này
thường bị biến thể đi theo hướng cả tập đoàn sẽ được lãnh đạo bởi một đơn vị kinh doanh
chủ lực, qua đó gần như đã phá vỡ các quy định về pháp luật đã nói trước đó, điều đó dẫn
đến các tập đoàn ở Mỹ đã không đi theo mô hình số 1.
-
Cấu trúc số 3: Bank Subsidiary
6
Mô hình sở hữu hỗn hợp:
Là một sự kết hợp của hai mô hình giản đơn và sở hữu chéo, khi đó gia tăng sự linh
hoạt trong hoạt động của tập đoàn. Đây là mô hình được sử dụng nhiều nhất hiện nay.
Mô hình công ty mẹ và con:
Tập đoàn kinh tế được ví như một “đoàn tàu” luôn cần có một “đầu tàu” - công ty
mẹ - có đủ khả năng lái đoàn tàu kéo theo các “toa tàu” – cùng các công ty con – được
thành lập theo đúng lộ trình đã được định sẵn. Do đó, công ty mẹ - công ty con là khái
niệm cơ bản gắn liền với tập đoàn kinh tế nói chung cũng như tại các tập đoàn tài chính ngân hàng nói riêng.
-
Công ty mẹ:
Công ty mẹ là một doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp
luật, có tư cách pháp nhân, được thừa nhận có năng lực đủ mạnh về một hoặc một số yêu
cầu nhất định để kiểm soát và chi phối các công ty khác trong tập đoàn theo những
nguyên tắc và phương thức nhất định. Công ty mẹ tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các
công ty con với nhau và giữa các công ty con với chính nó thông qua hoạt động như bảo
lãnh nợ và hoạt động thương mại nội bộ. Mục đích đầu tư của công ty mẹ vào các công ty
con là hưởng phần lợi nhuận trên vốn góp.
8
Công ty mẹ sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần của các công ty
khác trong tập đoàn. Theo tính chất và phạm vi hoạt động, trong mô hình công ty mẹ công ty con, công ty mẹ được chia làm 2 loại:
Công ty mẹ nắm vốn thuần tuý (pure holding company - PHC): hoạt động kinh doanh
chính của PHC là đầu tư vốn vào các công ty khác. Trách nhiệm chủ yếu của các nhà
9
nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Theo Điều 18 Khoản 1: “Là
hình thức liên kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ, thị
trường hoặc thương hiệu giữa các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó có một
công ty Nhà nước giữ quyền chi phối các doanh nghiệp thành viên khác (gọi tắt là công
ty mẹ) và các doanh nghiệp thành viên khác bị công ty mẹ chi phối (gọi tắt là công ty
con) hoặc có một phần vốn góp không chi phối của công ty mẹ (gọi tắt là công ty liên
kết)”.
Sản phẩm:
Sản phẩm cung ứng bao gồm tất cả các loại hình sản phẩm tài chính: cấp tín dụng,
tư vấn, dịch vụ, bảo hiểm, quản lý tài sản, quản lý tài chính, dịch vụ ngân hàng điện tử (ebanking)... Các sản phẩm phải đa dạng đáp ứng nhu cầu khách hàng và thể hiện sự phân
tán rủi ro của ngân hàng.
Điều kiện thành lập:
Có nhiều yếu tố tác động đến khả năng hình thành tập đoàn TC-NH, trong đó các
yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau. Từ phương diện phân tích, có thể phân chia thành
yếu tố (điều kiện) khách quan và điều kiện chủ quan.
-
Điều kiện khách quan:
Môi trường pháp lý có thể cản trở hoặc thúc đẩy sự hình thành và phát triển các tập
đoàn TC-NH, nhất là những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động tài chính, ngân hàng,
chứng khoán. Nói cách khác, quá trình hình thành và phát triển tập đoàn TC-NH diễn ra
theo quy luật khách quan, nhưng các chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc
đưa ra các quy định và chính sách phát triển dịch vụ tài chính nói chung và tập đoàn TCNH nói riêng.
Trình độ phát triển của thị trường dịch vụ tài chính tác động đến khả năng mở rộng
quy mô hoạt động của tập đoàn tài chính như thông qua các công ty con hay công ty trực
thuộc. Trên thực tế, sự hình thành các tập đoàn TC-NH thường bắt nguồn từ việc mở
rộng các loại hình kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ của ngân hàng mẹ, từ chỗ chỉ kinh
chính - ngân hàng.
Cấu trúc tổ chức phức tạp.
Quy mô lớn.
Dịch vụ tài chính đa dạng.
Câu 3: Đặc trưng của các Tập đoàn tài chính – ngân hàng trên thế giới:
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều tập đoàn tài chính nổi tiếng: Citigroup Inc,
Deutsche Bank AG, ING – Hà lan, HSBC Holdings, Maybank, DBS Group, BNP –
Paribas,…. Các tập đoàn này có mô hình kinh doanh phức tạp, khác biệt so với mô hình
giản đơn của một NHTM thông thường.
11
Tập đoàn tài chính – ngân hàng tiêu biểu
Chỉ tiêu
Thông tin cơ bản
CitiGroup
Tập đoàn đa quốc
gia ngân hàng đầu
tư và dịch vụ tài
chính của Mỹ có trụ
sở
chính
ở
Manhattan,
thành
phố New York từ
năm 2008.
Lịch sử hình thành Hình thành từ một
vụ sáp nhập lớn nhất
Tập đoàn tài chính
BNP-Paribas có trụ
sở tại Pháp từ năm
2000.
Sự gia tăng vốn và
mở rộng chi nhánh
ngân hàng khắp khu
vực Châu Á từ năm
2005 đã phát triển
DBS thành tập đoàn
tài chính – ngân
hàng hàng đầu Châu
Á.
Tài sản:
$332.600.000.000
Việc mua lại toàn bộ
cổ phần của Ngân
hàng Paribas để
hình thành nên Tập
đoàn tài chính hàng
đầu
của
Pháp
(2000).
Sản phẩm
Hình thành 4 nhóm
Tài sản: Euro
1.965.000.000.000
Với Ngân hàng mẹ
là trung tâm cùng
các chi nhánh và
công ty con trên
khắp nước Pháp và
90 chi nhánh ở nước
ngoài tại nhiều quốc
gia trên thế giới.
Phát triển, đa dạng
hóa các sản phẩm
trong lĩnh vực tín
dụng ngân hàng,
quản lý tài sản, môi
giới chứng khoán,
phát triển quản lý
quỹ tại Singapore và
Hồng Kông.
12
Cơ chế quản lý
hàng đầu tư và tín
dụng doanh nghiệp.
Khối quản lý tài sản
toàn cầu.
Quản lý thống nhất Quản lý theo mô
mại hoặc đầu tư) hay từ công ty bảo hiểm. Sau khi phát triển đến độ cần thiết, các ngân
hàng đều vươn ra hoạt động đa năng và hướng ra toàn cầu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy có rất nhiều hướng đi để một ngân hàng có thể phát
triển thành một tập đoàn tài chính:
-
Một NHTM có thể tự xây dựng thành một tập đoàn tài chính nếu có đủ điều kiện.
Cũng có thể hợp nhất một số NHTM để trở thành tập đoàn tài chính.
Thông qua cổ phần hoá những NHTM Nhà nước mà Nhà nước cho phép hoặc liên doanh.
Hợp nhất, thậm chí sát nhập một vài NHTM với nhau qua đó, cơ cấu sở hữu thay đổi tạo
-
cơ sở pháp lý cho sự thay đổi cơ cấu tổ chức trong các NHTM.
Hợp nhất giữa NHTM và công ty bảo hiểm để tạo ra những tập đoàn tài chính lớn hơn.
Thứ hai, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của tập đoàn tài chính khá lớn và chiếm tỷ lệ lớn
trong GDP.
Hầu hết các tập đoàn tài chính trên thế giới đều có tổng tài sản và vốn chủ sở hữu
khá lớn. Riêng Citigroup – tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới đã có tổng tài sản năm
13
2004 là 1.484.1001 triệu USD, vốn chủ sở hữu là 74.415 triệu USD, với tỉ trọng dịch vụ
trên GDP là 75%. HSBC Holdings, tuy đứng thứ ba, nhưng thật sự không kém xa so với
Citigroup với tổng tài sản là 1.276.778 triệu USD với vốn chủ sở hữu là 67.259 triệu
USD, chiếm 72% GDP. Ở một số nước Châu Á, tỷ lệ đóng góp của tổng tài sản và vốn
chủ sở hữu trên GDP khá lớn: Trung Quốc 31% và 2,1%; Hàn Quốc 26 và 1,1%;
Malaysia 40% và 2,7%; Singapore 102% và 6,8%; Thái Lan 22% và 1,5%.
Thứ ba, cơ cấu tổ chức phức tạp.
Cơ cấu của tập đoàn tài chính thường bao gồm có bộ phận kinh doanh và bộ phận
-
khoán sẽ tăng trưởng trở lên trong tương lai.
Với dân số cao, và quá trình đô thị hóa nhanh chóng với số dân thành thị tăng nhanh, điều
đó mở ra cơ hội khai thác tiềm năng thị trường đáng kể trong lĩnh vực ngân hàng và dịch
-
vụ tài chính của Việt Nam.
Hệ thống NHTM Việt Nam đã và đang phát triển hoạt động theo chiều ngang với các
công ty con thành viên trực thuộc ngân hàng mẹ. Hầu hết các NHTM Nhà nước đang sở
-
hữu các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư, công ty leasing…
Các đối tác chiến lược nước ngoài của ngân hàng sẽ hỗ trợ kinh nghiệm quản trị điều
-
hành những mảng lĩnh vực kinh doanh chủ chốt, tạo điều kiện phát triển tập đoàn.
Khó khăn:
Hạn chế từ yếu tố pháp lý
Một trong những hạn chế khách quan là sự hạn chế xuất phát từ các yếu tố pháp lý
hay sự thừa nhận của pháp luật. Chính phủ nhiều lần kêu gọi các ngành kinh tế cơ bản
hình thành nhiều tập đoàn, yêu cầu các NHTM, nòng cốt là các NHTM nhà nước phát
triển thành các tập đoàn tài chính – ngân hàng vững mạnh, đủ sức cạnh tranh với các tập
đoàn tài chính – ngân hàng khác trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên cho đến hiện
tại vẫn chưa có quy chế chính thức về việc quy định cơ cấu, tổ chức tập đoàn tài chính –
ngân hàng. Nhà nước vẫn chưa ban hành bất kỳ văn bản hay hướng dẫn nào để khái niệm
hoặc đề xuất về tập đoàn tài chính – ngân hàng, vì vậy gần như các NHTM CP dù có định
Hạn chế về năng lực tài chính của các NHTM
Với quy mô vốn nhỏ, mức vốn tự có trung bình của một NHTM CP khoảng 5.000 –
10.000 tỷ đồng, tức tương đương khoảng 500 triệu USD. Tổng số vốn điều lệ của hệ
thống NHTM CP tại thành phố Hồ Chí Minh tương đương 8 tỷ USD, trong khi đó riêng
Maybank của Malaysia có vốn khoảng 4 tỷ USD, Bangkok Thái Lan khoảng 9 tỷ USD
hay ngân hàng DBS của Singapore cũng hơn 9 tỷ USD. Nếu xét theo tổng tài sản thì tổng
tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam trên GDP chỉ khoảng 70%, thấp xa so với Thái
Lan (145,8%), Malaysia (193,5%) và chỉ bằng 1/3 của Trung Quốc (211,1%). Khi đó,
nếu lấy NHTM làm hạt nhân nòng cốt thì khi hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng,
khả năng vốn tự có của cả tập đoàn cộng lại vẫn chưa thể đủ sức cạnh tranh với các tập
đoàn tài chính - ngân hàng trong khu vực.
-
Hạn chế về sản phẩm dịch vụ ngân hàng
16
So với trước đây, hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng hàng ngày càng tăng cả
chất lượng lẫn số lượng nhưng chưa thể so sánh với sản phẩm dịch vụ của các nước trong
khu vực và các nước phát triển khác.
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn nặng về hình thức giao dịch, rườm rà thủ tục là
điểm yếu của các NHTM CP hiện nay. Về số lượng thì một số ngân hàng lớn như ACB,
Sacombank chỉ có hơn 100 sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa truyền thống vẫn chỉ có hơn
100 sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa truyền thống lẫn phái sinh. Với số lượng như vậy
vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước cũng như khả năng để cạnh tranh với ngân hàng
nước ngoài, vì bản thân các ngân hàng này có đến hơn 1.000 sản phẩm dịch vụ khác
nhau.
Các ngân hàng trong nước chưa có sự liên kết chặt chẽ trong việc cung ứng các sản
đoàn tài chính – ngân hàng. Tuy nhiên, việc hình thành Tập đoàn tài chính – ngân hàng là
xu thế tất yếu trong chu trình phát triển kinh tế hiện nay. Do đó, cần các biện pháp để
khắc phục các hạn chế nhằm hình thành các tiền đề hướng đến mục tiêu đạt được các đặc
trưng của một Tập đoàn tài chính – ngân hàng. Khi đó, tại Việt Nam sẽ đủ điều kiện để
thành lập một Tập đoàn tài chính – ngân hàng có khả năng sánh ngang với các nước trong
khu vực.
-
Tăng cường năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam: Tăng vốn một cách an toàn
hiệu quả.
Nhu cầu tăng vốn là điều kiện tất yếu trong xu thế phát triển hiện đại. Bên cạnh việc
tăng vốn nhằm đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế và khả năng tài chính để tham gia các mặt
hoạt động tài chính quốc tế. Thì việc tăng vốn sẽ hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của
ngân hàng. Tuy nhiên, cần thận trọng trong quá trình tăng vốn nhằm đảm bảo an toàn
vốn.
-
Tăng cường phát triển Hệ thống mạng lưới và hợp tác quốc tế:
Tăng cường mở rộng mạng lưới thông qua mở rộng hoạt động trong các lĩnh vực
mới: Bảo hiểm, quản lý quỹ, dịch vụ tài chính,… Bên cạnh đó, mở rộng mạng lưới ra khu
vực, tăng cường sức ảnh hưởng trong khu vực. Lợi dụng những lợi thế đã có cùng nắm
bắt cơ hội từ quá trình mở cửa và hội nhập là những bước đi cơ bản trong việc mở rộng
mạng lưới.
Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế là điều cần thiết trong giai đoạn này. Bên
cạnh việc tận dụng nguồn vốn mà trên hết là học hỏi nhằm tiếp thu kinh nghiệm từ các
18
Tập đoàn lớn trên thế giới. Từ đó, rút ra kinh nghiệm cho bản thân cho con đường tiến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Iman Van Lelyveld and Arnold Schilder, 11-2002, p. 4-5, “Risk in financial
Conglomerate: Management and Supervision”.
-
TS. Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, NHNN, “Định
hướng phát triển khu vực ngân hàng đến năm 2020”.
-
Kuhara Masaharu, p.7-8, “US and Europe Financial Conglomerate Organizations and
their Implications for Japan and Orther Large Diversified Financial Firms in Asia”.
-
Iman Van Lelyveld and Arnold Schilder, 11-2002, p. 7-9, “Risk in financial
Conglomerate: Management and Supervision”.
-
THS. Bùi Thanh lam, 2012, “Mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng: Từ thế giới đến
Việt Nam”.
-